CLICK HERE FOR THOUSANDS OF FREE BLOGGER TEMPLATES »
“Hỡi anh em, ta hãy trung tín cùng Đức Chúa Trời cho đến chết ; cho đến chết, không một điều gì có thể dập tắt lòng thương mến Chúa Giêsu Kitô trong trái tim ta" (Những lời sau cùng của Chân Phước Anrê Phú Yên)

31.5.10

DẪN NHẬP THÁNH KINH

HƯỚNG DẪN CHỦNG SINH VÀ TU SINH

Bài 1. THÁNH KINH LÀ GÌ ?

I. TỪ NGỮ.

1. Chữ Hán Việt.

Kinh có nghĩa là “ sách ” . Nhưng không phải là sách bình thường, mà là sách đặc biệt viết những điều quan trọng hướng dẫn cuộc sống và niềm tin của người đọc. Theo nghĩa này, những sách căn bản của một Tôn giáo hoặc một triết thuyết được gọi là Kinh. Ví dụ: Kinh Coran của Hồi Giáo, Kinh Veda của Ấn Độ Giáo, Ngũ Kinh của triết học Khổng Tử,...

Bởi vì những kinh của các tôn giáo có tính chất tín ngưỡng quan trọng, nên chúng có thể mang thêm tính từ Thánh: Thánh Kinh.

Về mặt văn phạm, hai chữ Kinh và Thánh đều là những từ Hán Việt. Nếu muốn đúng theo văn phạm Hán Việt thì phải đặt tính từ “ Thánh ” trước danh từ “ Kinh ” . Vì thế, nói Thánh Kinh thì đúng văn phạm hơn là nói Kinh Thánh. Còn nếu ta muốn nói theo tiếng Việt thì có thể nói Sách Thánh.

Bộ sách căn bản của Do Thái Giáo và Kìtô Giáo thì cũng được gọi là Thánh Kinh.

2. Chữ Hy lạp.

Thực ra, chữ Hán Việt “ Thánh Kinh ” là dịch từ chữ Hy lạp “ Ta Biblia ” . “ Ta ” nghĩa là “ những ” (số nhiều); “ Biblia ” nghĩa là “ sách ” . Vậy “ Ta Biblia ” nghĩa là “ những sách ” .

Danh từ Hy lạp ở số nhiều như thế, vì Thánh Kinh không phải là một quyển sách nhưng là một bộ sách gồm rất nhiều quyển thuộc rất nhiều thể loại, được viết bởi nhiều tác giả và vào nhiều thời điểm khác nhau.

II. CHIA PHẦN.

Những quyển sách trong bộ Thánh Kinh được chia làm hai phần:

Phần đầu gồm những quyển viết về những điều đã xảy ra từ thuở khai thiên lập địa cho đến trước lúc Đức Giêsu xuất hiện. Phần này gồm 46 quyển (có người chỉ tính 45 quyển thôi, lý do sẽ nói sau). Vì trọng tâm của phần này là Giao Ước Cũ mà Thiên Chúa đã thiết lập với loài người qua trung gian ông Môsê trên núi Sinai, nên phần này được gọi là Cựu Giao Ước, hoặc nói vắn tắt là Cựu Ước.

Phần sau gồm những quyển viết những điều từ lúc Đức Giêsu xuất hiện cho đến thời Giáo Hội sơ khai. Phần này gồm 27 quyển. Vì trọng tâm của phần này là Giao Ước Mới mà Thiên Chúa đã ký kết với loài người qua trung gian của Đức Giêsu, nên phần này được gọi là Tân Giao Ước, hoặc nói vắn tắt là Tân Ước.

Nếu chia phần nhỏ hơn nữa thì:
Cựu Ước lại chia làm bốn loại:
Ngũ Thư.
Các sách Lịch sử.
Các sách Thi ca và Minh triết.
Các sách Ngôn sứ.
Tân Ước cũng chia làm bốn loại:
Các sách Tin Mừng (4 quyển).
Sách Công Vụ Tông Đồ (1 quyển).
Các thư (21 bức).
Sách Khải Huyền (1 quyển).

III. LIÊN HỆ GIỮA HAI PHẦN

Tuy bộ Thánh Kinh được chia làm hai phần như nói trên, nhưng hai phần này có liên hệ chặt chẽ với nhau. Ngay từ thế kỷ III, Thánh Irênê (+202) đã tin rằng: “ Chính cùng một Thánh Linh Thiên Chúa nơi các Ngôn sứ (Cựu Ước) đã loan tin Chúa đến... và nơi các Tông Đồ (Tân Ước) đã loan báo Nước Thiên Chúa gần kề ” . Và Công Đồng Vaticanô cũng viết: “ Các sách Cựu Ước vẫn được sử dụng trọn vẹn trong sứ điệp Tin Mừng, đạt được và bày tỏ đầy đủ ý nghĩa trong Tân Ước ”
(Dei Verbum, số16).

Một vài ví dụ:

Tân Ước gọi Đức Giêsu là Mục Tử (Ga 10,11), Cây Nho (Ga 15), Con Chiên (Ga 1,29) ... Chúng ta sẽ không thể hiểu được những kiểu nói đó nếu không nhờ Cựu Ước soi sáng.

Vì hai phần này có liên hệ chặt chẽ với nhau, nên Tân Ước trích dẫn Cựu Ước rất nhiều: 293 lần trích dẫn minh nhiên.


Bài 2. THƯ QUI

I. VẤN ĐỀ.

Có chuyện kể rằng khi ông Gioakim muốn kén rể cho con gái mình là Maria thì ông đã thông báo cho các chàng trai mỗi người mang một cậy gậy đến, hễ gậy của ai trổ hoa thì người đó sẽ được làm chồng của Maria. Nhiều chàng trai đã mang gậy đến nhưng chỉ có gậy của Giuse trổ hoa, cho nên Giuse được chọn. Nhiều người nghe kể chuyện này nhưng không tin vì cho rằng chuyện này không thuộc về Thánh Kinh, mà là “ ngụy thư ” .

Nhưng tín đồ Do thái giáo, Tin lành và Công giáo đều tin Thánh Kinh. Nhưng có khi tín đồ của đạo này trưng dẫn một câu, một đoạn từ bộ Thánh Kinh của mình thì tín đồ của đạo kia không tin vì cho rằng nó không thuộc về Thánh Kinh mà là ngụy thư.

Như thế là có một số chuyện tuy cũng có tính cách “ Thánh ” nhưng không được chọn vào Thánh Kinh. Tại sao? Và có những đoạn, những sách mà tín đồ của tôn giáo này tin vì có trong bộ Thánh Kinh của họ nhưng tín đồ của tôn giáo khác lại không tin vì không có trong bộ Thánh Kinh của họ. Tại sao? Chúng ta sẽ giải đáp được những vấn đề trên sau khi hiểu được Thư Qui.

II. THƯ QUI LÀ GÌ?

Trong bất cứ tôn giáo nào cũng có nhiều người viết nhiều sách về tôn giáo. Nhưng cũng có những người và những sách viết cách nghiêm chỉnh nên đáng được tin theo. Bên cạnh đó cũng có những người và những sách viết không nghiêm chỉnh nên không đáng tin. Bởi thế những vị hữu trách của tôn giáo phải nghiên cứu và chọn lựa: chọn những sách nghiêm chỉnh và công nhận chúng là Sách Thánh để cho tín đồ đọc và tin theo; đồng thời, loại bỏ những sách không nghiêm chỉnh, không coi chúng là Sách Thánh.

Việc chọn lọc này tiếng Hy lạp gọi là Canon. Nghĩa đầu tiên của chữ này là: qui luật, qui định.

Trong vấn đề chúng ta đang bàn, đây là qui định xem sách nào viết nghiêm chỉnh và đáng làm mẫu mực cho Đức tin. Cho nên ta gọi là Thư Qui, nghĩa là qui định về sách (có người dịch chữ Canon kiểu khác nữa, như: Qui điển, Kinh bộ...).

III. LỊCH SỬ CÁC THƯ QUI.

1. Thư QuI Do Thái Giáo.

Ban đầu Do Thái không quan tâm lập thư qui. Biến cố thúc đẩy họ làm việc này là thành Giêrusalem thất thủ vào tay quân Rôma năm 70. Khi đó tất cả các phe nhóm trong xã hội Do Thái như: Sađóc, Essêni, Cuồng nhiệt... đều tan rã. Chỉ còn lại những người biệt phái. Họ chạy về tập họp tại Jamnia, một thành phố ven bờ Điạ Trung Hải. Họ đã họp nhau nhận định những nguyên do nào đã khiến đất nước rơi vào tay quân thù; đồng thời, tìm biện pháp để cứu vãn tinh thần tín ngưỡng và dân tộc. Theo họ nhận định, một trong những nguyên nhân đưa đến mất nước là sự thiếu
đoàn kết, nhất là trong việc chọn Sách Thánh. Vì thế họ đã cùng nhau lựa lọc những sách tôn giáo hiện hành rồi định ra một danh sách những quyển nào mà họ cho là Sách Thánh. Trong số các tiêu chuẩn để chọn lựa, có hai tiêu chuẩn sau:

Một là nội dung đáng tin cậy.
Hai là sách viết bằng chữ Hy-pri.
Kết quả là họ đưa ra một thư qui gồm 38 quyển như sau:
5 quyển của bộ Ngũ Kinh (Sáng thế, Xuất hành, Lêvi, Dân số, Đệ nhị Luật).
Toàn bộ các sách Ngôn sứ.
Một số sách Lịch sử, Thi ca và Minh triết.

Thư qui này được những người Do Thái sống trong lãnh thổ Palestina nhìn nhận, nên được gọi là Thư qui Palestina, chỉ toàn những sách viết bằng chữ Hy-pri.

Nhưng cũng có nhiều tín đồ Do thái sống ở nước ngoài, theo văn hóa Hy lạp. Những người này cũng họp nhau lại tại thành phố Alexandria ở Ai cập và định ra một thư qui khác gồm những sách của Thư qui Palestina, nhưng thêm một số sách viết bằng tiếng Hy lạp nữa. Đó là:

Giuđitha.
Tôbia.
và 4. Hai quyển Macabê.
Khôn ngoan.
Huấn ca.
(và 8 ) Barúc và các thư của Giêrêmia (nhiều người coi hai quyển này là một).
Và một vài đoạn viết bằng chữ Hy lạp trong sách Étte.

Như vậy, thư qui này có thêm 7 (hoặc 8) quyển nữa, tổng cộng là 45 (hoặc 46) quyển. Tất cả đều là Cựu Ước. Vì thư qui này được lập tại Alexandria , nên được gọi là Thư Qui Alexandria.

2. Thư Qui Kitô Giáo.

Phần Cựu Ước.
Người Do thái đã lập Thư qui Cựu Ước. Người Kitô giáo chỉ cần chọn theo thư qui nào trong hai thư qui của Do thái giáo.
Công giáo chọn theo Thư qui của Alexandra.
Tin lành chọn theo Thư qui của Palestina.
Phần Tân Ước.

Trong hai thế kỷ đầu, số sách Kitô giáo được viết rất nhiều, do nhiều hoàn cảnh thúc đẩy:

Bắt bớ: Trong những thế kỷ đầu, Kitô giáo bị bắt bằng nhiều hình thức. Ngoài việc nhà cầm quyền giam cầm, tra tấn và giết hại các Kitô hữu; những người trí thức ngoại giáo còn vu khống Kitô giáo đủ điều, chẳng hạn: đó là một thứ dị đoan mê tín, một nếp sống phi luân lý, một mối nguy hiểm cho quốc gia... Để tự biện hộ, các Kitô hữu cũng phải viết. Chẳng hạn, quyển “ Biện giáo ” của thánh Justinô, quyển “ Đối thoại với Tryphon ” , quyển “ Cuộc tử đạo của Pôlycarpô ” , “ Những bức thư của Inhaxiô thành Antiôkia ” ...

Tổ chức: Những thế kỷ đầu cũng là thời kỳ Giáo Hội lo tổ chức sinh hoạt nội bộ. Nhiều tác phẩm được viết để đưa ra những chỉ dẫn hoặc trả lời những thắc mắc của những người phụ trách giáo đoàn. Ví dụ: sách Didachè (còn gọi là “ Những chỉ dẫn của các Tông đồ ” ), “ Thư của Clêmentê thành Rôma gởi các tín hữu Côrintô ” ...

Bùng nổ. Thời đó cũng sinh ra nhiều phong trào, nhiều nhóm theo nhiều quan điểm thần học khác nhau. Các nhóm viết sách để vừa phổ biến lập trường của nhóm mình, vừa công kích những nhóm khác. Và để có thế giá, họ hay mượn tên những vị có thế giá trong Giáo Hội để đề tên lên tác phẩm của họ. Chẳng hạn: “ Tin Mừng theo thánh Phêrô ” , “ Tin Mừng theo thánh Tôma ” ...

Do ba hoàn cảnh trên, các sách Kitô giáo (và lạc thuyết) của thế kỷ 1 và 2 nở rộ. Đến một lúc nào đó, Giáo Hội thấy cần phải nghiên cứu để chọn ra những sách nào xứng đáng làm mẫu mực cho Đức tin và coi chúng là Sách Thánh, đồng thời loại bỏ những sách không nghiêm chỉnh (những ngụy thư). Kết quả là Giáo Hội đã công nhận 27 quyển sau đây:

4 quyển Tin Mừng của Matthêu, Marcô, Luca và Gioan.

Quyển Công Vụ Tông Đồ.

21 thư của những vị lãnh đạo giáo đoàn.
Sách Khải Huyền của thánh Gioan Tông đồ.
Thư qui Tân Ước này được tất cả mọi Kitô hữu cả Công giáo lẫn Chính thống, Tin lành và Anh giáo chấp nhận.

(Xin xem thêm các trích đoạn ngụy thư trong “ Lịch sử các sách Phúc Âm ” , trang 77.81.83).

IV. THÁNH KINH CÔNG GIÁO VÀ TIN LÀNH.

1. Tóm lại về Thư qui.
Phía Công giáo nhìn nhận:
Cựu Ước theo Thư qui Alexandria nghĩa là gồm 45 (hay 46) quyển.
Tân Ước gồm 27 quyển.

Phía Tin lành:
Cựu Ước theo Thư qui Palestina chỉ có 37 (hay 38) quyển.
Tân Ước cũng như Công giáo gồm 27 quyển.

2. Nhưng ngoài khác biệt về số lượng sách, còn 1 khác biệt quan trọng hơn, đó là về tương quan giữa quyền của Giáo Hội và việc giải thích Thánh Kinh:

Phía Công giáo quan niệm việc giải thích Thánh Kinh phải ở dưới quyền Giáo Hội. Dei verbum, số 12, viết: “ Mọi điều liên hệ đến việc giải thích Thánh Kinh cuối cùng đều phải tùy thuộc vào quyền phán quyết của Giáo Hội, vì Giáo Hội được Chúa giao cho sứ mệnh và chức vụ gìn giữ và giải thích Lời Chúa ” .

Phía Tin lành ngược lại, đặt việc giải thích Thánh Kinh trên quyền Giáo Hội: “ Giáo Hội phải ở dưới quyền của Thánh Kinh... Giáo Hội không phải là người giải thích tối hậu Thánh Kinh, mà phải để cho Lời Chúa hướng dẫn ” . (Những suy nghĩ và đề nghị của Ủy Ban hỗn hợp Công giáo và Tin Lành nước Pháp, năm 1986).

3. Do sự khác biệt này nên những ấn bản Thánh Kinh của Công giáo thường có in thêm những lời chú thích, còn của Tin lành chỉ in nguyên văn Thánh Kinh thôi (phần giải thích tùy mỗi cá nhân).

4. Nhưng gần đây, tất cả các Giáo Hội Kitô thuộc phần thế giới nói tiếng Pháp (Công giáo, Tin lành, Chính thống) đã hợp tác để dịch và in một bộ Thánh Kinh chung được đặt tên là TOB (Traduction Oecuménique de la Bible - Bản dịch Thánh Kinh đại kết). Để dung hòa những khác biệt, ấn bản này đã thu xếp như sau:

Về các sách: những sách nào được tất cả công nhận thì in ở phần đầu; những sách không được nhất trí công nhận thì cũng in nhưng in ở phần sau.

Về các chú thích: cũng in nhưng chỉ in những chú thích nào được tất cả mọi phía nhất trí.

Bài 3. LINH ỨNG.

I. VẤN ĐỀ.

Mặc dù các Giáo Hội không nhìn nhận số lượng sách Thánh Kinh như nhau, nhưng khi đã nhìn nhận quyển nào là Sách Thánh thì Giáo Hội cũng tin những gì viết trong đó vì coi đó là do Thiên Chúa linh ứng.

II. LINH ỨNG LÀ GÌ.

Linh ứng là việc Thánh Linh soi sáng và hướng dẫn để người ta viết Sách Thánh đúng theo ý Chúa.

Chính Thánh Kinh cũng nói về linh ứng:

Thánh Phêrô: “ Vì không bao giờ một lời Ngôn sứ lại do ý người phàm nói, nhưng chính vì được ơn thúc đẩy của Thánh Linh nên mới có người nói nhân danh Chúa ” (1 Pr 1,21).

Thánh Phaolô: “ Mọi Sách Thánh đều do Thiên Chúa linh ứng nên có thể dùng để giáo huấn, luận phi, điều chỉnh và rèn luyện theo đường công chính ” (2 Tm 3,16).

Như thế là có hai tác giả: tác giả Chúa và tác giả con người. Hai tác giả ấy hợp tác để viết ra Sách Thánh. Nhưng hợp tác thế nào ? Thánh Giêrôm dùng một hình ảnh so sánh: tác giả người giống như cái ống sáo, tác giả Chúa là người thổi sáo. Thực ra, hình ảnh này đúng, nhưng không chính xác lắm vì coi tác giả người thụ động quá. Có một hình ảnh khác khá hơn: tác giả người là viên bí thư còn tác giả Chúa là ông Giám đốc. Khi cần viết một văn kiện, ông Giám đốc chỉ cần đưa ra những ý chính, rồi viên bí thư sẽ liệu dùng những lời lẽ và bút pháp để viết ra văn kiện đó.

Sau đây là liệt kê những khâu trong việc viết một quyển Sách Thánh để nhận định phần nào do ai:

Ý tưởng: do Thánh Linh soi sáng.

Tìm cách viết ra ý tưởng (chọn từ ngữ, bút pháp, văn thể, hình ảnh...): do con người cùng với sự hướng dẫn của Thánh Linh.

Tác phẩm ban đầu còn có thể sau đó được nhiều người khác sắp xếp lại, thêm bớt, sửa chữa...: do con người cùng với sự hướng dẫn của Thánh Linh.

Kết quả cuối cùng là những quyển sách chứa đựng mạc khải của Thiên Chúa.

Ngày trước, người ta rất ngây thơ, chỉ thấy phần của tác giả Chúa nên nói “ Thánh Kinh là lời của Thiên Chúa ” và tin tưởng cách mù quáng vào từng lời trong Thánh Kinh. Ngày nay, có một số người quá đa nghi, chỉ nhìn thấy phần của tác giả người nên nói “ Thánh Kinh là lời của con người ” và không tin Thánh Kinh. Thái độ đúng đắn là phải nhìn thấy cả hai phía, nghĩa là phải biết rằng: “ Thánh Kinh là lời của Thiên Chúa được diễn tả qua ngôn ngữ và loài người ” . Do đó, khi học Thánh Kinh, ta vừa phải khảo sát một tác phẩm đời, vừa phải trân trọng và tin tưởng vì đó chính là Lời của Chúa.

III. THÁNH KINH CÓ SAI LẦM KHÔNG ?

Có thể có hai câu trả lời:
Thưa không, vì Thánh Kinh là Lời của Thiên Chúa.
Thưa có, vì Thánh Kinh là lời của con người.
Nhưng cả hai đều sai vì mỗi câu trả lời trên chỉ thấy được một khía cạnh của vấn đề.

Câu trả lời đúng phải như sau: Thánh Kinh không bao giờ sai lầm trong những chân lý mà Thiên Chúa mạc khải, nhưng có thể sai lầm trong cách viết của con người.

Những điều không sai lầm và những điều có thể sai:

Trong Thánh Kinh, Thiên Chúa muốn mạc khải những chân lý về đức tin và luân lý. Vì thế, Thiên Chúa bảo đảm cho những chân lý ấy không bao giờ sai lầm.

Cách dùng chữ, những hình ảnh diễn tả... là phần của con người nên cũng bị ảnh hưởng bởi khả năng hạn chế của con người, và cũng bị ảnh hưởng bởi môi trường và thời đại của tác giả người, do đó có thể sai lầm.

IV. NHỮNG THỨ Ý NGHĨA CỦA THÁNH KINH.

1. Nghĩa chữ: là thứ ý nghĩa nằm trong chữ viết, gồm 2 loại:

Nghĩa đen: viết sao hiểu vậy. Ví dụ, viết “ trái tim ” thì hiểu là “ trái tim ” .

Nghĩa bóng: viết đơn giản nhưng phải hiểu sâu xa hơn. Ví dụ, viết "trái tim" nhưng phải hiểu là “ tình yêu ” .

2. Nghĩa thiêng liêng.

Đây là ý nghĩa Thiên Chúa muốn đặt cho một đoạn Thánh Kinh. Ý nghĩa này không nhất thiết tác giả người và độc giả đương thời của ông nhận ra, nhưng về sau Thiên Chúa sẽ cho người ta nhận ra. Ví dụ, đoạn văn Xuất hành viết chuyện Thiên Chúa cứu dân Do thái khỏi Ai cập. Tác giả người và độc giả đương thời của ông chỉ hiểu được nghĩa chữ nên xem đây là ơn riêng của Thiên Chúa ban cho dân Do thái. Nhưng ngày nay chúng ta hiểu thêm rằng đó là biểu tượng của mọi ơn cứu thoát mà Thiên Chúa thực hiện.

3. Nghĩa mô hình.

Mô hình là một sự kiện hoặc một nhân vật báo trước một sự kiện hoặc một nhân vật khác trong tương lai. Sự kiện hoặc nhân vật trong tương lai ấy được gọi là Phản hình.

Ví dụ: Vua Đavít là mô hình của Đấng Mêssia (Đấng Mêssia là phản hình của Đavít). Bà Giuđitha và bà Étte là mô hình của Đức Maria.

4. Nghĩa ứng dụng.

Là ý nghĩa hoàn toàn không có trong tư tưởng của tác giả, nhưng do người đọc suy ra từ bản văn. Khoa Thánh Kinh không quan tâm tới ý nghĩa này, nhưng việc đạo đức có thể dùng ý nghĩa này một cách rất ích lợi.

Ví dụ: ĐGH Gioan Phaolô II đã suy gẫm bài Tin Mừng Luca về đứa con đi hoang để rút ra những ý nghĩa ứng dụng rất hay về tội lỗi và ơn tha thứ.

Bài Thực Tập

Tìm những ý nghĩa trong đoạn Tin Mừng Mt 12,33-42
33. Hễ cây lành thì quả nó lành (chữ, đen)
Hễ cây độc thì quả nó độc (chữ, đen)
Vì xem quả liền rõ được cây (chữ, đen)
34. Nòi rắn lục kia (chữ, bóng)
Các ngươi là người độc ác (chữ, đen)
35. Người tốt lành từ trong kho vốn
tốt cứ đưa ra những của tốt. Còn
người xấu từ trong kho vốn xấu cứ
đưa ra những của xấu xa (chữ, bóng)
39. .... ngôn sứ Giona (mô hình của Đức Giêsu)
41. .... dân Ninivê (mô hình của những kẻ biết ăn năn)
42. .... nữ hoàng phương Nam (mô hình của những kẻ lắng nghe Lời Chúa) .... vua Salomon (mô hình của Đức Giêsu)

Chi tiết Giona ở trong bụng cá 3 ngày: tác giả Cựu Ước không hiểu đó là biểu tượng việc Đức Giêsu chết và sống lại. Thánh Matthêu hiểu thêm nghĩa đó: đó là nghĩa thiêng liêng. “ Hễ cây lành thì sinh quả lành, hễ cây độc thì quả nó độc ” . Nghĩa đen là nói về cây trái, nghĩa bóng là nói về lòng người và những lời nói việc làm của người đó. Có thể suy ra nghĩa ứng dụng: cha mẹ thế nào thì con cái thế đó.


Bài 4. VĂN THỂ

I. VẤN ĐỀ.

Qua bài trước chúng ta đã biết Thánh Kinh có hai tác giả: tác giả Chúa soi sáng, tác giả người vận dụng khả năng của mình để viết ra tác phẩm đúng ý Chúa.

Tác giả người dùng khả năng của mình trong cách lựa chọn từ ngữ, hình ảnh, bút pháp và văn thể. Bài này sẽ nói riêng về văn thể.

II. TẦM QUAN TRỌNG CỦA VĂN THỂ.

Có thể mô tả văn thể như những cái khung có sẵn mà tác giả dùng để diễn tả các ý tưởng. Mỗi văn thể là một cái khung với những qui ước định sẵn về bố cục, hình ảnh, cách khai triển ý tưởng...

Ta hãy lấy ví dụ nơi văn chương đời: Một câu chuyện viết theo văn thể “Cổ tích” thì luôn luôn khởi đầu bằng “ Ngày xửa ngày xưa ” và kết thúc là kẻ hiền gặp lành và kẻ ác gặp dữ.

Một câu chuyện viết theo văn thể “ ngụ ngôn ” thì tuy muốn nói về con người nhưng lại dùng các con vật để diễn tả.

Văn thể “ khảo luận ” đòi hỏi phải dùng từ một cách cẩn thận và chính xác.

Xác định văn thể là một điều hết sức quan trọng để hiểu đúng ý của tác giả. Thật là ngây ngô nếu ta đọc một bài ngụ ngôn mà lại hiểu theo kiểu một bài khảo luận. Thật là sai lầm nếu ta đọc một bài khảo luận mà lại hiểu theo kiểu một chuyện tiếu lâm.

III. VÀI VĂN THỂ THƯỜNG GẶP TRONG THÁNH KINH.

1. Dụ ngôn và Ẩn dụ.

Cả hai đều là so sánh. Nhưng trong dụ ngôn (parabole), so sánh là giữa toàn thể câu chuyện với ý tưởng hoặc bài học mà tác giả muốn đưa ra; còn trong ẩn dụ (allégorie), so sánh là giữa từng chi tiết của câu chuyện với từng chi tiết của bài học mà tác giả muốn đưa ra.

Ví dụ: Chuyện Lazarô và người phú hộ (Lc 16,19-31) là một dụ ngôn để đưa ra bài học là sẽ có sự thay đổi số phận từ đời này sang đời sau, vì thế phải biết sử dụng của cải đời này để mua lấy kho tàng đời sau.

Chuyện người gieo giống (Mt 13,3-9) là một ẩn dụ với từng chi tiết đều mang ý nghĩa so sánh (chính Đức Giêsu giải thích ý nghĩa các chi tiết ấy sau đó ở Mt 13,19-23).

Nếu ta lầm lẫn tưởng chuyện Lazarô là một ngụ ngôn thì sẽ tốn rất nhiều công sức để giải thích từng chi tiết (như áo gấm của người phú hộ là gì, ghẻ lở của Lazarô là gì, con chó là gì...). Mà dù có cố gắng thì cũng chẳng tìm được ý nghĩa của các chi tiết đó. Tìm không được mà cứ cố gắng gán ý nghĩa cho các chi tiết thì sẽ thành gượng ép và lố bịch.

Ngược lại nếu ta lầm tưởng chuyện người gieo giống là một dụ ngôn để rồi không đi tìm ý nghĩa từng chi tiết thì sẽ bỏ sót rất nhiều điểm quan trọng.

Bài tập

Xác định những đoạn sau đây là dụ ngôn hay ẩn dụ:
- Lúa và cỏ lùng Mt 13,24-30
- Hạt cải Mt 13,31-32
- Men bột Mt 13,33.

2. Văn thể Truyền tin

Cái khung của văn thể này gồm 5 phần chính:
Giới thiệu sứ giả và người nhận sứ điệp.

Sứ điệp.

Thắc mắc của người nhận sứ điệp.
Sứ giả giải đáp thắc mắc ấy.
Sứ giả cho một dấu chỉ để củng cố niềm tin.

Ví dụ: Chuyện truyền tin cho Giacaria (Lc 1,5-20). Chi tiết Giacaria bị câm là một dấu chỉ rằng Thiên Chúa quyền phép muốn làm gì cũng được. Ý nghĩa dấu chỉ này mới là chính, còn ý nghĩa ông bị phạt chỉ là phụ.

Bài tập.

Nhận diện 5 yếu tố trong những chuyện sau đây:
a. Chuyện Ghêđêon Tl 6,11-24
b. Chuyện Giêrêmia Gr 1,5-10
c. Chuyện Môsê Xh 3,1-4,15
d. Chuyện Maria Lc 1,26-38
e. Chuyện Giuse Mt 1,19-25

3. Văn thể Kêu gọi.

Những đoạn viết theo văn thể này rất ngắn, vì tác giả không chú ý mô tả các chi tiết cũng như diễn biến tâm lý trong tâm trạng của người được Chúa gọi. Tác giả chỉ nói tóm lược những điểm cốt yếu nhất của ơn gọi. Đó là Chúa đã gọi người nào đó; và người đó đã dứt khoát và mau mắn đáp lại tiếng Chúa gọi.

Ví dụ: So sánh Mt 5,18-22 (văn thể kêu gọi) với
Ga 2,35-39 (không phải văn thể kêu gọi).

4. Văn thể Gia phả.

Người Do thái quan tâm đến gia phả nhiều hơn người Việt Nam . Hầu như mọi người Do thái, kể cả những người bình dân, đều có gia phả. Họ cần có gia phả để chứng minh mình thuộc về dân riêng của Chúa. Trong Thánh Kinh có rất nhiều gia phả, trong số đó có những gia phả dài (Mt 1,1-17 hay
Lc 3,23-28); có những gia phả rất ngắn (Is 1,1 hay Gr 1,1 hay Mt 16,17).

Đ iểm đặc biệt của gia phả Do thái là không quan tâm đến sự chính xác về các đời và các tên. Quan trọng nhất là tên đầu và tên cuối, vì gia phả nhằm chứng minh đương sự nào đó (tên cuối), là miêu duệ của tổ tiên nào đó (tên đầu). Đối với các tên giữa thì có thể thêm bớt hay sắp xếp tùy ý tác giả để diễn tả tư tưởng của ông.

Bài tập

So sánh hai bảng gia phả của Đức Giêsu trong
Mt 1,1-17 và Lc 3,23-28
a. Đếm xem số lượng các đời có bằng nhau không ?
b. Tên đầu và cuối trong từng gia phả là ai ? Điều đó muốn nói lên ý tưởng gì ?

5. Văn thể Khải huyền.

Trong một số hoàn cảnh, người ta không thể nói thẳng được mà phải nói bóng gió bằng những từ ngữ và hình ảnh mà chỉ người trong cuộc hiểu nhau được thôi, người ngoài không thể hiểu. Văn thể khải huyền rất thích hợp trong những hoàn cảnh bị bắt bớ. Để cho người ngoài không hiểu, tác giả dùng những con số, màu sắc và hình ảnh mà những người trong cuộc qui ước với nhau.

Bởi lẽ đó, một đoạn viết theo văn thể khải huyền vừa rất khó hiểu (vì một cách nào đó chúng ta ngày nay không phải là thính giả hoặc độc giả trực tiếp, nên cũng có thể bị kể như người ngoài cuộc); nhưng cũng vừa rất dễ hiểu nếu như có ai đó bật mí, cung cấp cho chúng ta những chìa khóa để giải những mật mã mà tác giả đã dùng.

Vấn đề tìm chìa khóa không phải là khó vì các nhà xuất bản những quyển Thánh Kinh nghiêm chỉnh đã cung cấp sẵn cho chúng ta ở phần chú thích cuối trang.

Bài tập

Đ ọc Kh 1, 14-16 và đoán xem tác giả đang nói về ai ? Và người đó có những nét gì ?
Các chìa khóa giải mã:
- Áo dài: tư tế
- Đai vàng: vua
- Tóc bạc: tính vĩnh cửu
- Mắt như lửa: thông suốt
- Chân như đồng: vững bền
- Tiếng như thác: oai phong
- Tay phải: sức mạnh
- Cầm: nắm vận mệnh
- 7: tất cả
- Ngôi sao: giáo đoàn
- Miệng: phán xét
- Thanh gươm: trừng phạt.

6. Văn thể Thần hiện.

Thật ra có mấy ai tận mắt nhìn thấy Thiên Chúa hiện ra. Tuy nhiên với cặp mắt đức tin, chúng ta biết chắc là Thiên Chúa đang hiện diện và hoạt động trong biến cố nào đó. Tác giả Thánh Kinh cũng tin như vậy, và khi ông viết, ông muốn làm cho độc giả cũng tin như vậy. Thế nhưng vì ông không thấy bằng mắt thường nên ông sử dụng những hình ảnh qui ước mà những người cùng văn hóa với ông sẽ hiểu.

Những hình ảnh qui ước đó là: gió, bão, mây, sấm, chớp, khói, lửa, đất động, lòng người kinh khiếp...

Không rõ ngày xưa, khi biến cố đang diễn ra, thì đã thật sự có những chi tiết kể trên hay không. Nhưng thắc mắc này không quan trọng. Điều quan trọng là tác giả muốn nói rằng Thiên Chúa đang hiện diện và hoạt động.

Bài tập
Đọc những đoạn sau đây.
Tìm những hình ảnh qui ước của văn thể thần hiện, và đoán xem tác giả muốn nói gì?

a. Xh 19,16-25 (Thập giới là luật do chính Thiên Chúa ban)
b. Mt 8,23-27 (Đức Giêsu chính là Thiên Chúa)
c. Mt 27,50-54 (Có Thiên Chúa nhúng tay trong cái chết của Đức Giêsu)
d. Mt 28,1-8 (có Thiên Chúa nhúng tay trong sự sống lại của Đức Giêsu) e. Cv 2,1-6 (biến cố này là do Thiên Chúa).

7. Phép lạ.

Tân Ước có kể nhiều phép lạ. Ta nên lưu ý rằng ngay cả những chuyện này cũng theo một cái khung. Khung này gồm 5 yếu tố (những chuyện viết dài thì đủ 5 yếu tố, những chuyện viết ngắn thì không đủ):

Giới thiệu hoàn cảnh.
Lời xin giúp đỡ (do đương sự hoặc một người khác đưa ra).
Can thiệp (của Đức Giêsu hoặc Ngôn sứ, hoặc Tông đồ) can thiệp bằng một cử chỉ, một lời nói, hoặc từ xa.

Hiệu quả.

Phản ứng của những người chứng kiến: sợ (không phải sợ mà tránh, nhưng là sợ mà kính), thán phục, tán dương...
Vì câu chuyện được viết theo khung định sẵn nên:
Ta đừng mất công đi tìm những chi tiết khác ngoài cái khung đó như: tâm trạng của các nhân vật, từng bước diễn biến chính xác... Cũng đừng quá chú ý tới khía cạnh lạ lùng của câu chuyện, mà phải chú ý tới ý nghĩa của câu chuyện.

Những tường thuật phép lạ trong Tân Ước đều qui về một trong ba ý nghĩa sau:
Chứng minh Đức Giêsu là Đấng có uy quyền do Thiên Chúa.
Mời gọi người chứng kiến quyết định tin hay không tin Đức Giêsu. Loan báo rằng Nước Thiên Chúa đã đến gần.

Bài tập

1. Tìm những yếu tố của văn thể phép lạ trong Mt 9,1-8.
2. Những phép lạ sau đây thuộc loại ý nghĩa nào:
- Mt 11,2-5.
- Mt 11, 20-21.
- Mt 12,27.
- Mt 12,28.

8. Văn thể MIDRASH

Midrash là tiếng Hy-pri, có nghĩa là vừa giải nghĩa, vừa bình luận, vừa áp dụng (nên có thể tạm dịch là "Bình Giải"). Văn thể Midrash giải nghĩa, bình luận và áp dụng một đoạn Thánh Kinh vào một hoàn cảnh cụ thể. Tác giả có quyền sử dụng những chi tiết thần thoại, thậm chí hoang đường nữa.

Khi gặp một đoạn Midrash, ta phải:
Đoán xem tác giả đang bình giải đoạn Kinh Thánh nào?
Tác giả muốn ứng dụng chuyện Kinh Thánh đó vào chuyện gì ?
Những chi tiết nào thần thoại hoặc hoang đường?

Ví dụ, đoạn Kinh Thánh Mt 2,1-12:
Đoạn Thánh Kinh đang bình giải: Ds 24,17 (lời tiên tri của phù thủy Balaam về một ngôi sao xuất hiện từ dân Israel ).
Ứng dụng: vào Đức Giêsu (Đức Giêsu là Đấng Ngôi Sao - Vua Cứu Tinh - mà Balaam đã tiên báo).

Chi tiết hoang đường: ngôi sao lạ, cả thành Giêrusalem kinh hoàng.

PHẦN PHỤ THÊM

Và sau đây, xin giới thiệu thêm một vài kỹ thuật mà tác giả có thể dùng khi viết. Chúng không hẳn là những văn thể, nhưng là những cách viết mà nếu ta nắm được qui luật thì sẽ dễ khám phá ý của tác giả hơn.

a. Mượn chuyện

Nhiều khi chúng ta muốn nói một điều gì đó thì sực nhớ một chuyện có sẵn với nhiều chi tiết tương tự với điều ta muốn nói. Thật là may ! Thế là ta dùng ngay câu chuyện đó, chỉ thay đổi vài chi tiết để phù hợp với điều ta muốn nói.

Thỉnh thoảng, các tác giả Thánh Kinh cũng mượn những chuyện có sẵn như vậy. Các chuyện họ mượn thường có sẵn trong văn chương bình dân của dân Do thái hoặc của những dân chung quanh, hoặc mượn một chuyện trong Cựu Ước để nói một chuyện trong Tân Ước...

Đối với những người chưa có kiến thức rộng về Thánh Kinh và môi trường Thánh Kinh thì khó nhận diện được những chuyện mà tác giả vay mượn (bởi thế, ta cần đọc thêm nhiều sách để trao dồi phần kiến thức này).

Khi đã nhận diện được câu chuyện mà tác giả đã mượn, ta chỉ cần đối chiếu với chuyện mà ta đang đọc, đặc biệt lưu ý tới những chi tiết mà tác giả đã sửa đổi, vì chính ở những chỗ đó ta sẽ khám phá ý tưởng riêng của tác giả.

Ví dụ 1: Đoạn Kinh Thánh St 2,4b-15 có vay mượn một chuyện thần thoại của Babylon như sau:

Chuyện "ngày xưa trên cao": Ngày xưa, ở trên cao là một khối nước hỗn độn cấu tạo bởi hai nguyên lý là Apson (nước ngọt) và Tiamát (nước mặn). Từ khối nước hỗn độn ấy sinh ra các thần, chia thành hai hạng là thần lớn và thần nhỏ. Các thần lớn bắt các thần nhỏ phải làm việc để phục vụ họ. Các thần nhỏ bất mãn nên bắt một thần lớn giết đi, lấy máu thần này trộn với đất sét tạo ra con người. Khi đã có người ta rồi, các thần nhỏ bắt người ta làm việc thay cho họ. Đó là nguồn gốc của con người.

Ta hãy so sánh chuyện trong Sáng thế với chuyện "ngày xưa trên cao":
- Tìm những chi tiết giống nhau.
- Tìm những chi tiết khác nhau.
- Những chi tiết khác nhau ấy biểu lộ quan niệm gì riêng của tác giả?

Ví dụ 2 (bài tập):

Đoạn Kinh Thánh Mt 20,1-16 có vay mượn một chuyện sau đây trong văn chương Rabbi Do thái:

Một ông vua kia mướn nhiều người làm việc, trong số đó có một người làm rất chăm chỉ và hiệu năng cao, nên vua rất qui mến. Sau khi anh làm được một giờ, vua mời anh cùng đi dạo chơi suốt ngày. Đến chiều, vua gọi mọi người đến để trả lương, bắt đầu từ người đã được đi dạo với vua, anh lãnh được một đồng. Những người kia thấy thế liền nghĩ thầm chắc là mình sẽ lãnh được nhiều hơn vì đã làm nhiều giờ hơn. Nhưng họ chỉ lãnh mỗi người một đồng thôi. Họ lẩm bẩm trách vua. Khi ấy, vua trả lời: Anh cùng đi dạo với vua tuy chỉ làm có một giờ thôi, nhưng vì chăm chỉ và năng suất cao nên cũng làm bằng những người làm suốt cả ngày, cho nên lương của anh bằng những người khác là phải thôi.

- Hãy tìm những chi tiết giống nhau.
- Hãy tìm những chi tiết mà Tin Mừng đã sửa đổi.
- Những sửa đổi ấy cho thấy quan niệm của Tin Mừng và của các Rabbi khác nhau như thế nào?

b. Diễn từ và Tường thuật.

Xét về hình thức thì các đoạn Thánh Kinh có thể chia cách đơn giản thành hai loại là Diễn từ và Tường thuật.
Diễn từ là những đoạn ghi lại một bài phát biểu của một người nào đó.
Tường thuật là những đoạn thuật lại một sự việc.
Đối với những loại trên, ta tiến hành những cách khảo sát khác nhau.
Đối với loại Diễn từ: ta chú ý khảo sát các từ ngữ:
Những từ (hay những cụm từ) quan trọng (gọi là "từ chìa khóa").
Nếu không thể nhận diện các từ chìa khóa thì tìm những từ (hay những cụm từ) lặp đi lặp lại nhiều lần.
Những từ (hay những cụm từ) đồng nghĩa với những từ (hay những cụm từ) trên.
Những từ (hay những cụm từ) bổ túc nghĩa hoặc nghịch nghĩa với những từ (hay những cụm từ) trên.

Riêng đối với những động từ:
+ Chủ từ của động từ là ai?
+ Túc từ là gì?
+ Động từ ở thể xác định hay phủ định?
+ Nếu động từ ở dạng thụ động, suy nghĩ xem có phải là một cách tránh nói tới chủ từ tác động là Thiên Chúa không (passif divin).

Đối với loại Tường thuật: ta chú ý khảo sát các vai và diễn tiến của sự việc.
Khảo sát các vai:
+ Câu chuyện gồm mấy vai ?
+ Mỗi vai làm gì ? tại sao làm? kết quả ra sao ?
+ Vai chính là ai ? vai phụ là ai ? kết quả cuối cùng nhờ vai nào ?

Khảo sát diễn tiến:
+ Câu chuyện diễn tiến qua mấy giai đoạn ?
+ Mỗi giai đoạn diễn tiến thế nào ?
+ Tác động nào thúc đẩy diễn tiến của từng giai đoạn đó ?
+ Trong các giai đoạn, giai đoạn nào quan trọng nhất ?
+ Từ giai đoạn đầu đến giai đoạn cuối, tình hình đã biến chuyển tốt hơn (hay xấu hơn)? do đâu?

Bài tập 1: Khảo sát đoạn Tin Mừng Mt 6,25-34.
- Loại nào ? (Diễn từ). Vậy phải khảo sát từ ngữ.
- Từ chìa khóa? (Động từ "LO" được lặp đi lặp lại nhiều lần).
- Một số động từ "LO" ở thể xác định (nên lo); túc từ của chúng (lo tìm Nước Chúa và sự công chính của Chúa, tìm ý Chúa).

- Một số khác ở thể phủ định (không nên lo).
+ Không nên lo như thế nào ? (không phải là hoàn toàn không lo, mà chỉ đừng quá lo: hai ví dụ chim trời và hoa huệ, chúng cũng lo nhưng không quá lo).
+ Túc từ của chúng ? (đừng quá lo ăn, lo mặc, lo tuổi thọ);
Lý do: đã có Cha trên trời biết v lo cho ta những điều này.

Ai hay quá lo? (dân ngoại). Lý do (họ không biết Cha trên trời, họ tưởng họ mồ côi nên phải tự lo tất cả).
Kết quả khảo sát: Đoạn Tin Mừng này không dạy chúng ta đừng lo gì cả, nhưng phải phân biệt:
- Đừng quá lo về việc ăn, việc mặc và tuổi thọ, vì đã có Cha chúng ta trên trời lo cho ta rồi.
- Hãy ưu tiên lo tìm Nước Chúa và thi hành ý Chúa.

Bài tập 2: Khảo sát đoạn Tin Mừng Lc 19,1-9.
- Loại nào? (tường thuật). Vậy chú ý tới các vai và diễn tiến sự việc.

Các vai:
- Chuyện này có mấy vai ? (2: Giakêu, Đức Giêsu)
- Giakêu là người thế nào ? (thu thuế. Cho nên giàu, nhưng tội lỗi), Giakêu làm gì ? (nghe tin Đức Giêsu đi qua thành, chạy đi tìm). Tại sao (vì vẫn thấy trống vắng và thiếu thốn trong lòng: giàu tiền nhưng thiếu Chúa thì cũng vẫn thiếu).
- Đức Giêsu là người thế nào ? (người đi tìm cứu vớt kẻ tội lỗi), Đức Giêsu làm gì ? (ngước mắt lên nhìn Giakêu, gọi ông, đến nhà ông, lưu lại đó).
- Kết quả ? (Giakêu hoán cải: từ tội lỗi thành công chính, từ thu góp đến phân phát tài sản).
- Kết quả đó nhờ đâu ? (nhờ Giakêu biết đi tìm, nhờ Đức Giêsu nhìn ông và đến lưu lại nhà ông: Ơn cứu độ là sự hợp tác giữa con người với Thiên Chúa).

Diễn tiến:
- Chuyện diễn tiến mấy giai đoạn ? (3: Giakêu đi tìm; Đức Giêsu ngước mắt nhìn rồi đến lưu lại nhà ông; Giakêu hoán cải).
- Giai đoạn quan trọng nhất ? (Giai đoạn 2: Đức Giêsu ngước mắt nhìn).

Kết quả khảo sát: Nhiều bài học về ơn cứu độ:
- Ơn cứu độ là sự hợp tác giữa Thiên Chúa với con người.
- Nhưng sáng kiến là phía Thiên Chúa, vai trò quan trọng nhất là Thiên Chúa.

Bài 5. TÌM HIỂU

ĐỂ RAO GIẢNG LỜI CHÚA

Bài này là tổng hợp những gì đã nói ở bài trước, thành một bảng câu hỏi để hướng dẫn chúng ta tiến hành từng bước việc tìm hiểu Lời Chúa.

Đối với những ai có nhiệm vụ rao giảng Lời Chúa thì có thể tiến hành thêm phần thứ hai: sau khi đã hiểu Lời Chúa, làm thế nào để soạn ra thành một bài giảng ?

I. TÌM HIỂU Ý NGHĨA CƠ BẢN CỦA ĐOẠN THÁNH KINH

Đoạn này có được viết theo một văn thể đặc biệt nào không? Nếu có thì phải khảo sát theo quy luật của văn thể đó.
Đoạn này có vay mượn một chuyện có sẵn không ?
Nếu có, so sánh hai chuyện, tìm những chi tiết của chuyện gốc đã được sửa đổi. Tác giả sửa đổi để nói lên ý gì ?
Nếu không thuộc hai trường hợp trên, đoạn này thuôc loại diễn từ hay tường thuật ?

3a. Nếu đoạn này thuộc loại diễn từ, ta chú ý đến từ ngữ:
Những từ (hay những cụm từ) quan trọng (gọi là "Từ chìa khóa")
Nếu không thể nhận diện các từ chìa khóa thì tìm những từ (hay những cụm từ) lặp lại nhiều lần.
Những từ (hay cụm từ) đồng nghĩa với những từ (hay cụm từ) trên.
Những từ (hay cụm từ) bổ túc nghĩa hoặc nghịch nghĩa với những từ (hay cụm từ) trên.

Riêng đối với những động từ.
- Chủ từ của động từ là ai ?
- Túc từ là gì ?
- Động từ ở thể xác định hay phủ định ?
- Nếu động từ ở dạng thụ động, suy nghĩ xem có phải là một cách tránh nói tới chủ từ tác động là Thiên Chúa không (passif divin) ?

3b. Nếu đoạn này thuộc loại tường thuật, ta chú ý đến các vai và diễn tiến của sự việc.
Khảo sát các vai:
- Câu chuyện gồm mấy vai ?
- Mỗi vai làm gì ? Tại sao làm? Kết quả ra sao?
- Vai nào chính? Vai nào phụ ? Kết quả cuối cùng nhờ vai nào ?

Khảo sát diễn tiến:
- Câu chuyện diễn tiến qua mấy giai đoạn ?
- Mỗi giai đoạn diễn tiến thế nào?
- Tác động nào thúc đẩy diễn tiến của từng giai đoạn đó?
- Trong các giai đoạn, giai đoạn nào quan trọng nhất ?
- Từ giai đoạn đầu đến giai đoạn cuối, tình hình đã biến chuyển (tốt hơn hoặc xấu hơn). Do đâu ?

II. TÌM HIỂU SÂU RỘNG HƠN

Đọc những chú thích ở cuối trang. Những chú thích nào đáng lưu ý ? Tìm đọc những quy chiếu bên lề. Những quy chiếu nào đáng lưu ý ?

Tìm đọc những chỗ song song. So sánh với đoạn hiện hành. Khám phá thêm ý tưởng gì ?

III. ĐÚC KẾT ĐẠI Ý
Dựa vào những kết quả đã tìm được ở những phần trên, viết lại đại ý của đoạn Thánh Kinh.

IV. SOẠN BÀI GIẢNG.

Đại ý của đoạn Thánh Kinh này có thể gồm nhiều điểm, chọn một hoặc vài điểm để giảng.
Tô điểm cách trình bày:
Có sự kiện nào trong cuộc đời mang ý nghĩ liên quan tới những điểm mà ta muốn giảng không ?
Có một câu chuyện nào hay mà ta có thể dùng để tô điểm cho bài giảng không ?
Sắp xếp bố cục bài giảng:
Mở đầu thế nào?
Triển khai thế nào?
Kết thúc thế nào?

Bài 6. ĐỊA LÝ KINH THÁNH

I. ĐỊA LÝ VÙNG TRUNG ĐÔNG

Dựa vào bản đồ ở phần phụ lục và tập vẽ cho quen. Nhìn vào bản đồ vùng Trung Đông, ta thấy có biển, sa mạc và đất liền. Trong phần đất liền, có nhiều nền văn minh đã phát sinh và phát triển ở ba khu vực chính:

1. Khu vực phía Nam

Đây là lưu vực sông Nil với nền văn minh của Ai cập. Từ 3000 năm trước Công Nguyên, Ai cập đã là một dân tộc quan trọng, dưới quiền cai trị của các triều đại Pharaon. Thủ đô khi thì ở phía Bắc ( Memphis ) khi thì ở phía nam (Thêbê).

2. Khu vực phía Bắc

Khu vực này nằm ở vùng cao nguyên Tiểu Á. Sắc dân hùng mạnh nhất của khu vực này là dân HATTI. Họ rất mạnh trong thời gian dài suốt 1500 năm, nhưng đã biến mất vào thời Thánh Kinh.

3. Khu vực phía Đông

Khu vực này nằm giữa hai con sông Tigra và Phơrát nên được gọi là Lưỡng Hà Địa (Mésopotamie). Khu vực này nhờ phù sa của hai con sông lớn đó nên rất phì nhiêu, vả lại còn có hình chiếc lưỡi liềm, nên còn được gọi là "lưỡi liềm phì nhiêu" (Croissant Fertile). Trong khu vực này, nhiều nền văn minh sáng chói đã sát cánh nhau hoặc nối tiếp nhau chiếu sáng lên, sau đó tắt ngúm, để rồi vài thế kỷ sau lại tái xuất hiện. Các nền văn minh đó là:

Ở miền Nam : các dân SUMER , AKKAD , và BABYLON .
Ở miền Bắc: dân ASSYRIA (vùng lãnh thổ nước Irắc ngày nay).
Ở miền Đông: dân MÊĐI, sau đó là dân BA TƯ (vùng lãnh thổ nước Irăn ngày nay).
Từ miền Tây, nhiều dân khác sẽ tràn vào xâm lấn cả vùng Trung Đông như HY LẠP (3 thế kỷ trước Công Nguyên), rồi RÔMA (1 thế kỷ trước Công Nguyên).

II. ĐỊA LÝ XỨ PALESTINA

Dựa vào bản đồ ở phần phụ lục và tập vẽ cho quen.
Một mảnh đất nhỏ nằm giữa những nền văn minh lớn vừa kể trên, đó là xứ CANAAN (nếu gọi theo tên xưa thời các Tổ phụ), hoặc PALESTINA (nếu gọi theo tên mới từ thời Hy lạp về sau).
Mảnh đất này nếu cắt dọc thì chia thành nhiều vùng: Dọc theo Địa Trung Hải là vùng duyên hải.

Vùng ở giữa là vùng cao nguyên gồm nhiều cao nguyên (Galilêa) và nhiều đồi ( Samaria và Giuđêa). Như thế, từ Bắc xuống Nam vùng này chia thành 3 miền là Galilêa, Samaria và Giuđêa.

Vùng phía đông là lưu vực sông Giođan. Sông này phát nguyên từ chân núi Hermon ở độ cao 200m trên mực nước biển, chảy tới hồ Hulê thì còn 68m, khi đổ vào hồ Ghênêgiarét (còn gọi là hồ Tibêria, hồ Galilêa, hay Biển Hồ) thì đã là -212m dưới mực nước biển, và lúc đổ vào Biển Chết thì độ thấp là -392m.

Chính trong xứ Palestina này, vào thế kỷ XII trước Công Nguyên có nhiều bộ lạc sinh sống. Khoảng năm 1000, họ hợp thành vương quốc thống nhất của Đavít - Salomon. Khi Salomon băng hà, vương quốc này chia thành hai tiểu vương quốc là Giuđa (phía Nam) với thủ đô là Giêrusalem, và Israel (phía Bắc) với thủ đô là Samaria.

Vào khoảng cuối thế kỷ XII trước Công Nguyên, dân PHILITINH chiếm vùng bờ biển Địa Trung Hải. Vài thế kỷ trước Công Nguyên, người Hy lạp lấy tên dân này đặt cho cả xứ Canaan : từ đó trở đi xứ Canaan được gọi là xứ Palestina (nghĩa là xứ của người Philitinh).

Có vài vương quốc nữa tuy nhỏ nhưng đóng vai trò quan trọng trong lịch sử Israel , đó là SYRIA (có khi được gọi bằng tên của thủ đô họ là Đamas), ARAM , ÊĐOM , MOAB và AMMON.

Bài 7. LỊCH SỬ ISRAEL
VÀ VIỆC HÌNH THÀNH SÁCH THÁNH

I. LỊCH SỬ DÂN CHÚA.

1. Thời Khởi Nguyên.
Tạo dựng trời đất.
Tạo dựng loài người.
Cain - Abilê.
Hồng thủy.
Tháp Babel.

2. Thời các Tổ Phụ.
Thế kỷ 18: Abraham.
Isaac.
Giacóp.
Giuse.

3. Thời Xuất Hành.
Khoảng 1250: Môsê.
Xuất hành.
Thời gian trong sa mạc.

4. Thời Lập Quốc.
Khoảng 1220: Giôsuê lãnh đạo dân chiếm xứ Canaan .
Chia đất cho các bộ lạc.

5. Thời các Thủ Lãnh.
Các nước chung quanh thường xuyên quấy nhiễu, các Thủ lãnh nổi lên cứu dân.
Thủ lãnh cuối cùng là Samuel.

6. Thời Quân Chủ
Khoảng 1100, Samuel xức dầu tấn phong Saolê làm vua đầu tiên.
Khoảng 1010, Saolê chết, Đavít lên ngôi vua.
Khoảng 1000, Đavít chiếm thành của dân Giobusi, đổi tên nó lại thành Giêrusalem và đặt làm thủ đô của vương quốc thống nhất gồm 12 bộ lạc.
970: Salomon kế vị Đavít. Đất nước thanh bình thịnh vượng, bắt đầu sinh hoạt văn chương.

7. Thời Đất Nước Chia Đôi.
Khoảng 933, Salomon chết, mười bộ lạc phía Bắc ly khai thành lập tiểu vương quốc Israel với thủ đô là Samaria, hai bộ lạc còn lại ở phía Nam làm thành tiểu vương quốc Giuđa với thủ đô vẫn là Giêrusalem.
Các ngôn sứ hoạt động.
721: Đế quốc Assyria tiêu diệt tiểu vương quốc Isael.
587: Đế quốc Babylon tiêu diệt tiểu vương quốc Giuđa, lưu đày.

8. Các Thời Sau.
538-333: Đế quốc Ba Tư dẹp Babylon , lên ngôi bá chủ. Dân Do Thái được hồi hương nhưng phải sống dưới quiền của Ba Tư.
333: Tới phiên Đế quốc Hy lạp tiêu diệt Ba Tư dành ngôi bá chủ. Sau khi người khai sáng đế quốc này là Alexandre đại đế mất, đế quốc Hy lạp chia thành nhiều đế quốc nhỏ. Xứ Palestina khi thì nằm dưới quiền của Nhà Lagos, khi thì dưới quiền Nhà Seleucos.
167: Vua Antinochus IV (nhà Seleucos) bắt đạo. Gia đình Macabê khởi nghĩa.
164: Cuộc khởi nghĩa của gia đình Macabê thành công, thành lập Triều đại Hasmonê.
63: nhà Hasmônê tranh quiền với nhau, có phe gọi Rôma đến giúp. Tướng Pompê của Rôma đem quân chiếm Giêrusalem và đặt ách đô hộ lên dân Do thái. Rôma đặt Antipater (một người Do thái lai Iđumê) làm Tổng trấn.
37 - 4: Hêrôđê Cả kế vị cha là Antipater.

9. Thời Tân Ước.
Năm 4 trước Công Nguyên: Đức Giêsu sinh ra.
28 - 30 Công nguyên: Đức Giêsu rao giảng Tin Mừng.
Ngày 14 tháng Nisan năm 30: Đức Giêsu bị giết. Nhưng Ngài đã sống lại và lên trời.
Từ năm 30: phát sinh các giáo đoàn Kitô.
50-95: Các sách Tân Ước.

II. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH CÁC SÁCH THÁNH.

Lịch sử hình thành các Sách Thánh không tiến song song với lịch sử Dân Chúa, nghĩa là các Sách Thánh không nhất thiết được viết đồng thời với các biến cố xảy ra được ghi trong Sách Thánh. Rất nhiều biến cố đã xảy ra từ lâu trước, về sau rất lâu mới được viết lại. Các Sách Thánh bắt đầu được viết từ thời quân chủ.

1. Thời Quân Chủ: 1000-933

(“Sách về người công chính”: đã mất).
(“Sách về những cuộc chiến của Giavê”: đã mất).
Lịch sử về Khám Giao Ước (1 Sm 2-5).
Lịch sử về việc kế vị Đavít (2 Sm 9-20).
Bài ca chiếc cung (2 Sm 1).
Bài ca khóc Abner (2 Sm 3).
Vài Thánh Vịnh.
Vài câu châm ngôn.
Tài Liệu J.
Ngôn sứ Nathan (2 Sm 7,1-17; 2 Sm 12; 1 V 1-2).
Ngôn sứ Isaia.
Ngôn sứ Mikha.

2. Thời Đất Nước Chia Đôi: 933-587
Những truyền thống về Êlia (1 V 17-19.21; 1 V 1-2).
Những giai thoại về Êlisê (2 V 3-9).
Những trang sử đẹp về Giêhu (2 V 9-10).
Ngôn sứ Amos.
Ngôn sứ Hôsê.
Tài liệu E.
Những sưu tập về luật (sẽ là cốt lõi của sách Đệ Nhị Luật).
Tài liệu JE.
Tài liệu D.
Sách Giôsuê, Thủ lãnh, 1 và 2 Samuel, 1 và 2 Vua.
Các ngôn sứ Xôphônia, Nakhum, Khabacuc và Giêrêmia.
Vài Thánh Vịnh.
Vài suy tư Minh triết.

3. Thời Lưu Đày: 587-538
Ngôn sứ Êdêkien và II Isaia
Luật về sự thánh (Lv 17-26, sẽ được bổ sung để thành Sách Lêvi)
Tài liệu P.
Vài Thánh Vịnh.
Vài suy tư Minh triết.
Sách Ai ca.

4. Thời Ba Tư Đô Hộ: 538-333
Các Ngôn sứ Khácgai, Dacaria, Malakhi, Ôvađia,
III Isaia, Gioen (?).
Étra tập họp các tài liệu J, E, D, P và JE thành Bộ Ngũ Thư.
Sách 1 và 2 Sử biên niên.
Sách Étra, sách Nơkhemia.
Tập hợp những suy tư Minh triết thành những sách Rút, Giona, Châm ngôn, Gióp.

5. Thời Đô Hộ của Hy lạp (333-63) và Rôma (từ 63)
Ngôn sứ II Dacaria.
Các Sách Cohelet, Siracide, Tôbia, Diễm ca, Barúc và Khôn ngoan.
Bản dịch 70.
Các sách Étte, Giuđitha, 1 và 2 Macabê
Sách Đaniên.
Tập hợp các Thánh Vịnh lại thành Bộ Thánh Vịnh.

6. Thời Tân Ước
Từ năm 30: thành lập, tổ chức và phát triển các giáo đoàn Kitô.
Từ năm 50: Các Thư của Phaolô.
Khoảng 57-62 (?): Thư Giacôbê.
Trước 64 (?): Thư 1 Phêrô.
Khoảng 70 (?): Thư Do thái.
Khoảng 70-80 (?): Các Tin Mừng Nhất Lãm Marcô, Matthêu, Luca và Công vụ Tông đồ.
Khoảng 80 (?): Thư Giuđa, 2 Phêrô.
Khoảng 95: Tin Mừng Gioan, Sách Khải huyền.
Cuối thế kỷ I: Các Thư 1, 2, 3 Gioan.



Bài 8. VÀI VẤN ĐỀ NHỎ

1. Nguyên ngữ Thánh Kinh
Cựu Ước: Phần lớn viết bằng chữ Hy-pri; một phần nhỏ (khoảng 7, 8 quyển mà thư qui Palastina không công nhận) bằng chữ Hy lạp.
Tân Ước: Tất cả viết bằng chữ Hy lạp (loại văn chương Hy lạp bình dân, gọi là Koine).
Vì thế, những ai muốn nghiên cứu Thánh Kinh cho thấu đáo, cần phải biết chữ Hy-pri và Hy lạp.

2. Các Mẫu tự và Chấm câu trong nguyên bản Hy-pri

Chữ Hy-pri chỉ viết phụ âm, và cứ viết liền một mạch không có chấm phẩy gì cả. Khi đọc, người ta phải đoán nguyên âm và chấm câu.
Sự việc này dẫn đến hai bất tiện: Đoán nguyên âm khác nhau, khiến đọc và hiểu khác nhau.

Ví dụ: Tên Thiên Chúa được viết bằng 4 phụ âm YHWH. Có người đọc là Yahweh (vì đoán những phụ âm chen giữa các nguyên âm là a và e). Có người đọc là Yahoweh (vì đoán các nguyên âm là e, o và a).

Đoán chấm câu khác nhau, khiến hiểu khác nhau.
Ví dụ: Mt 1, 24-25 (thực ra câu này viết bằng chữ Hy lạp. Ta tạm lấy ví dụ về cách đoán dấu phẩy), nếu viết theo chữ Hy-pri thì liền một mạch như sau: "Thức dậy Giuse vâng theo Sứ thần Chúa dạy rước hiền thê về nhà nhưng vẫn không biết bà cho đến tối ngày bà sinh con trai ông đã đặt tên là Giêsu".

Người đọc có thể đoán hai cách chấm câu khác nhau dẫn đến hai nghĩa rất khác nhau: ... nhưng vẫn không biết bà cho tới ngày sinh con trai...: hiểu ngầm là sau khi sinh con xong thì Giuse "biết" bà. Như thế, Đức Maria không trọn đời đồng trinh.

... nhưng vẫn không biết bà. Cho tới khi sinh con trai, ông đặt tên là Giêsu...: hiểu là Giuse mãi mãi không "biết" bà Maria. Như thế, Đức Maria trọn đời đồng trinh.

Vì những bất tiện đó, nên về sau có một số người chịu khó nghiên cứu kỹ các bản văn Hy-pri rồi tìm ra các nguyên âm và các dấu chấm - phẩy cho thêm vào nguyên bản. Những nhà chuyên môn đó được gọi là những Massorètes, và những bản văn đã được họ cho thêm nguyên âm và chấm - phẩy được gọi là những bản Massorétiques.

3. Các bản dịch

Thánh Kinh đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng, trong đó có những bản dịch quan trọng sau đây:

Bản dịch Targum: vừa dịch Cựu Ước bằng chữ Hy-pri sang chữ Aram (thứ ngôn ngữ thông dụng của người Do thái vào đầu Công nguyên), vừa giải thích rộng ra. Do phần giải thích rộng ra, ta có thể đoán người Do thái thời Chúa Giêsu đã hiểu Cựu Ước như thế nào.

Bản dịch Bảy Mươi (thường viết là LXX): dịch Thánh Kinh từ chữ Hy-pri sang chữ Hy lạp. Sở dĩ bản dịch này được gọi là bản 70 vì có truyền thuyết rằng công trình này do 70 nhà chuyên môn dịch xong trong 70 ngày, và bản dịch của tất cả 70 vị đó đều giống y như nhau (ngụ ý của truyền thuyết: công trình này là do Thiên Chúa hướng dẫn).

Bản dịch Phổ Thông (còn gọi là bản Vulgata, nghĩa là bản "bình dân"): dịch Thánh Kinh từ chữ Hy-pri và Hy lạp sang chữ Latin, do thánh Hiêrônimô. Vì bản dịch này được dùng rất phổ biến trong Giáo Hội Rôma nên được gọi là bản "Phổ Thông".

Bản dịch TOB: TOB là ba chữ đầu của tên bản dịch này Traduction Oecuménique de la Bible (nghĩa là "Bản dịch Thánh Kinh đại kết"). Bản này là công trình hợp tác của các nhà Thánh Kinh Công giáo, Tin lành và Chính thống, dùng cho thế giới nói tiếng Pháp.

4. Phân chương - Phân câu

Ban đầu, Sách Thánh được viết như bất cứ quyển sách nào khác, nghĩa là không có những con số chỉ chương và câu.

Năm 1236, ông Etienne Langton nảy ra sáng kiến chia mỗi quyển Sách Thánh thành nhiều chương, và đánh số những chương đó.

Năm 1551, ông Robert Estienne, trong một chuyến đi từ Lyon đến Paris bằng xe ngựa, vì không biết làm gì để giết thời giờ, ông đã lấy Sách Thánh ra và đánh số từng câu cho từng chương.

5. Tên Việt ngữ - Cách viết tắt - Cách ghi trích dẫn

a. Tên Việt ngữ

Tên của các Sách Thánh đã được nhất trí trong các ngôn ngữ Hy lạp, Latin, Pháp, Anh... nhưng chưa được như thế trong tiếng Việt. Cùng một quyển mà có người gọi tên này, có người gọi tên khác. Ví dụ, Sáng thế và Khởi nguyên; Quan án, Thẩm phán và Thủ lãnh...

Gần đây, nhóm chuyên viên Việt Nam dịch Phụng vụ các Giờ kinh đã đề nghị một danh sách tên các Sách Thánh, và được Hội Đồng Giám Mục Việt Nam chấp nhận. Vì thế, từ nay chúng ta nên gọi tên các Sách Thánh theo danh sách đó.

b. Cách viết tắt
Cũng nhóm chuyên viên trên đề nghị một cách viết tắt thống nhất (Xem Phụ Lục) như sau: Những từ độc âm thì ký hiệu chỉ có một chữ.
Ví dụ: G = Gióp, R = Rút...

Những từ đa âm thì lấy hai chữ đầu của hai âm đầu.
Ví dụ: Rm = Rôma, Cl = Côlôxê...

Khi có sự trùng hợp:

Nếu tên sách có trên hai âm, có thể lấy thêm chữ đầu của âm thứ ba để phân biệt. Ví dụ: Đn = Đaniên và Đnl = Đệ nhị luật; Dc = Diễm ca và Dcr = Dacaria...

Nếu tên sách chỉ có hai âm, ta có thể lấy thêm một chữ nữa của âm thứ hai. Ví dụ: Gđ = Giuđa và
Gđt = Giuđíth...

c. Cách ghi trích dẫn

Trước tiên, ghi tên sách theo kiểu viết tắt. Mt
Kế đến ghi con số chỉ chương. Mt 2
Tiếp theo là con số chỉ câu. Mt 2,4
Nếu trích dẫn nhiều câu liền nhau, thì thêm dấu gạch ngang giữa các câu. Mt 2,4-6
Nếu trích dẫn nhiều câu không liền nhau,
thì thêm dấu chấm giữa các câu. Mt 2,7.8
Nếu trích dẫn một đơn vị dài từ chương này đến chương khác, thì dùng gạch ngang dài. Mt 1,1-2,3
Cần đọc thêm một câu sau đó, thì thêm chữ t. Mt 1,1t
Cần đọc thêm một số câu sau đó, thì thêm tt . Mt 1,1tt
Nếu trích một phần của câu thì thêm các chữ a,b,c Mt 1,1a

Nếu không trích dẫn nhưng khuyên đọc thì viết chữ x (nghĩa là hãy xem) x Mt 1,1
Nếu muốn chỉ chỗ song song thì dùng dấu // Mt 4//

PHẦN PHỤ LỤC

BẨNG VIẾT TẮT CÁC SÁCH THÁNH

Ac Ai ca
Am A-mốt
Br Ba-rúc
Cl Cô-lô-xê
Cn Châm ngôn
1 Cr 1 Cô-rin-tô
2 Cr 2 Cô-rin-tô
Cv Công vụ Tông Đồ
Dc Diễm ca
Dcr Da-ca-ri-a
Ds Dân số
Dt Do-thái
Đ n Đa-ni-en
Đ nl Đệ Nhị Luật
Ed Ê-dê-ki-en
Ep Ê-phê-xô
Er Ét-ra
Et Ét-te
G Gióp
Ga Gio-an
1 Ga 1 Gio-an
2 Ga 2 Gio-an
3 Ga 3 Gio-an
Gc Gia-cô-bê
Gđ Giu-đa
Gđt Giu-đi-tha
Ge Giô-en
Gl Ga-lát
Gn Giô-na
Gr Giê-rê-mi-a
Gs Giô-suê
Gv Giảng viên
Hc Huấn ca
Hs Hô-sê
Is I-sai-a
Kb Kha-ba-cúc
Kg Khác-gai
Kh Khải huyền
Kn Khôn ngoan
Lc Lu-ca
Lv Lê-vi
Mc Mác-cô
1 Mcb Ma-ca-bê quyển 1
2 Mcb Ma-ca-bê quyển 2
Mk Mi-kha
Ml Ma-la-khi
Mt Mát-thêu
Nk Na-khum
Nkm Nơ-khe-mi-a
Ôv Ô-va-đi-a
Pl Phi-líp-phê
Plm Phi-lê-môn
1 Pr 1 Phê-rô
2 Pr 2 Phê-rô
R Rút
Rm Rô-ma
1 Sb Sử biên niên quyển 1
2 Sb Sử biên niên quyển 2
1 Sm Sa-mu-en quyển 1
2 Sm Sa-mu-en quyển 2
St Sáng thế
Tb Tô-bi-a
Tl Thủ lãnh
1 Tm 1 Ti-mô-thê
2 Tm 2 Ti-mô-thê
Tt Ti-tô
Tv Thánh vịnh
1 Tx 1 Thê-xa-lô-ni-ca
2 Tx 2 Thê-xa-lô-ni-ca
1 V Các vua quyển 1
2 V Các vua quyển 2
Xh Xuất hành
Xp Xô-phô-ni-a

BẨN ĐỒ VÙNG TRUNG ĐÔNG
BẨN ĐỒ XỨ PALESTINA
BẨN ĐỒ XỨ CANAAN THỜI CÁC TỔ PHỤ
GPVinhlong

->Đọc thêm...

0 komentarze: