CLICK HERE FOR THOUSANDS OF FREE BLOGGER TEMPLATES »
“Hỡi anh em, ta hãy trung tín cùng Đức Chúa Trời cho đến chết ; cho đến chết, không một điều gì có thể dập tắt lòng thương mến Chúa Giêsu Kitô trong trái tim ta" (Những lời sau cùng của Chân Phước Anrê Phú Yên)

25.2.09

SỰ THÀNH CÔNG CỦA CÁC CUỘC TĨNH TÂM MÙA CHAY TRÊN INTERNET

Hơn 15000 tín hữu đã đăng ký để chuẩn bị lễ Phục Sinh nhờ Internet

« Khi còn sống ở Hoa Kỳ, tôi đã đăng ký vào một cuộc tĩnh tâm Mùa Chay trên Internet. Mỗi buổi sáng, khi đến sở, tôi dùng 5 phút để đọc bài suy niệm trong hộp thư điện tử của tôi. Điều đó đã làm cho tôi tiến bộ trong đức tin của mình. Điều này là nhanh chóng, rõ ràng, gần gũi với thường nhật của tôi và đủ mềm dẻo để thích nghi với nhịp vô độ của tôi. Có lẽ nó ít mạnh mẽ hơn ba ngày ở tu viện, nhưng nó kéo dài 40 ngày ! » Như Estelle, cán bộ 32 tuổi, càng ngày cang có nhiều tín hữu sử dụng Interent để chuẩn bị cho lễ Phục Sinh.

Các cuộc tĩnh tâm trên mạng gặp được một sự thành công gia tăng.
Như thế, trang Retraite dans la ville (Tĩnh tâm trong thành phố), một thể thức miễn phí được tổ chức bởi các tu sĩ Đa Minh ở Lille, đã thống kê năm vừa qua 16 ngàn người đăng ký và 50000 khách viếng thăm đến từ 50 nước. Một sự thành công mà những con số đầu tiên của năm 2009 không hề phủ nhận : 10000 người dùng internet đã đăng ký ngày thứ Hai 23/02.

Kỹ thuật phục vụ đời sống nội tâm

Từ thứ Tư ngày 25/02, « Những người tĩnh tâm trong thành phố » sẽ nhận được mỗi ngày một bài suy niệm về chủ đề 2009 : « Bạn biết rằng tôi yêu mến bạn » (đăng ký ở đây). Họ có thể nghe các giờ kinh của tu viện Lille bằng audio, xem videos minh họa Tin Mừng của Chúa Nhật, gửi các ý nguyện sẽ được trao cho các đan viện, trao đổi trên blog và hưởng được một sự đồng hành thiêng liêng trên mạng. Trước sự yêu cầu mạnh mẽ, nhóm làm việc cũng đưa ra một thể thức mới mẻ : những « huynh đệ mạng » (fraternet), những cộng đoàn ảo gồm 12 tĩnh tâm viên sẽ có thể trao đổi trên một diễn đàn riêng.

Kỹ thuật để phục vụ đời sống nội tâm, đó cũng là mục tiêu của Notre Dame du Web, đề nghị cho 3000 tĩnh tâm viên trên mạng của mình sống những cuộc linh thao của thánh Inhaxio nhờ phương tiện đa thông tin : nhạc, các tác phẩm nghệ thuật có chú giải, các bài suy niệm…Và ở đó cũng vậy, khả năng đặt ra những câu hỏi cho các nhà điều phối diễn đàn (các nữ tu, các cha dòng Tên, các giáo dân).

Cách chiêm niệm hơn, trang « Route de Pâques » của các huynh đoàn đan tu Giêrusalem đề nghị một hành trình Kinh Thánh tập trung vào việc đọc và nghiền ngẫm Kinh Thánh (lectio divina).

Xuanbichvietnam

->Đọc thêm...

ĐHY ARINZE SẼ GIẢNG TĨNH TÂM MÙA CHAY CHO GIÁO TRIỀU


Zenit - Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã chọn ĐHY Francis Arinze, người Nigiêria, nguyên là chủ tịch của Bộ Phụng Tự, làm người giảng tỉnh tâm hằng năm cho Vatican để bước vào Mùa Chay.

Tháng Ba của ĐTC Bênêđictô XVI dưới dấu chỉ của Châu Phi. Cuộc tông du Châu Phi đầu tiên của ĐTC ở Cameroun và Angola, sẽ diễn ra trong tháng Ba, từ 17 đến 23. Ngài cũng sẽ chuẩn bị Thượng hội đồng Giám mục Châu Phi vào tháng Mười sắp đến, từ 4 đén 25 ở Vatican.

Chủ đề tĩnh tâm lần này là về kitô học và linh mục : « Linh mục gặp gỡ Chúa Giêsu và bước theo Ngài ».


Theo truyền thống, cuộc tĩnh tâm này bắt đầu vào buổi chièu của Chúa Nhật đầu tiên của Mùa Chay, năm nay nhằm ngày 01/03 và sẽ kết thúc vào sáng thứ bảy tiếp theo, năm nay rơi vào ngày 07/03. Trong thời gian này, các buổi tiếp kiến chung của ĐTC sẽ không có.

Đêm đầu tiên sẽ bắt đầu lúc 18h, bằng việc chầu Thánh Thể, theo sau bằng kinh chiều, bài suy niệm đầu tiên và phép lành Thánh Thể. Mỗi buổi sáng sẽ có kinh sáng lúc 9h và kinh giờ ba lúc 10h15, và hai bài suy niệm.

Các bài giảng tĩnh tâm và phụng vụ diễn ra trước sự hiện diện của ĐTC và giáo triều, ở nhà nguyện Redemptoris Mater (Mẹ Đấng Cứu Thế) của Vatican, được trang trí theo truyền thống Đông Phương bởi nghệ nhân ghép ảnh người sloveni là linh mục dòng Tên Marco Rupnik.

Đây là lần thứ hai một tổng giám mục Châu Phi giảng tĩnh tâm ở Vatican. Vào năm 1984 ĐHY Alexandre do Nascimento, tổng giám mục Lubango ở Angola được Đức Gioan Phaolô II chỉ định giảng tĩnh tâm cho giáo triều.

Xuanbichvietnam

->Đọc thêm...

Mùa chữ U


Hồi còn nhỏ, tôi không thích Mùa Chay, có lẽ bởi cái danh từ mùa chay sao quá là xa lạ và khó hiểu với một cậu bé khoảng chín mười tuổi. Tôi nhớ hồi đó tôi cứ hay vớ vẩn thắc mắc, “Giời ạ! Mùa Chay là mùa gì vậy cà? Mà tại sao vào Mùa Chay lại phải ăn chay? Mà ăn chay là ăn cái gì vậy? Là ăn trái chay?” Trái chay, tôi không biết, và cũng chưa bao giờ thấy. Tôi chạy khắp cùng thiên hạ hỏi,

— Ủa, trái chay là cái trái gì vậy?

Không ai biết. Cuối cùng tôi ngớ ngẩn tưởng ăn chay là ăn cháy. Tại sao lại lẫn lộn chữ chay với chữ cháy? Tôi đoán có thể tại hai âm chay và cháy tương tự như sau. Mà cũng có thể tại người chị lớn tuổi của tôi hồi đó tinh nghịch nói ăn chay nghĩa là ăn cháy. Mùa Chay tới, mấy lần mẹ tôi hỏi ăn chay chưa. Tôi nghiêm trang, đạo đức, thánh thiện nói con ăn rồi. Nhưng thật sự ra tôi ăn những miếng cháy của đáy nồi cơm. Và tôi gọi đó là ăn chay.

II. Mùa Chay

A. Ý Nghĩa của Danh Từ Chay

Chữ chay của danh từ Mùa Chay có thể phát nguồn từ chữ trai, có nghĩa là không thịt. Khi người ta nói tín hữu Phật tử dâng đồ trai cho các vị hòa thượng, đồ trai đây là thức ăn không có thịt hay đồ chay. Một cách tương tự, ăn chay có nghĩa là ăn thức ăn không có thịt. Mùa Chay trong tiếng Việt Nam do đó có nghĩa là Mùa Kiêng Thịt..

B. Mùa Chay, Mùa U-Turn, Mùa Làm Đường Vòng U

Mùa Chay trong tiếng Hy Lạp, μετάνοια, métanóia, không có nghĩa là Mùa Kiêng Thịt, nhưng là Mùa Thay Đổi [tâm hồn]. Gioan Tẩy Giả trong hoang địa kêu gọi dân chúng μετάνοια, thay đổi tâm hồn đợi chờ ngày Chúa đến (Máccô 1:1-8). Ngôn sứ Giô-el kêu gọi dân Do Thái hãy μετάνοια, hãy quay về với Chúa; hãy xé lòng đừng xé áo (Giô-el 2:13). Trong phạm trù thần học, Mùa Chay do đó là Mùa U-Turn hay Mùa Làm Một Đường Vòng Chữ U.

Chúng ta có một người bạn thân nhà nằm ở phía Đông. Thứ Bẩy cuối tuần rảnh rỗi, chúng ta muốn ghé nhà người bạn thăm hỏi. Trong khi đang lái xe, có thể tại trời tối, chúng ta lạc đường. Nhà người bạn ở phía Đông, chúng ta lại nhắm hướng Tây lái tới. Trong tình trạng này, nếu không làm một đường vòng chữ U, càng lúc chúng ta càng đi xa nhà của người bạn. Nếu người chúng ta muốn gặp là một người tình thì lại càng rắc rối to. Hẹn nhau sáu giờ chiều, hai đứa đi shopping, đi ăn, rồi đi coi xi-nê. Nhưng vô tình hay bởi một lý do gì đó, chúng ta lạc đường xa ngàn dặm. Nhà người tình nằm ở hướng Đông, nhưng chúng ta tiếp tục lái về hướng Tây. Trời buổi chiều, màn đêm kéo xuống thật nhanh. Sáu giờ rồi, trời tối nhưng chúng ta vẫn còn đang lang thang trên một con đường có cái tên lạ hoắc nằm ở hướng Tây. Ngôi nhà quen thuộc của tình nhân thì vẫn chưa thấy bóng. Trong khi đó tình nhân ở trong nhà đi ra đi vô chờ đợi. Nước mắt của tình nhân long lanh trên gò má. Nhấc điện thoại lên, tình nhân bấm số gọi. Đầu dây bên kia, không ai nhấc điện thoại, bởi tình lang đang lạc đường. Trong tình trạng này, chắc chắn tình lang sẽ mất tình nhân như chơi.

Một cách tương tự, Mùa Chay là mùa Giáo Hội kêu gọi chúng ta, “Lạc đường rồi! Lạc xa lắm rồi! Chúa đang ở hướng Ðông, nhưng chúng ta đang tiếp tục đi về hướng Tây. Lạc đường rồi! Lạc xa lắm rồi! Hãy quay lại hướng của Chúa”.

III. Thần Học Mùa Chay

Ðọc tới những hàng chữ trên đây, có thể bạn sẽ thắc mắc,

— Ủa, lạ kỳ chưa. Tôi đang sống một đời sống tôn giáo tốt đẹp kia mà. Tôi không đi lễ hằng ngày như hồi còn bên Việt Nam nữa, nhưng tôi vẫn đi lễ mỗi ngày Chúa Nhật. Tôi vẫn rước lễ mỗi khi có dịp tham dự thánh lễ, đặc biệt là thánh lễ ngày Chúa Nhật. Đời sống bên này bận rộn với công ăn việc làm. Tôi làm ngày hai jobs; về tới nhà mệt xỉu, thở không ra hơi, nhưng tôi vẫn cố gắng để dành thì giờ cho Chúa bằng cách tham gia vào Thiếu Nhi Thánh Thể, Ca Ðoàn, Ban Giáo Lý, Linh Thao, Dòng Ba Đa Minh, Lêgiô, hoặc Hội Đồng Mục Vụ của giáo xứ.

Đúng, bạn nói rất đúng. Nhưng nếu mang lên bàn mổ phân tích, bạn và tôi sẽ nhận ra rằng trong đời sống riêng tư của mỗi người, chúng ta đang dần dần quên đi thật sự ra Chúa mới là cùng đích, là điểm nhắm của mỗi người trong chúng ta. Có thể đối với một vài người Việt Nam đang sinh sống trên những vùng mới, hình như Thiên Chúa không còn là điểm nhắm để chúng ta đi tới nữa, nhưng là nhà cửa, là tiền, là công ăn việc làm, là con cái.

A. Nhà Cửa, Tiền, và Jobs

Dì Tư qua sau, mãi đến đầu năm 98 mới bước chân được tới vùng đất mới theo diện H.O. của chú Tư. Năm năm sau dì Tư đã mua được một căn nhà 5 phòng nằm trong khu nhà giầu. Chúng ta, tái định cư tại vùng đất mới hơn mười năm về trước, thế mà từ bao lâu nay vẫn cứ loay hoay đi ra đi vô trong khu chung cư rẻ tiền. Để cố gắng vớt vát lại danh dự, chúng ta cố gắng bóp bụng tiết kiệm để dành tiền bạc. Ngày nắng cũng như ngày mưa, chúng ta lái xe đi làm, vợ chồng thay phiên nhau cày hai jobs. Có công mài sắt, có ngày nên kim. Cuối cùng chúng ta cũng mua được căn nhà lý tưởng ngon hơn căn nhà của dì Tư. Căn nhà này có 6 phòng ngủ, 3 phòng tắm, đằng sau có hồ bơi. Cạnh hồ bơi là hồ tắm nước nóng Jacuzzi sủi bọt. Cạnh hồ bơi là hồ cá nhỏ tung tăng những chú cá Koi mập mạp bơi qua lượn lại dưới chiếc cầu sơn mầu đỏ kiểu Đông Phương. Thế là căn nhà mơ ước đã biến thành sự thực.

Nhà có rồi, bây giờ làm sao có tiền để trả tiền nhà, tiền điện thoại, tiền nước, tiền điện, tiền rác, tiền ăn, tiền bảo hiểm, tiền trả góp cho bộ ghế salông bằng da đắt tiền trong căn phòng khách sang trọng, cho bộ TV màn ảnh Plasma kiểu mới rõ từng nét nằm chễm chệ ngay góc nhà bên cạnh lò sưởi tí tách thơm tho mùi gỗ thông, cho chiếc xe Lexus ghế da loại mới đắt tiền đang khoe mình trong nhà để xe? Đủ thứ tiền phải suy nghĩ tới, phải bận tâm vào mỗi buổi chiều khi mở hộp thư ra ôm vào một đống bill. An cư lạc nghiệp với một đời sống cơm ngon áo đẹp vẫn là điều Thiên Chúa muốn mọi người trong chúng ta phải có, nên có. Nhưng chuyện đầu tiên vẫn là chuyện tiền đâu để thanh toán cho một đống bill nợ nần?

Nhà có rồi. Căn nhà sang trọng càng trở nên sang trọng với những tiện nghi tân kỳ. Bây giờ chúng ta cần phải có công ăn việc làm vững chắc; nếu không, những thứ chúng ta đang có sẽ biến mất. Thế là chúng ta dậy sớm, tắm rửa, vừa uống café vừa lái xe tới hãng. Sáng sớm những dòng xe cộ đông đảo đang đợi chờ chúng ta trên những xa lộ chằng chịt dọc ngang. Từng chút rồi từng chút, chiếc xe của chúng ta nhích lên được một khoảng. Từng khoảng rồi từng khoảng, chiếc xe của chúng ta bỏ lại đằng sau một đoạn. Từng đoạn ngắn nối lại hóa thành một đoạn dài. Xe chúng ta cuối cùng dừng lại trước cửa hãng. Một ngày tám tiếng, đôi khi hơn tám tiếng, chúng ta bận rộn trong công sở. Chiều về tới nhà, chúng ta mệt nhoài. Giờ này phải nấu cơm cho con cái. Sau giờ cơm, chúng ta bận rộn với rửa chén, hút bụi, lau nhà, giặt quần áo cho con cái. Điện thoại gọi tới, “Reng! Reng! Hê-lô? Xin lỗi…” Chấm dứt câu chuyện với ông nội, bà ngoại bên Việt Nam, chúng ta ra sau vườn tưới nước, nhặt một vài ngọn cỏ. Vô nhà, chúng ta bật TV coi. Loay hoay một hồi với nhà với cửa, với con, với cái, với họ hàng, và với chính chúng ta. Nhìn lên đồng hồ, mười một giờ khuya. Chúng ta leo lên giường đi ngủ. Một ngày trôi qua.

B. Con Cái

Con Mai, cô con gái rượu ngày càng lớn, chúng ta càng có những mối lo canh cánh bên lòng. Đôi khi nhấc điện thoại, chúng ta nhận ra những giọng thanh niên lạ hoắc xin được gặp con Mai. Con Mai gần đây bắt đầu biết trang điểm. Tóc dài của nó ngày càng óng ả mỡ màng với bộ ngực nở nang, dáng điệu của một người thiếu nữ. Cuối tuần quần là áo lượt con Mai xin phép được tham dự bữa tiệc sinh nhật của những người bạn học trong trường. Và thế chúng ta bắt đầu lo lắng.

Thằng Thanh, đứa con trai đầu lòng râu bắt đầu mọc xanh trên mép. Hỏi chuyện, nhiều khi nó lười biếng không thèm trả lời. Thời gian gần đây thằng Thanh hay về khuya. Nó mở cửa bước vô nhà, chúng ta ngửi được mùi khói thuốc phảng phất bay ra từ người đứa con trai đang lớn. Lúc nãy nó xin phép sang nhà thằng bạn học bài. Sao bây giờ quần áo lại vương mùi thuốc lá khét lẹt? Thế là chúng ta trằn trọc cả đêm bởi mùi thuốc lá trên người của đứa con trai đang lớn.

C. Thanh Niên Thiếu Nữ

Riêng những người thanh niên thiếu nữ, chúng ta chưa có nhiều lo toan tính toán như cha mẹ của mình, nhưng ai cũng ôm ấp cho mình một vài dự án về tương lai. Những người còn đang tuổi đi học, chúng ta ngày đêm miệt mài với sách vở. Những bài homework, bài test là những mối bận tâm hàng đầu của thanh niên thiếu nữ còn đang trong tuổi cắp sách đến trường. Những đêm thức trắng học bài thi là những bận rộn thường xuyên của tuổi sinh viên. Những ngày nghỉ cuối tuần là thời gian quý báu cho những hẹn hò đôi lứa, cho những tiệc tùng sinh nhật, và những ánh đèn xanh đỏ chớp sáng trên sàn nhẩy. Những ngày nghỉ cuối tuần, chúng ta đi shopping malls tìm kiếm mua cho được những bộ quần áo. Tầm thường ra cũng phải là của Gap, của Polo, Tommy Hilfiger. Sang trọng hơn, chúng ta nhất định phải mua quần áo, kiếng mắt của CK, Express, French Connection, Kenneth Cole, Banana Republic, Versace, Gucci.

Chuẩn bị cho ngày ra trường, chúng ta bắt đầu lao vào cuộc đua mới. Lần này, chúng ta tranh đua với các bạn đồng nghiệp đang chuẩn bị đội mũ Cử Nhân. Nếu may mắn, điểm GPA ra trường cao, 4.0 tuyệt vời hoặc 3.7, 3.8 trở lên, với cái mộc vàng chóe dán dính trên mảnh bằng Kỹ Sư Điện của đại học Berkeley hay San Jose State University của Trung Tâm Điện Tử Silicon, chúng ta cầm chắc một mảnh đời tươi sáng trước mặt. Với điểm GPA khá cao, chưa ra trường, qua một vài lần phỏng vấn chơi chơi với những đại công ty điện toán ngay tại trường, nhân viên phỏng vấn đã nhẹ nhàng cười mím chi duyên dáng với chúng ta. Những ánh mắt hứa hẹn, những cú điện thoại liên tục gọi tới, và chúng ta trở thành kỹ sư ngay khi chưa ra trường. Nếu chúng ta ít may mắn hơn, điểm GPA thấp hoặc thấp vô cùng, có thể chúng ta sẽ khá vất vả lùng kiếm công ăn việc làm. Nếu không may mắn có những người bạn đang làm trong hãng dẫn vào giới thiệu, cuộc sống kỹ sư của ta sẽ khá long đong lận đận.

Nhưng rồi cuộc đời vẫn lăn tới. Cuối cùng cuộc sống độc thân cũng chấm dứt khi chúng ta lập gia đình. Đám cưới tưng bừng với cô dâu mặc áo trắng toát, chú rể đẹp trai cười tươi. Tuần trăng mật tới. Nối tiếp là tuần dập mật! Theo sau là tuần nát mật! Đôi vợ chồng mới cưới bắt đầu đi kiếm một căn nhà mới tinh. Câu chuyện đầu tiên lại là câu chuyện tiền đâu. Và cuộc sống lo toan của bố mẹ chúng ta ngày xưa lại bắt đầu.

Cứ vậy, cuộc sống lăn tới. Ngồi xét lại trong một khoảng thời gian, từ khi chúng ta cắp sách đến trường đại học của tuổi mười chín đến khi chúng ta trở về với cát bụi của tuổi một trăm, chúng ta để dành cho Thiên Chúa được bao nhiêu khoảng thời gian ngoại trừ một tiếng đồng hồ của ngày Chúa Nhật. Mà hình như một khoảng thời gian ngắn ngủi này cũng không bao giờ trọn vẹn. Chúng ta đi lễ ngày Chúa Nhật. Thánh lễ dài khoảng một tiếng. Ông cha giảng dài ơi là dài! Thế là chúng ta chìm vào giấc ngủ. Tỉnh dậy, chúng ta mơ màng nghĩ tới những công chuyện phải giải quyết. Ngày mai, thứ Hai, một đống giấy tờ đang đợi chờ chúng ta ở trong hãng. Lát nữa, về tới nhà, lại cả một đống chuyện đang chờ đợi chúng ta. Đời sống hình như quá ngắn, mà sao công việc lại quá nhiều. Tối đến, nhắm mắt lại vẫn còn thấy chuyện. Ngủ cũng không yên. Trong một ngày, hai mươi bốn tiếng đồng hồ, chúng ta nhớ tới Chúa, cùng đích của đời sống trong vòng bao nhiêu phút? Cuối cùng ngày đó rồi cũng tới. Chúng ta mở mắt ra. Gần một trăm năm đã trôi qua.

Nếu chúng ta cứ tiếp tục sống, cách sống vừa được diễn tả ở trên, chúng ta đang lái xe về hướng Tây. Vào mỗi sáng sớm của một khoảng thời gian ngắn ngủi trong đời người, chúng ta mải miết nhấn ga nhắm hướng Tây lái tới. Ngày cuối cùng rồi cũng đã tới. Vào ngày đó, chúng ta mới nhận ra hướng Tây không phải là hướng của Chúa. Ngài nằm ở hướng Đông. Khi đó trễ rồi! Quá trễ! Trước mặt chúng ta không có ai khác ngoài chính mình. Giờ này chỉ còn ta với ta. Chúa ơi, Ngài đang ở đâu?

Bởi vậy, Giáo Hội thiết lập Mùa Chay, Mùa U-Turn, Mùa Làm Đường Vòng Chữ U. Dừng lại! Quay lại! Xa quá rồi! Chúng ta đang lái lạc đường! Quay lại về hướng Đông, hướng của Thiên Chúa.

Lời Nguyện

Lạy Chúa, trong Mùa Chay thánh này, xin giúp con nhận ra hành trình con đang bước đi không dẫn con tới gần Chúa, nhưng vực sâu núi thẳm, đêm đen tử thần, và bóng tối sự chết. Lạy Chúa, xin ban cho con lòng quyết tâm đứng dậy, làm một đường vòng hình chữ U, quay trở về lại căn nhà xưa, nơi đó Chúa đang đứng, trông chờ ngóng đợi, dõi mắt nhìn bóng dáng của con.
Nguyễn Trung Tây, SVD
VietCatholic News (23 Feb 2009 14:02)

->Đọc thêm...

24.2.09

SỨ ĐIỆP MÙA CHAY 2007 CỦA ĐỨC THÁNH CHA BIỂN ĐỨC 16_Orędzie Benedykta XVI na Wielki Post


Sáng ngày 13-2-2007, Đức TGM Paul Cordes, người Đức, Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh Cor Unum (Đồng Tâm), đã mở cuộc họp báo tại Vatican để giới thiệu Sứ điệp của ĐTC Biển Đức 16 nhân dịp Mùa Chay sắp bắt đầu từ ngày 21-2 đến 8-4-2007, với chủ đề ”Chúng sẽ nhìn Đấng chúng đâm thâu qua” (Jn 19,37). Sau đây là bản dịch nguyên văn Sứ điệp của Đức Thánh Cha.

Anh chị em thân mến,

”Họ sẽ nhìn Đấng chúng đâm thâu qua ” (Jn 19,37). Đó là đề tài Kinh Thánh hướng dẫn suy tư của chúng ta trong mùa chay năm nay. Mùa chay là thời điểm thuận tiện để học cách ở với Mẹ Maria và Thánh Gioan, người môn đệ yêu dấu, cạnh Đấng ở trên Thập giá,
hoàn tất sự hy sinh mạng sống vì toàn nhân loại (cf Jn 19,25). Vì thế, với tâm tình tham gia sốt sắng hơn, trong mùa thống hối và cầu nguyện này, chúng ta hãy nhìn lên Chúa Kitô chịu đóng đanh, khi chịu chết trên đồi Canvê, Ngài đã biểu lộ trọn vẹn cho chúng ta tình yêu của Thiên Chúa. Trong Thông Điệp ” Deus caritas est ” (Thiên Chúa là Tình Thương), tôi đã bàn về đề tài tình thương và nêu rõ hai hình thức cơ bản là Agape và Eros.

Tình thương của Thiên Chúa: Agape và Eros

Từ ” Agape' , xuất hiện nhiều lần trong Tân Ước, chỉ tình yêu tự hiến của một người chỉ tìm kiếm điều thiện hảo cho tha nhân. Trái lại, từ Eros , chỉ tình yêu của một người muốn chiếm hữu điều mà mình thiếu và mong ước kết hiệp với người mình yêu. Tình yêu mà Chúa bao bọc chúng ta chắc chắn là Agape . Thực vậy, con người có thể cho Thiên Chúa điều gì mà Ngài không sở hữu? Tất cả bản chất con người và những gì con người sở hữu đều là do Chúa ban. Vì thế, chính thụ tạo cần đến Thiên Chúa trong mọi sự. Nhưng tình yêu của Thiên Chúa cũng là Eros . Trong Cựu Ước, Đấng Tạo dựng vũ trụ biểu lộ cho dân Ngài chọn như dân riêng, một sự yêu thương đặc biệt vượt lên trên mọi động lực phàm trần. Ngôn sứ Osea biểu lộ sự say mê của Thiên Chúa qua những hình ảnh táo bạo như tình yêu của một người nam đối với một phụ nữ ngoại tình (cf 3,1-3). Về phần Ngôn sứ Ezechiel, khi nói về quan hệ của Thiên Chúa với dân Israel, đã không ngại dùng ngôn từ nồng nhiệt và đam mê (cf 16,1-22). Các văn bản Kinh Thánh ấy chứng tỏ rằng Eros thuộc về chính trái tim Thiên Chúa: Đấng Tối Cao chờ đợi sự ưng thuận nơi các thụ tạo của Ngài như một hôn phu trẻ chờ đợi sự ưng thuận của hôn thê. Đáng tiếc thay, ngay từ khởi thủy, nhân loại bị sự gian dối của Ma quỉ quyến rũ, đã khép kín đối với tình yêu Thiên Chúa trong ảo tưởng của một thái độ tự mãn về một điều không thể có được (cf Gn 3,1-7). Khi com cụm vào mình, Adam xa rời nguồn mạch sự sống là chính Thiên Chúa, và trở thành người đầu tiên trong số ”những người vì sợ chết nên bị cầm giữ trong sự nô lệ suốt đời” (Do thái 2,15). Nhưng Thiên Chúa không chịu thua. Trái lại, sự khước từ của con người là một động chủ yếu khiến Chúa biểu lộ tình yêu của Ngài với tất cả sức mạnh cứu độ.

Thánh Giá biểu lộ tình yêu sung mãn của Thiên Chúa

Chính trong mầu nhiệm Thập Giá mà quyền toàn năng của lòng từ bi Chúa Cha trên đời được biểu lộ trọn vẹn. Để tái thu phục tình yêu của thụ tạo, Ngài chấp nhận trả giá rất cao là Máu Con duy nhất của Ngài. Sự chết, đối với Adam đầu tiên là dấu chỉ tột cùng của sự cô đơn và bất lực, ngay được biến thành hành vi tột đỉnh của yêu thương và tự do của Adam mới. Vì thế, ta có thể quả quyết rất đúng, cùng với thánh Maximô Vị Hiển Tu, rằng Chúa Kitô ”đã chết một cách thần linh, nếu ta có thể nói được như vậy, vì Ngài tự nguyện chết” (Ambigua , 91,1956). Trên Thánh Giá, Eros của Thiên Chúa đối với chúng ta được biểu lộ. Thực vậy, như Pseudo Dionysius đã nói, Eros là sức mạnh ”không để cho người yêu ở lại trong mình nhưng thúc đẩy để để họ trở thành một với người yêu” (De Divinis nominicus , IV, 13: PG 3,712). Có Eros nào điên rồ (N.Cabasilas, Vita in Cristo, 648) hơn là điều đã làm cho Con Thiên Chúa trở thành một với chúng ta đến độ chịu đau khổ vì hậu quả tội lỗi chúng ta như của chính Ngài?”

”Đấng mà họ đã đâm thâu qua”

Anh chị em thân mến, chúng ta hãy nhìn lên Chúa Kitô chịu đâm thâu qua trên Thánh Giá! Ngài là mạc khải tột đỉnh về tình yêu Thiên Chúa, một tình yêu vừa là Eros vừa là Agape , chúng không đối nghịch nhau nhưng soi sáng cho nhau. Trên Thánh Giá, chính Thiên Chúa xin tình yêu của các thụ tạo: Ngài khao khát tình yêu của mỗi người chúng ta. Thánh Tôma Tông Đồ đã nhìn nhận Đức Giêsu là ”Chúa và là Thiên Chúa” khi xỏ ngón tay vào cạnh sườn Người. Không lạ gì, nhiều vị thánh đã tìm thấy nơi trái tim Chúa Giêsu biểu hiện cảm động nhất của mầu nhiệm tình yêu ấy. Ta có thể nói đúng rằng mạc khải về Eros của Thiên Chúa đối với con người, trong thực tế, chính là biểu hiện tột đỉnh Agape của Ngài. Nói cho cùng chỉ có tình yêu liên kết sự tự hiến với ước muốn say mê mong được đáp trả, mới gợi lên một niềm vui, làm nhẹ những gánh nặng nhất, Chúa Giêsu đã nói: ”Khi Ta bị treo lên khỏi mặt đất, Ta sẽ kéo mọi người đến cùng Ta” (Jn 12,32). Câu trả lời mà Chúa nồng nhiệt ao ước từ chúng ta trước tiên là chúng ta đón nhận tình yêu của ngài và để cho mình được lôi kéo đến gần Ngài. Tuy nhiên, chấp nhận tình yêu của Chúa vẫn chưa đủ. Chúng ta cần đáp lại và dấn thân thông truyền tình yêu ấy cho tha nhân. Chúa Kitô ”lôi kéo tôi đến cùng Ngài” để liên kết với tôi, để tôi học yêu thương anh chị em với cùng một tình yêu của Ngài.

Máu và nước

” Họ sẽ nhìn Đấng mà họ đã đâm thâu qua ”. Chúng ta hãy tín thác nhìn cạnh sườn Chúa Giêsu bị đâm thâu qua, từ đó ”máu và nước chảy ra” (Jn 19,34)! Các Giáo Phụ đã coi các yếu tố này như biểu tượng của bí tích Rửa Tội và Thánh Thể. Với nước của Bí tích Rửa tội và nhờ tác động của Chúa Thánh Linh, chúng ta được bước vào tình yêu thân mật của Ba Ngôi Thiên Chúa. Trong hành trình mùa chay, nhớ đến bí tích rửa tội đã lãnh nhận, chúng ta được nhắn nhủ ra khỏi chính mình để cởi mở, tin tưởng phó thác mình vào vòng tay từ bi của Chúa Cha (cf Thánh Gioan Kim Khẩu, Huấn GIáo , 3,14tt). Máu, biểu tượng tình yêu của vị Mục Tử Nhân Lành, đặc biệt chảy tới chúng ta trong Mầu Nhiệm Thánh Thể: ”Thánh Thể lôi kéo chúng ta vào trong hành vi dâng hiến của Chúa Giêsu... Chúng ta được can dự vào năng động hiến dâng của Ngài” (Thông điệp Deus Caritas est, 13). Vì vậy chúng ta hãy sống Mùa chay như một mùa ”Thánh Thể”, trong đó, khi đón nhận tình yêu của Chúa Giêsu, chúng ta học cách thông truyền tình yêu ấy quanh chúng ta, bằng mọi hành động và lời nói. Sự chiêm ngắm ”Đấng mà họ đã đâm thâu qua” sẽ thúc đẩy chúng ta đến độ mở rộng tâm hồn cho tha nhân nhìn nhận những vết thương gây ra cho phẩm giá con người; sự chiêm ngắm ấy đặc biệt thúc đẩy chúng ta chiến đấu chống lại mọi hình thức khinh rẻ sự sống và bóc lột con người, cũng như thoa dịu thảm trạng cô đơn và bị bỏ rơi của bao nhiêu người. Ước gì mùa chay đối với mỗi Kitô hữu là một kinh nghiệm được đổi mới về tình yêu của Thiên Chúa được ban cho chúng ta trong Chúa Kitô, tình yêu mà mỗi ngày chúng ta phải ”trao lại” cho tha nhân, nhất là những người đau khổ và túng thiếu nhất. Chỉ như thế chúng ta mới có thể tham dự trọn vẹn vào niềm vui của Lễ Phục Sinh. Xin Mẹ Maria, Mẹ của tình yêu tươi đẹp, hướng dẫn chúng ta trong cuộc hành trình này của Mùa Chay, hành trình thực sự trở về với tình yêu Chúa Kitô. Anh chị em thân mến, tôi cầu chúc anh chị em một hành trình mùa chay đầy thành quả đốt đẹp, đồng thời thân ái gửi đến tất cả anh chị em Phép lành Tòa Thánh đặc biệt.

Vatican ngày 21-11-2006
Biển Đức 16, Giáo Hoàng
G. Trần Đức Anh OP chuyển dịch
Oto pełny tekst papieskiego orędzia:

Drodzy bracia i siostry!

Na początku Wielkiego Postu, który jest drogą intensywnego przygotowania duchowego, Liturgia zachęca nas do trzech praktyk pokutnych, bardzo bliskich biblijnej i chrześcijańskiej tradycji – modlitwy, jałmużny i postu – abyśmy jak najlepiej mogli przygotować się do obchodów Świąt Wielkanocy i doświadczyć mocy Boga, który – jak będziemy słuchać podczas Wigilii Paschalnej - “oddala zbrodnie, z przewin obmywa, przywraca niewinność upadłym, a radość smutnym, rozprasza nienawiść, usposabia do zgody i ugina potęgi” (Exultet).
W tradycyjnym Orędziu na Wielki Post, chciałbym w tym roku w szczególny sposób rozważyć wartość i sens postu. Wielki Post bowiem przywodzi na myśl 40-dniowy post, jaki Pan odbył na pustyni przed rozpoczęciem swojej publicznej działalności. W Ewangelii czytamy: “Wtedy Duch wyprowadził Jezusa na pustynię, aby był kuszony przez diabła. A gdy przepościł czterdzieści dni i czterdzieści nocy, odczuł w końcu głód” (Mt 4, 1-2). Podobnie jak Mojżesz przed otrzymaniem Tablic Dekalogu (por. Wj 34, 28), podobnie jak Eliasz zanim spotkał Boga na górze Horeb (por. 1 Krl 19, 8), tak i Jezus modląc się i poszcząc przygotowywał się do swojej misji, której początkiem było trudne starcie z kusicielem.

Możemy sobie zadać pytanie, jaką wartość i jaki sens ma dla nas, chrześcijan, rezygnacja z czegoś, co samo w sobie jest dobre i pozwala nam żyć. Pismo Święte i cała chrześcijańska tradycja uczą, że post pomaga unikać grzechu i tego wszystkiego, co do niego prowadzi. Dlatego też w historii zbawienia wielokrotnie odnajdujemy zachętę, by pościć. Już na pierwszych stronicach Pisma Świętego Bóg nakazuje człowiekowi, by nie jadł owocu zakazanego: “Z wszelkiego drzewa tego ogrodu możesz spożywać według upodobania; ale z drzewa poznania dobra i złego nie wolno ci jeść, bo gdy z niego spożyjesz, niechybnie umrzesz” (Rdz 2, 16-17). Komentując Boży nakaz, św. Bazyli zauważa, że “post został nakazany w Raju”, a “pierwsze takie polecenie zostało wydane Adamowi”. I kończy tak: “zakaz »nie wolno ci jeść« jest zatem prawem postu i wstrzemięźliwości” (por. Sermo de jejunio: PG 31, 163, 98). Zważywszy na to, że wszyscy jesteśmy obciążeni grzechem i jego konsekwencjami, post jest nam dany jako środek pozwalający odnowić przyjaźń z Bogiem. Tak uczynił Ezdrasz przed powrotem do Ziemi Obiecanej z wygnania, zachęcając zgromadzony lud do postu, “byśmy się umartwili – mówi - przed Bogiem naszym” (Ezd 8, 21). Wszechmocny wysłuchał ich modlitwy oraz zapewnił swoją przychylność i opiekę. Podobnie zachowali się mieszkańcy Niniwy, którzy posłuchali Jonaszowego wezwania do pokuty i na znak szczerości ogłosili post, mówiąc: “Kto wie, może się odwróci i ulituje Bóg, odstąpi od zapalczywości swego gniewu, a nie zginiemy?” (Jon 3, 9). Również wtedy Bóg wejrzał na ich czyny i ich oszczędził.

W Nowym Testamencie Jezus ukazuje głęboką przyczynę postu, piętnując zachowanie faryzeuszy, którzy skrupulatnie przestrzegali nakazów prawa, choć ich serca były od Boga daleko. Prawdziwy post, powtarza w innym jeszcze momencie Boski Nauczyciel, to wypełnianie woli Ojca Niebieskiego, który “widzi w ukryciu i odda tobie” (Mt 6, 18). On sam daje tego przykład odpowiadając szatanowi, po 40 dniach spędzonych na pustyni, że “nie samym chlebem żyje człowiek, lecz każdym słowem, które pochodzi z ust Bożych” (Mt 4, 4). Celem prawdziwego postu jest zatem spożywanie “prawdziwego pokarmu”, którym jest pełnienie woli Ojca (por. J 4, 34). Skoro więc Adam nie posłuchał nakazu Boga, by “nie spożywać owocu z drzewa poznania dobra i złego”, człowiek wierzący poprzez post pragnie z pokorą zawierzyć się Bogu, ufając w Jego dobroć i miłosierdzie.

Praktyka postu była bardzo rozpowszechniona we wspólnocie pierwszych chrześcijan (por. Dz 13, 3; 14, 22; 27, 21; 2 Kor 6, 5). Również Ojcowie Kościoła mówią o mocy postu, która chroni przed grzechem, tłumi pragnienia “starego Adama” i przeciera w sercach ludzi wierzących drogę ku Bogu. Post jest także częstą praktyką świętych wszystkich epok i przez nich zalecaną. Św. Piotr Chryzolog napisał: “Duszą modlitwy jest post, a życiem postu miłosierdzie. Kto się więc modli, niech pości, a kto pości, niech spełnia uczynki miłosierdzia, niech wysłucha proszącego, który chce być słyszany. W ten sposób otwiera dla siebie uszy Boga, który nigdy się nie zamyka na głos błagającego” (Kazanie 43: PL 52, 320.332).

Wydaje się, że w obecnych czasach zmniejszyło się nieco znaczenie duchowe praktyki postu, a stała się ona raczej – w kulturze zdominowanej przez poszukiwanie dobrobytu materialnego – środkiem terapeutycznym wspomagającym pielęgnację własnego ciała. Poszczenie służy oczywiście dobrej kondycji fizycznej, ale dla ludzi wierzących stanowi w pierwszej kolejności “terapię” pomagającą leczyć to wszystko, co uniemożliwia wypełnianie woli Boga. W Konstytucji Apostolskiej Paenitemini z 1966 r., Sługa Boży Paweł VI stwierdził, że należy postrzegać post w kontekście powołania każdego chrześcijanina, który “nie dla siebie (...) żyć winien, ale dla Boga, który go umiłował i za niego wydał samego siebie, żyć też winien dla braci” (por. Rozdz. I). Wielki Post mógłby być dobrą okazją do przypomnienia sobie zasad zawartych w cytowanej Konstytucji Apostolskiej, podnosząc tym samym wartość autentycznego i niezmiennego znaczenia tej pradawnej praktyki pokutnej, która może nam pomóc zadać śmierć naszemu egoizmowi i otworzyć serce na miłość Boga i bliźniego, co stanowi pierwsze i najważniejsze przykazanie nowego Prawa, a zarazem kompendium całej Ewangelii (por. Mt 22, 34-40).

Skrupulatne przestrzeganie postu przyczynia się ponadto do nadania osobie – jej ciału i duszy – spójności, co pomaga jej unikać grzechu i wzrastać w zażyłości z Bogiem. Św. Augustyn, który dobrze znał własne złe skłonności i nazywał je “węzłem zawikłanym i splątanym” (Wyznania, II, 10.18), w traktacie o “Użyteczności postu” pisał: “Zadaję sobie wielkie udręki, aby On mi przebaczył, sam siebie karzę, aby On mi pomógł, by znalazł we mnie upodobanie, by zaznać Jego słodyczy” (Sermo 400, 3, 3: PL 40, 708). Odmawianie sobie pokarmu materialnego, który żywi ciało, umacnia wewnętrzną gotowość do słuchania Chrystusa i żywienia się Jego zbawczym słowem. Przez post i modlitwę pozwalamy, by On przychodził i by zaspokajał największy głód, jakiego doświadczamy w naszym wnętrzu: głód i pragnienie Boga.

Jednocześnie post pomaga nam uświadomić sobie, w jakiej sytuacji żyje wielu naszych braci. W Pierwszym Liście św. Jan napomina: “Jeśliby ktoś posiadał majętność tego świata i widział, że brat jego cierpi niedostatek, a zamknął przed nim swe serce, jak może trwać w nim miłość Boga?” (3, 17). Dobrowolny post pomaga nam naśladować styl Dobrego Samarytanina, który pochyla się nad cierpiącym bratem i śpieszy mu z pomocą (por. Enc. Deus caritas est, 15). Nasz wolny wybór, jakim jest rezygnacja z czegoś, aby pomóc innym, w konkretny sposób pokazuje, że bliźni przeżywający trudności nie jest nam obcy. Właśnie po to, by pobudzić do zachowania takiej nacechowanej otwartością i wrażliwością postawy wobec braci, zachęcam parafie i wszystkie inne wspólnoty, żeby w okresie Wielkiego Postu wierni częściej praktykowali post, indywidualnie i wspólnotowo, oddając się ponadto słuchaniu Słowa Bożego, modlitwie i uczynkom miłosierdzia. Taki właśnie był, od początku, styl życia chrześcijańskiej wspólnoty, w której organizowano specjalne zbiórki (por. 2 Kor 8-9; Rz 15, 25-27), a wierni byli zachęcani do oddawania biednym tego, co dzięki postowi udało się odłożyć (por. Didascalia Ap., V, 20,18). Także dziś należy na nowo odkrywać tę praktykę i do niej zachęcać, przede wszystkim podczas liturgicznego okresu Wielkiego Postu.

Z tego, co powiedziałem, jasno wynika, że post jest wartościową praktyką ascetyczną, duchową bronią w walce z wszelkim możliwym, nieuporządkowanym przywiązaniem do nas samych. Dobrowolna rezygnacja z przyjemności, jaką jest jedzenie, i z innych dóbr materialnych pomaga uczniowi Chrystusa panować nad innymi rodzajami głodu osłabionej grzechem pierworodnym natury, którego negatywne skutki odbijają się na całej osobowości człowieka. Do tego też zachęca starożytny liturgiczny hymn wielkopostny: "Utamur ergo parcius, / verbis, cibis et potibus, / somno, iocis et arctius / perstemus in custodia - Ten czas przeżyjmy w skupieniu, krótsze niech będą rozmowy, skromniejsze nasze posiłki, więcej czuwania”.

Drodzy bracia i siostry, jak widzimy, post ostatecznie pomaga każdemu z nas – jak pisał Sługa Boży Papież Jan Paweł II – w czynieniu z siebie całkowitego daru dla Boga (por. Enc. Veritatis splendor, 21). Niech zatem Wielki Post posłuży każdej rodzinie i każdej chrześcijańskiej wspólnocie do oddalenia wszystkiego, co rozprasza ducha, i pogłębienia tego, co karmi duszę otwierając ją na miłość Boga i bliźniego. Myślę szczególnie o intensywniejszej modlitwie, lectio divina, częstszym przystępowaniu do Sakramentu Pojednania oraz aktywnym uczestniczeniu w Eucharystii, a przede wszystkim w niedzielnej Mszy św. Z takim wewnętrznym nastawieniem wejdźmy w pokutny klimat Wielkiego Postu. Niech nam towarzyszy Błogosławiona Dziewica Maryja, Causa nostrae laetitiae, i niech nas wspiera w trudzie wyzwalania serc naszych z niewoli grzechu, by coraz bardziej stawały się “żywym tabernakulum Boga”. Z tymi życzeniami zapewniam o modlitwie, aby każdy wierzący i każda kościelna wspólnota z pożytkiem szli wielkopostną drogą, i z serca udzielam wszystkim Apostolskiego Błogosławieństwa.

Watykan, 11 grudnia 2008

BENEDICTUS PP. XVI


->Đọc thêm...

23.2.09

Tóm tắt cuộc đời ĐHY Phaolô-Giuse Phạm Đình Tụng


Đức Hồng Y Phaolô-Giuse Phạm Đình Tụng, sinh ngày 20.05.1919, trong một gia đình Công giáo đạo đức tại thôn Bình Hoà, xã Yên Thắng, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình, thuộc giáo họ Cầu Mễ, giáo xứ Quảng Nạp, giáo phận Phát Diệm.

Năm 1925 ngài đi học tại trường làng. Năm 1927 ngài được cha nghĩa phụ Phêrô Phạm Bá Trực đưa ra Hà Nội học tại ngôi trường do cha vừa thành lập ở giáo xứ Kẻ Sét.

Thấy ngài ngoan ngoãn, hiền lành, có tư chất thông minh lại ẩn giấu một nghị lực khác người, cha Phạm Bá Trực đã xin cho ngài đi tu và ngài đã trúng tuyển vào Tràng Tập Hà Nội năm 1929.

Năm 1933, ngài là học sinh đầu tiên của Trường Tập Hà Nội thi đậu bằng Certificat d’Étude Primaire và ngài được gọi vào Tiểu Chủng viện Hoàng Nguyên, toạ lạc ở giáo xứ Hoàng Nguyên, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Đông.

Năm 1939, tốt nghiệp Tiểu Chủng viện Hoàng Nguyên, ngài được cử đi phục vụ tại giáo xứ Xuy Xá, thuộc huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Đông. Trong thời gian này, ngài đã đông viên một số học trò theo ơn gọi tu trì, trong số đó ngày nay có người đã làm linh mục.

Năm 1940, ngài được gọi vào Đại Chủng viện Liễu Giai, Hà Nội và ngài theo học chương trình triết học tại đây cho đến năm 1942.

Năm 1942 ngài được Bề trên Địa phận cử đi giúp xứ Khoan Vĩ, thuộc huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, là nơi cha Phêrô Phạm Bá Trực nghĩa phụ của ngài đang làm Chính xứ.

Năm 1943, ngài được trở về Đại Chủng viện Liễu Giai, tiếp tục học thần học. Giữa năm 1945, vì hoàn cảnh đất nước xáo trộn, Đại Chủng viện Liễu Giai phải ngưng hoạt động, các thầy chủng sinh phải tản mác mỗi người một nơi.

Tháng 9 năm 1946, Đại Chủng viện Liễu Giai tái mở cửa, ngài lại trở về Chủng viện. Ba tháng sau, ngày 19.12.1946 chiến tranh bùng nổ, Đại Chủng viện bị tấn công, bị xâm chiếm, việc học của ngài lại bị gián đoạn.

Năm 1948 ngài được Bề trên Giáo phận gửi đi học tiếp chương trình thần học tại Học viện Dòng Chúa Cứu Thế Thái Hà, Hà Nội.

Năm 1949 ngài được Bề trên chuyển về học tại Đại Chủng viện của Giáo phận mới mở ở số 40 Nhà Chung.

Ngày 06/06/1949 ngài được truyền chức linh mục tại nhà thờ Chính Toà Hà Nội.

Năm 1949 ngài được chỉ định làm tuyên úy Cô Nhi viện Têrêxa tại Quần Ngựa.

Năm 1950, ngài được bổ nhiệm làm Phó xứ rồi làm Chính xứ Hàm Long thay thế cha Giuse Maria Trịnh Như Khuê đi làm giám mục Hà Nội. Tại đây, ngoài các việc mục vụ thông thường, ngài còn giúp đỡ các học sinh nghèo tại trường Trần Văn Thưởng và Nhà Bác ái Thánh Vinh Sơn, là hai cơ sở giáo dục và từ thiện của giáo xứ Hàm Long thời bấy giờ.

Năm 1953, ngài thành lập Trung tâm Bái ái-Xã hội Bạch Mai, trên khu đất khoảng 4000 m2, nhằm trợ giúp những người khốn khổ trôi dạt về từ các vùng nông thôn bị đang bị chiến tranh tàn phá.

Năm 1955, ngài được bổ nhiệm làm Giám đốc Tiểu Chủng viện Thánh Gioan Hà Nội- Một Liên Tiểu Chủng viện bao gồm khoảng 200 tiểu chủng sinh của các giáo phận Hà Nội, Bùi Chu, Hải Phòng, Bắc Ninh, Phát Diệm, Thái Bình, Thanh Hoá. Trong số này về sau có hơn 60 người làm linh mục, trong đó có 3 vị làm giám mục.

Năm 1960, khi Tiểu Chủng viện này phải giải tán, trong hoàn cảnh khó khăn, ngài được giao trọng trách kín đáo đào tạo quý thầy Đại Chủng sinh của Tổng Giáo phận Hà Nội-những người lúc này, vì hoàn cảnh xã hội, đang phải sống tản mác tại gia đình.

Năm 1963, ngài đựơc Toà Thánh bổ nhiệm làm Giám mục Giáo phận Bắc Ninh, một địa phận rộng lớn, trống toà từ năm 1954 và có phần lớn diện tích vốn nằm trong vùng kháng chiến của Việt Minh. Giữa những khó khăn trùng trùng điệp điệp, ngài đã chọn cho mình khẩu hiệu: “Chúng con tin ở tình yêu Thiên Chúa” làm hành trang lên đường thi hành sứ vụ.

Năm 1963, ngài đã sáng lập Tu hội Đức Mẹ Hiệp Nhất Bắc Ninh nhằm giúp các chị em tận hiến có điều kiện làm tông đồ tại các xứ đạo và tại các môi trường khác nhau. Ngài cũng kín đáo đào tạo các chủng sinh cho Giáo phận. Năm 1974, ngài đã âm thầm truyền chức linh mục cho 7 thầy bất chấp những nguy hiểm mà chính quyền có thể gây ra cho các tân chức và cho bản thân ngài. Ngài còn trao ban chức thánh cho một số ứng viên của các giáo phận khác ở Miền Bắc, trong đó có cả việc truyền chức giám mục kín đáo cho Đức cha Vinh Sơn Phạm Văn Dụ, Giám mục Lạng Sơn vào năm 1979.

Theo tinh thần của Vatican II, tại giáo phận Bắc Ninh, ngài đã đào tạo tông đồ giáo dân, củng cố các Ban Hành giáo, tổ chức các hội đoàn, quảng bá lòng sùng kính Thánh Tâm và lòng tôn kính Đức Mẹ, canh tân và thích nghi các kinh sách trong Giáo phận. Trong khung cảnh Giáo hội bị cấm cản về phương diện xuất bản và truyền thông, ngài đã soạn thảo Kinh thánh và giáo lý dưới hình thức thơ ca hò vè nhằm phổ biến lời Chúa và giáo lý cách dễ dàng, rộng rãi và hiệu quả cho đông đảo giáo dân.

Trong hơn 30 năm làm Giám mục Bắc Ninh, bằng các sáng kiến mục vụ độc đáo, ngài đã biến Toà Giám Mục trở thành một mái ấm gia đình, nơi chủ chăn và đoàn chiên gặp nhau, cùng nhau chia vui sẻ buồn. Toà Giám Mục cũng trở thành một trung tâm mục vụ, nơi đoàn chiên liên tục được đào tạo và bồi dưỡng đức tin, bất chấp những cấm cản trăm đường của nhà cầm quyền đương thời. Nhờ vậy, qua những thập niên chuyên chính vô sản cách cực đoan, dù thiếu thốn linh mục, giáo dân Bắc Ninh ngày nay vẫn là những người có lòng tin kiên vững, sống đạo đức, nhiệt thành và hết lòng yêu mến Giáo Hội.

Ngày 04.07.1990 Toà Thánh đặt ngài làm Giám quản Tổng Giáo phận Hà Nội, kiêm Giám đốc Đại Chủng viện Hà Nội. Ngày 23.04.1994, vào tuổi 75, thay vì được nghỉ hưu theo Giáo luật, thì Toà Thánh lại đã bổ nhiệm ngài làm Tổng Giám Mục Hà Nội. Đến ngày 26/11/2004 ngài được ĐGH Gioan Phaolô II phong tước Hồng Y tại Rôma. Ngoài ra, ngài sẽ còn nắm các chức vụ quan trọng khác như Chủ tịch HĐGM Việt Nam (1995-2001), Giám quản GP Hưng Hóa (1995), Lạng Sơn (1998), Hải Phòng (1999).

Cùng với việc liên tục thăm viếng, gặp gỡ các thành phần dân Chúa trong Tổng Giáo Phận Hà Nội, ngay khi về làm chủ chăn ở đây, đứng trước tình trạng thiếu thốn nhân sự nghiêm trọng, ngài đã tìm cách gia tăng con số linh mục tu sĩ bằng nhiều cách khác nhau. Ngài đã thu xếp để quý thầy lớn tuổi ở Hà Nội cũng như các giáo phận khác ở Miền Bắc, được theo học các khóa bổ túc, ngắn hạn tại Đại Chủng viện rồi sớm truyền chức linh mục cho quý thầy có điều kiện phục vụ đoàn chiên đông đảo đang đói khát ơn thánh.

Ngài cũng đã nỗ lực cải cách và tái thiết Đại Chủng viện Hà Nội cả về cơ sở vật chất, lẫn về hình thức, nội dung và quy mô đào tạo. Từ đầu những năm 1990, nhờ sự thu xếp của ngài, một số linh mục có khả năng chuyên môn đã có thể từ Miền Nam ra làm giáo sư thỉnh giảng, hoặc giáo sư thường trực tại Đại Chủng viện Hà Nội. Đi xa hơn, trong tư cách Chủ tịch HĐGM Việt Nam, ngài đã đấu tranh để từ năm 1995, các Đại Chủng viện trên cả nước được tuyển sinh 2 năm/ khóa thay vì 6 năm/khóa như trước đó.

Ngài còn nâng đỡ ơn gọi tu trì để đảm bảo nhân sự phục vụ, tạo nên sự đa dạng và phong phú trong Tổng Giáo phận Hà Nội. Nhờ sự hướng dẫn của ngài, từ đầu những năm 1990, Dòng Mến Thánh Giá Hà Nội hằng năm liên tục tuyển sinh, mở tập viện và khấn dòng. Ngài còn lập ra Tu đoàn Nữ Truyền Tin và Tu đoàn Nam Truyền Tin (1996) nhằm mục đích truyền giáo. Hơn nữa, bất chấp ý muốn của chính quyền, ngài còn duy trì được sự hiện diện của DCCT ở Thái Hà và mở đường cho sự hiện diện của trong Dòng Salesien Don Bosco ở Hà Nội.

Nhằm tính chuyện xây dựng Tổng Giáo Phận Hà Nội lâu dài trong tương lai, từ giữa những năm 1990, ĐHY cũng đã gửi một số linh mục đi du học ngọai quốc. Một số vị đã trở về và đã nắm các trọng trách trong Đại Chủng viện như Đức cha Giuse Đặng Đức Ngân, Giám mục Lạng Sơn, nguyên Tổng Đại diện và nguyên Giám đốc Đại Chủng viện Hà Nội; Đức cha Lorenxô Chu Văn Minh, Giám mục Phụ tá Tổng Giáo Phận Hà Nội kiêm Giám đốc Đại Chủng viện Hà Nội.

Ngài đặc biệt lưu tâm đến viện trau dồi đời sống đạo đức cho giáo dân, giáo dục thế hệ trẻ và làm việc bác ái xã hội. Trong chiều hướng này, bên cạnh những lời kêu gọi, hướng dẫn giáo dân, ngài còn phục hồi hay thành lập một số đoàn thể trong Tổng Giáo Phận như Thiếu Nhi Thánh Thể, Hội Dòng ba Phan Sinh, Hội Legio Mariae, Hội Thánh Tâm (1995), Hội Gia đình cùng theo Chúa (2000), Gia đình Thánh Tâm (2003), Hội Sinh viên Công giáo TGP Hà Nội (1998).

Năm 2003, khi Tổng Giáo Phận Hà Nội bắt đầu phục hồi và khi sức khoẻ không còn cho phép ngài phục vụ ở tuổi 84, ngài đã gửi đơn lên Toà Thánh xin nghỉ hưu và được Tòa Thánh chấp thuận vào tháng 4 năm 2003 cùng lúc với việc bổ nhiệm Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt làm Giám quản Tổng Giáo Phận Hà Nội. Trong 6 năm nghỉ hưu tại Toà Tổng Giám Mục Hà Nội, ngài luôn luôn quan tâm theo dõi hiện tình Giáo Hội Việt Nam và âm thầm cầu nguyện cho mọi người.

Ngày chúa nhật ngày 22.02.2009, lúc 10 h 10’, ngài đã được Chúa gọi về trong tình yêu thương chăm sóc và lời nguyện cầu của Đức Tổng Giám Mục Hà Nội Giuse Ngô Quang Kiệt, của quý cha quý thầy quý soeurs phục vụ tại Toà Tổng Giám Mục, hưởng thọ 90 tuổi, trong đó có 80 năm tu hành, 60 năm linh mục, 46 năm giám mục và 15 năm hồng y.

Trong 90 năm làm con chúa, đặc biệt trong tư cách là mục tử, Đức Hồng Y là một nhà tu hành mẫu mực, là một lãnh tụ tôn giáo khôn ngoan, là một tông đồ nhiệt thành và được đồng nghiệp kính trọng, là một nhà giáo dục đào tạo kiên nhẫn, là một chủ chăn hiền hoà và can đảm luôn tận tâm hy sinh phục vụ đoàn chiên, được đoàn chiên thương mến.

Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt viết về ngài nhân dịp mừng thượng thọ cửu tuần của ngài vào năm 2008 rằng: “ …Trong những năm tháng qua, Đức Hồng Y đã cống hiến trọn vẹn cuộc đời cho Chúa, cho Hội Thánh và đã để lại biết bao thành quả mà ngày nay chúng ta được hưởng nhờ.

Ngài là tấm gương sáng cho chúng tá về đời sống thánh thiện đạo đức, về sự tận tuỵ phục vụ Chúa và Hội Thánh, về tầm nhìn xa trông rộng trong việc đào tạo nhân sự, về sự vui lòng chấp nhận thánh ý Chúa và về sự khiêm nhường quên mình sâu xa.

Ngài là món quà quý giá Chúa tặng ban cho chúng ta. Qua ngài, biết bao ơn phúc của Chúa đổ tràn trên Tổng Giáo Phận Hà Nội, trên mỗi người chúng ta”.

Đức Hồng Y đã góp phần quan trọng trong việc bảo vệ, xây dựng và phát triển Giáo hội Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực đào tạo, quản trị và tông đồ mục vụ. Ngài là cây đại thụ cuối cùng của Giáo hội Miền Bắc đã được Chúa đưa về Trời. Trong tâm tình kính yêu và tri ân ngài sâu xa, chúng ta hiệp lòng hiệp ý dâng lời tạ ơn với ngài và cầu nguyện cho ngài.

Hà Nội, ngày 22.02.2009
Lm Phêrô Nguyễn Văn Khải DCCT
VietCatholic News (23 Feb 2009 01:48)

->Đọc thêm...

ĐHY Phạm Đình Tụng: một người Thầy, một người Cha




Trong cái giá lạnh của miền Bắc, ai cũng muốn cuộn mình trong chăn mơ màng ngủ, xem phim hoặc đọc truyện. Thế mà ngay từ tờ mờ sáng, chẳng phải chỉ các chức sắc Giáo Hội mà cả các giáo dân tầm thường, chẳng phải lớp thanh niên trai tráng mà là các ông bà có tuổi, chẳng phải từ một góc phố nào đó trong thủ đô Hà Nội mà tận những xóm làng xa xôi thuộc các miền quê Hà Tây, Hà Nam, Hòa Bình, Nam Định…, đã lục tục lên đường đi tới Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội. Điều gì mạnh đến nỗi đã lôi kéo được đông đảo tín hữu Công Giáo với đủ mọi tầng lớp rời giường chiếu và bếp lửa êm ấm, rời công ăn việc làm và người thân rất quan trọng để đến đây ?

Giản dị chỉ vì lòng ngưỡng mộ và biết ơn đối với vị cha già của tổng giáo phận: đức hồng y Phaolô-Giuse PHẠM ĐÌNH TỤNG, nhân kỉ niệm 90 ngày sinh, 60 năm linh mục, 45 năm giám mục, 15 năm hồng y, đang nghỉ hưu và dưỡng bệnh tại tòa Tổng Giám Mục Hà Nội.

Thật ra, nguyên những con số vừa kể cũng đáng làm cho nhiều người ngưỡng mộ và tò mò muốn biết về con người này. Bởi lẽ chẳng dễ dàng gì mà sống thọ đến 90 tuổi, nhất là khi phải sinh ra và lớn lên trong những thời kì nghèo nàn nhất của đất nước Việt Nam ? Càng không dễ dàng gì khi làm linh mục (1949-2008), giám mục (1963-2008), hồng y (1994-2008) – nghĩa là nắm giữ những chức vị cao nhất tại một giáo hội địa phương – trong một thời gian dài như thế và trong bối cảnh chính trị - tôn giáo – xã hội phức tạp như vào những thập niên ấy ?

Nhưng nếu tìm hiểu sâu xa hơn, người ta sẽ càng thêm ngưỡng mộ và tri ân con người ấy. Một con người vừa có thiên hướng vừa có thành tích đáng trân trọng trong hai lãnh vực rất được thiên hạ kính nể, đó là làm thầy và làm cha. Chính vì thế, nội dung câu chuyện và đề tài trao đổi của mọi người đến gặp ngài có thể khác nhau, nhưng cung cách và thái độ của ai ai đối với ngài cũng là cung cách và thái độ của những học trò và những người con.

Quả thật, ngài đã làm thầy và làm cha cách chập chững ngay từ khi thực tập mục vụ tại các giáo xứ Khoan Vĩ – Lý Nhân (Hà Nam). Làm thầy và làm cha cách nhiệt tình khi phục vụ trẻ mồ côi tại cô nhi viện Têrêxa (Hàng Bột – Hà Nội), phục vụ người nông dân nghèo từ quê ra thành thị làm ăn tại khu nhà bác ái xã hội Bạch Mai (Hà Nội), phục vụ giáo dân trong đời sống đức tin và bí tích tại giáo xứ Hàm Long (Hà Nội). Làm thầy và làm cha cách sâu sắc khi trở thành giám đốc tiểu chủng viện thánh Gioan (Hà Nội) – chịu trách nhiệm về đời sống nhân bản và đức tin của gần 200 chủng sinh từ các giáo phận miền Bắc. Làm thầy và làm cha cách sáng tạo khi được cắt cử trông coi giáo phận Bắc Ninh – một giáo phận vừa nghèo về mọi mặt vừa rộng về địa lí. Thông qua nhúm linh mục giàu lòng bác ái như ngài, thông qua hàng ngũ giáo dân tông đồ đông đảo được huấn luyện cách căn bản, ngài đã điều hành được giáo phận; trong số đó phải kể đến việc thành lập lớp nữ giáo dân độc thân phục vụ khắp nơi trong nhiều vai trò khác nhau, ban đầu gọi là Hội Tận Hiến, về sau trở thành Tu Hội Hiệp Nhất. Từ năm 1994, ngài chỉ chuyển địa bàn hoạt động, chứ không chuyển nghề tay phải của mình là làm thầy và làm cha tại tổng giáo phận Hà Nội. Ngài tiếp tục công tác giáo dục các chủng sinh của đại chủng viện và đào tạo giáo dân tông đồ. Năm 1996, vừa khôi phục vừa mở rộng Hội Thầy Giảng cũ của tổng giáo phận, ngài thành lập Tu Đoàn Tông Đồ Truyền Tin không chỉ cho nam giới (không chỉ làm linh mục mà còn làm linh mục giàu tinh thần truyền giáo, không chỉ làm linh mục mà còn làm giáo dân tận hiến trong mọi ngành nghề) và cả cho nữ giới. Và hiện nay, ngài vẫn tiếp tục nghề làm thầy và làm cha cách âm thầm và khiêm tốn trong những hi sinh và nguyện cầu cho những học trò và con cái của mình, đã trưởng thành và có thể không còn cần dạy dỗ nữa, nhưng vẫn cần ơn Chúa.

Có một điều mà người thầy và người cha này không bao giờ để mất hẳn hay để nhòa đi trong công tác giáo dục và đào tạo của mình, đó là chú ý đến một lớp nhà đào tạo gồm các linh mục không chỉ giỏi nghiệp vụ mà quan trọng hơn, gần gũi với giáo dân, đồng thời chú ý đến hàng ngũ giáo dân được đào tạo để dấn thân trong trần thế. Nên nhớ đây là những trục tư tưởng chính trong công đồng Vatican II (1963-1965 – đặc biệt qua sắc lệnh “Chức vụ và đời sống linh mục”, hai hiến chế về Giáo Hội và Giáo Hội trong thế giới ngày nay). Tuy không tham dự công đồng – thậm chí có thể không nắm bắt tình hình thời sự của công đồng tại Vatican trong những năm Việt Nam đóng cửa – nhưng dường như ngài đã có những trực giác ấy của công đồng. Người ta có thể giải thích đó là do hoàn cảnh thực tế của các giáo phận bắt buộc ngài suy nghĩ thế, nhưng tại sao chúng ta không được phép nghĩ đó là kết quả thu lượm được từ những suy nghĩ và cầu nguyện sâu xa của ngài về Đức Giê-su mục tử, hay từ tấm lòng nhân ái và bao dung của một người cha và một người thầy ? Đó có lẽ cũng là điểm lôi kéo nhiều linh mục, tu sĩ và giáo dân từ miền Nam tìm gặp ngài sau ngày đất nước thống nhất: tại Bắc Ninh, người ta không chỉ nghe mà còn chứng kiến thấy sự gần gũi của ngài với giáo dân, cũng như sự trân trọng và tin tưởng ngài dành cho các tông đồ giáo dân – nhất là những giáo dân tận hiến trọn đời cho Chúa và cho Giáo Hội; hay tại Hà Nội, người ta cũng tiếp tục được nghe ngài chia sẻ ước nguyện và thao thức của mình muốn thấy một hàng ngũ linh mục đạo đức ở chỗ có trái tim mục tử như của Đức Giê-su, và một lớp giáo dân say sưa sống đạo và truyền đạo ngay giữa lòng đời. Đến cả ngày hôm nay, khi tuổi già sức yếu, khi lực đã bất tòng tâm, ngài vẫn không để tắt ngọn lửa khao khát ấy. Thỉnh thoảng gặp lại một vài người đã từng chia sẻ với ngài trước đây về hình ảnh một Giáo Hội nhập cuộc sâu xa và âm thầm trong lòng người và lòng đời như thế, mắt ngài vẫn bất chợt sáng lên, miệng ngài vẫn bất ngờ mỉm cười…, dù sau đó mắt cúi xuống, miệng khép lại như thầm thỉ nguyện cầu và phó dâng cho Chúa. Phải, đến lúc này ngài đã thấm thía rằng chỉ có Chúa – bậc Thầy và người Cha trên hết – mới có thể biến mọi giấc mơ thành hiện thực, đổi mọi ý nguyện thành cuộc sống và chuyển mọi mầu nhiệm thành ngôn ngữ ! Bổn phận chúng ta có thể chỉ là nuôi dưỡng và truyền lại cho người khác giấc mơ ấy, ý nguyện ấy và mầu nhiệm ấy, từng đó cũng khá lắm rồi !
Lm. Đặng Xuân Thành
VietCatholic News (22 Feb 2009 15:07)

->Đọc thêm...

22.2.09

PHÉP LẠ THÁNH THỂ Thế kỉ 8


1. PHÉP LẠ THÁNH THỂ ĐẦU TIÊN

Khoảng năm 700, Tại làng Lanciano, nước Ý (ITALY)

(Linh mục nghi ngờ, Bánh đã trở thành Thịt, Rượu đã trở thành Máu thật)

(Joan Carroll Cruz, Phép Lạ Thánh Thể, Chương 1, Regina xb, USA, 2002)

Ðây là phép lạ cổ kính nhất, đã được Tòa Thánh cho xét nghiệm 5 lần, và ngày nay Thánh Tích vẫn còn trưng bày, được rất đông khách hành hương khắp nơi kính viếng.

Trình thuật phép lạ: Phép Lạ Thánh Thể tại Lanciano

Lanciano, thị trấn cổ vùng Frentani, nước Ý, đã lưu giữ phép lạ hàng đầu về Phép Thánh thể trong Giáo hội công giáo. Lịch sử phép lạ như sau:

Vào khoảng năm 700 (thế kỉ thứ 8), trong ngôi nhà thờ nhỏ của Tu viện kính thánh Longinô (Legonziano- tên người lính đâm cạnh sườn Chúa), một linh mục Dòng thánh Basiliô đã hồ nghi không biết "sau khi Truyền phép" Chúa Giêsu có ngự thật trong phép Thánh Thể hay không!

Ông xin Chúa lâu ngày, cho một dấu để dẹp tan sự nghi ngờ.

Một hôm, sau khi đọc lời truyền phép, cha bối rối, bàng hoàng vì phép lạ tỏ tường, cha thấy ngay trước mặt: bánh trở thành Thịt và rượu trở thành Máu.

Sợ hãi nhưng hài lòng. Với nét mặt vui tươi, mắt ngấn lệ, cha quay nói với giáo dân và những người có mặt: "Hỡi những người đang tham dự chung quanh đây thật có phúc. Vì Chúa đã tỏ hiện trong bí tích Cực Thánh và trở nên hữu hình ngay dưới mắt anh em, để phá vỡ sự cứng lòng chai đá của tôi. Xin anh em tiến đến gần mà chiêm ngắm. Chúa đã trở nên gần gũi với chúng ta. Ðây là Thịt và Máu Chúa Giêsu yêu qúi của chúng ta".

Người ta không biết rõ tên linh mục đan sỹ này. Chỉ biết ôngi là linh mục thuộc đan viện nhỏ của Thánh Basilio đến Lanciano tỵ nạn, trong làn sóng di cư của các đan sỹ Ðông Phương tới nước Ý, thời vua Leone III L'Isaurico. Thời này, từ năm 726 có phong trào mạnh mẽ đập phá tượng ảnh, chống lại việc tôn kính các ảnh tượng đạo. Phong trào này buộc các đan sỹ phải lưu vong ra ngoại quốc. Dân chúng ở Lanciano dành cho nhóm đan sỹ di cư này nhà thờ nhỏ Thánh Legonziano. Tại đây, trong thánh lễ bằng tiếng Latinh các đan sĩ dùng bánh lớn tròn, khác với bánh hình vuông có men của đan sĩ Hy lạp.

Bảo tồn thánh tích:

Suốt 5 thế kỉ sau, các cha dòng thánh Basiliô trông coi gìn giữ Mình Máu Chúa cẩn thận.

Năm 1176, đức thánh cha Alexandriô trao cho các linh mục dòng Benedicto.

Từ năm 1252, đức Innocentê lại trao cho các cha dòng thánh Phanxicô.

Năm 1258, một đền thờ rộng lớn xây bao trùm nhà thờ nhỏ thánh Legonziano. Thánh tích được đặt ở đây.

Từ năm 1566 đã qua nhiều lần phải cất giấu quân giặc Thổ, xây nhà nguyện, lập bàn thờ…sau 150 năm,

Năm 1809, theo lệnh vua Napoléon I, bãi bỏ các dòng tu, dòng Phanxico phải rời đi và mãi tới năm 1953 mới trở lại sinh hoạt bình thường.

Năm 1953 các cha dòng Phanxicô lại trông coi như trước.

Phép lạ này được ghi chép trên tài liệu viết trên giấy da rất cổ. Nhưng vào đầu thế kỷ 15 bị hai đan sỹ dòng Basilio lấy cắp của dòng Phanxicô. Hiện nay chỉ còn tài liệu năm 1631, ghi trên giấy da bằng tiếng Hy Lạp và Latinh về tất cả chi tiết phép lạ ở Lanciano.

Trước hết Thánh tích được đặt trong một hòm bằng ngà voi và được đặt tại nguyện đường cạnh nhà thờ chính. Năm 1902 được lưu giữ đàng sau bàn thờ ở giữa cung nguyện. Bánh Thánh trở thành Thịt, như ngày nay người ta quan sát, được kính giữ trong hào quang bằng bạc, có kích thước như Mình Thánh lớn vẫn được các linh mục dùng trong Thánh Lễ. Thịt có màu hơi nâu và trở thành hồng nếu quan sát dưới ánh sáng trong. Rượu hóa thành Máu được kính giữ trong chén thánh bằng thủy tinh, họp thành 5 giọt to nhỏ khác nhau. Từ năm 1923, Thịt Thánh được trưng bày trong một hào quang, và những hột máu khô được đựng trong một chén lễ thủy tinh ở dưới chân hào quang. Trước nay, qua thời gian, các Thánh Tích được các tín hữu và khách hành hương rất mực tôn kính. Vào những dịp đặc biệt Thánh Tích được rước qua các đường phố trong thị trấn.

Khảo nghiệm kiểm chứng:

Rượu hóa thành Máu được kính giữ trong chén thánh bằng thủy tinh, họp thành 5 giọt to nhỏ khác nhau

Phép lạ Mình Máu Chúa ở Lanciano là một phép lạ lâu dài, liên tiếp.

Ðể đánh tan dư luận và hồ nghi lâu đời trong dân chúng, sau công đồng Trente (1545-1563) Tòa Thánh đã 5 lần cho khảo nghiệm Thánh Tích ở Lanciano, và kết như sau:

- Năm 1574, chứng từ còn ghi lại để trong nhà nguyện bên tay phải gian chính nhà thờ. Sau mấy trăm năm, Thánh Tích được đựng trong hòm sắt: Thịt vẫn còn nguyên vẹn. Máu phân thành 5 phần không đều nhau. Khi thì 5 phần hiệp thành một cục khi thì tách rời ra.

- Năm 1637, Ðức Tổng Giám Mục Rodriguez cho cân lại máu đã đông từ lâu, trước mặt giới hữu trách và đông người. Ðược thấy trọng lượng 5 cục máu cộng lại cũng bằng từng cục. Trọng lượng 5 cục là 16, 505 grames.

- Năm 1770 và 1886, có cuộc tranh luận về sự biến thể từ bánh ruợu hóa ra Thánh Thể chất (Transsubstantiation) qua trọng lượng như cân đo ở trên. Chúa muốn chứng tỏ dấu hiệu mới sự hiện diện của Ngài trong Mầu Nhiệm Thánh Thể. Tức là trong mỗi giọt rượu và mẩu bánh được thánh hiến có sự hiện diện thực sự của toàn thể Mình và Máu Thánh Chúa Giêsu.

Từ năm 1713, Thịt được lưu giữ trong một Mặt nhật bằng bạc chạm trổ nghệ thuật, do một nghệ thuật gia trường thành Neapoli chạm trổ. Máu được đựng trong chén kiểu nghệ thuật xưa bằng đá phalê trong suốt.

Bánh Thánh Thịt ấy đã được giữ rất cẩn thận tới ngày nay, cũng có kích thước lớn như bánh được Giáo hội quen dùng. Bánh có mầu nâu nhạt, và trở thành mầu hồng khi chiếu ánh sáng từ phía sau dọi lại. Máu thì đông lại và ngả mầu đất, vàng vàng như mầu đất thó.

- Năm 1971, sau công đồng Vatican 2, các Tu sĩ dòng Phanxicô quyết định trao cho một nhóm bác học danh tiếng viện đại học Siena khảo sát lại theo khoa học.

Cuộc khảo sát đã đưa đến những quả quyết khoa học tuyệt đối không thể chối cãi và trở thành tài liệu với những bức hình chụp bằng ống kính hiển vi tinh xảo, có thể giúp ích cho việc tôn thờ công cộng. Giáo sư Odoardo Lioni trong một cuộc họp vào ngày 4 tháng Ba năm 1971 tại nhà thờ có phép lạ đã đưa ra những kết luận sau. Công trình nghiên cứu này, được nhiều tạp chí khoa học trên thế giới đăng tải:

1- Thịt và Máu là thịt máu thật,

2- Thịt và Máu của cùng một người, đang sống, cùng một loại AB. Trong máu có protein là chất thường có để giữ máu tươi.

3- Thịt máu có đủ các thành phần như thịt máu chúng ta: cũng có những khoáng chất: chlorides, phosphorus, magnesium, potassium, sodium và calcium.

Sau khi nghiên cứu, giáo sư Linoli tuyên bố: Tôi không thể ngờ được trong những điều tôi phân tích đó có những chất hữu cơ cách đây 12 thế kỷ. Khoa học phải đầu hàng đứng trước sự kiện lạ lùng không thể giải thích nổi. Ông đã viết kèm theo hồ sơ phân tích, cho dòng Phanxico một câu ngắn: In principio erat Verbum et Verbum Caro factum est. (Từ đầu đã có Ngôi Lời và Ngôi Lời đã trở nên Thịt) (LC. Số 214, 7-2000, tr. 8-11).

Những lời quả quyết trên đây được Giáo quyền xác nhận trong một cuốn sách nhỏ có chuẩn ấn của Đức Cha Leopoldo Teofili, Tổng Giám mục Lanciano.

Việc các di tích thánh này được lưu trữ một cách tự nhiên trong 12 thế kỉ qua, không bằng chất hóa học, giữ trong không khí thường, mà Thịt Máu vẫn tồn tại cách khác thường, là một hiện tượng không sao giải thích theo khoa học được.

Ngày nay, cứ 12 giờ trưa Chúa nhật thứ 2 sau lễ Phục sinh (lễ kính Lòng Thương Xót Chúa), người ta có thể đến nhà thờ thánh Longinô, để nhìn ngắm tận mắt Mình Máu Chúa .

-------------------------------------

(theoxuanha)

->Đọc thêm...

21.2.09

3. CỘNG ĐOÀN CGVN TẠI CANADA

Từ năm 1978, HĐGM Canada đã đề ra kế hoạch canh tân mang tên “Growth in Faith, in and through Christian Families” (Tăng trưởng Đức tin, trong và qua các Gia đình Kitô hữu). Trong cuộc vận động này, HĐGM đã kêu gọi các giáo đoàn Canada (1979-1980) bảo trợ cho các gia đình Việt Nam ứ đọng trong các trại tạm cư Đông Nam Á. Trong đợt này, Chính phủ và Giáo hội Canada đã tiếp nhận 25.000 người đến định cư, trong đó rất đông người gốc Hoa. Thống kê năm 1994 cho thấy hơn 100.000 kiều dân Việt Nam phân bố rải rác ở nhiều nơi trên lãnh thổ Canada. Riêng miền Tây Canada hiện có khoảng 7.000 tín hữu.

Tỷ lệ kiều dân CGVN tại Canada chỉ là 4%, tức khoảng hơn 7.000 người với 72 linh mục, 3 đại chủng sinh thuộc Đại chủng viện Montréal.
Về hội dòng, ngoài dòng Đa Minh nam, còn có mộtsố dòng nữ: hai đan viện Cát Minh ở Danville và Dolbeau với các nữ tu cao tuổi (trẻ nhất là 70 tuổi), các nữ tu dòng Thăm Viếng ở Lévis và Montréal, các nữ tu Thánh Giá (Montréal), các nữ tu dòng Chúa Cứu Thế (tu viện Thánh Anna ở Beaupré và Plainville).

->Đọc thêm...

Nếu chỉ còn một ngày để sống!


Lời tác giả: “Đây là bài viết tôi tâm đắc, xin chia sẻ với tất cả mọi người thông điệp "Hãy yêu và chăm sóc chính bản thân mình vì nếu bạn không làm điều đó được, bạn sẽ không bao giờ yêu ai được cả, thời gian không bao giờ chờ đợi mình".

Sẽ là một ngày không như...mọi ngày.

Không đủ thời gian để nói lời cảm ơn.

Không đủ thời gian để nói lời xin lỗi.

Không đủ thời gian để nói lời chia tay.

Không đủ thời gian để làm những điều mình muốn.

Không đủ thời gian để yêu nhiều hơn.

Không đủ thời gian để bớt giận hờn.


Không đủ thời gian để tẩy xóa những day dứt, những chua cay.


Ảnh minh họa: Sadgirl311 - Sẽ là một ngày không như...mọi ngày.


Nếu bạn còn một ngày để sống bạn sẽ làm gì?

Từ hồi còn nhỏ, tôi thường hay tự hỏi, tại sao mình lại sinh ra trong đời này?

Mình sống để làm gì?

Ý nghĩa của cuộc sống là gì?

Sau này lớn lên một chút, chứng kiến cuộc đời có nhiều thù hận, lừa dối, cãi vã, đôi lúc tôi càng cảm thấy chán nản, tôi tự hỏi chẳng lẽ cuộc đời chỉ có thế? Vậy con người sống để làm gì?

Tóm lại, ý nghĩa lớn nhất của cuộc sống chính là: Có một ai đó để yêu, có một việc gì đó để làm, và có một điều gì đó để mà hy vọng.

Nếu bạn còn một ngày để sống?

Bạn sẽ nghĩ tới những ai?

Bạn sẽ muốn nói gì tới họ?

Bạn còn tâm nguyện gì chưa làm không?

Khi đọc tới đây, bạn đừng quên thăm hỏi những người bạn đang nghĩ tới, đừng quên bắt tay vào thực hiện những ước mơ của mình.

Bạn hãy sống như ngày mai phải chết, yêu như ngày mai phải cách xa, thực hiện ước mơ của bạn như thể nó là cơ hội cuối cùng trong cuộc đời bạn. Và cuối cùng, sống thanh thản, tự do, tự tại. Cuộc đời có bao nhiêu đâu mà bon chen, ganh đua, nghi kị lẫn nhau. Hãy dành những thời khắc ấy cho tình yêu, cho những điều tốt đẹp.


Ảnh minh họa: Cedz - Cuộc đời có bao nhiêu đâu mà bon chen, ganh đua, nghi kị lẫn nhau. Hãy dành những thời khắc ấy cho tình yêu, cho những điều tốt đẹp.


Nếu lỡ mình chỉ còn sống được một ngày thì sao nhỉ? Có nhiều điều mình phải làm. Hai mươi tư giờ mình sẽ chia thật đều: sáu giờ cho bạn bè, sáu giờ cho gia đình, sáu giờ cho người ấy và sáu giờ cho bản thân. Nhiều khi nghĩ bản thân mình nhận được gì từ mọi người và mình làm được gì cho mọi người hay chưa? Mình sẽ làm thật nhiều cho những người mình yêu thương. Dù điều đó không lớn, không quan trọng nhưng mình hi vọng những người mình yêu mến sẽ cảm thấy điều đó quý giá.

Nếu chỉ còn một ngày được sống, mình muốn ngày đó trời sẽ mưa. Vì mình thích trời mưa! Mình nhớ có một người từng nói mình thế này: “Bạn bảo bạn yêu nắng, tại sao khi nắng lên bạn lại đội mũ? Bạn nói bạn yêu mưa, tại sao khi mưa trĩu hạt bạn lại bung dù để cho hạt mưa không chạm vào bạn?". Mình rất thích câu nói đó, một ngày để sống, mình sẽ sống trọn với cơn mưa, để cho mưa ôm lấy mình, ôm lấy đôi mắt mình, hôn lên đôi môi mình. Trời mưa khiến tim mình vui, mình thích tiếng mưa rơi, thích tiếng cười của những đứa trẻ thơ trong mưa, nó khiến mình yêu cuộc sống hơn.


Ảnh minh họa: Hà Thành - Nguyễn Trần Đức Anh


Nếu chỉ còn một ngày để sống, mình sẽ không bên "ấy" đâu. Mình chỉ gặp "ấy" một lát thôi, mình sẽ đi ngay. Vì mình không muốn "ấy" chiếm hết cả một ngày cuối cùng của mình. Vì khi ở bên "ấy", mình không thể dứt ra được. "Ấy" cho mình một cảm giác ấm áp, một cảm giác được che chở, bên "ấy", mình thấy an toàn hơn bao giờ hết. Một ngày! Có lẽ không đủ cho một câu chuyện, không đủ cho một cái ôm, không đủ cho một nụ hôn và hơn hết không đủ cho một tình yêu "ấy" nhỉ! Nhưng mình nguyện yêu "ấy" cho dù chỉ một ngày thôi, mình thấy hạnh phúc lắm rồi. Đừng cố quên "ấy" ơi! Hãy giữ tình yêu của mình vào tim. Hãy cứ nhảy múa cho đến khi môi có thể mỉm cười khi nghĩ về tình yêu ấy. Một người kỉ nữ thực thụ có thể cười trong những lúc đau khổ nhất. Mình yêu "ấy" không bằng đôi mắt, không bằng đôi tai mà bằng trái tim.

Mình chỉ mong “ấy" đến bên mình, nắm tay mình, ôm mình vào lòng và yêu mình bằng cả trái tim. Để mai kia lỡ mình không còn bên "ấy" nữa lỡ tai mình không còn nghe được giọng của "ấy" , lỡ mắt mình không còn được nhìn thấy "ấy" và tim mình không còn được đập chung nhịp với "ấy" thì mình cũng không hối tiếc vì được bên "ấy" lần cuối. Một ngày! Chỉ đủ cho mình nhìn "ấy", đủ cho mình nói câu "I love you" với "ấy". Dù chỉ một ngày nhưng là một ngày ý nghĩa thì một ngày đó mình sống đâu có lãng phí phải không "ấy"? Mình ước giây phút này lặng mãi để tim được bình yên, mình được phép nhớ về "ấy". Mình thích cách "ấy" cười và nhìn mình nó khiến tim mình ấm áp. Mình không tìm thấy cảm giác đó ở những người xung quanh. Mình yêu "ấy" đơn giản vì "ấy” khiến mình hạnh phúc. Vui lên "ấy" nhé! Ấm áp và không còn u tối nữa.


Ảnh minh họa: Prunku - Mình yêu "ấy" đơn giản vì "ấy” khiến mình hạnh phúc. Vui lên "ấy" nhé! Ấm áp và không còn u tối nữa.

Một ngày của mình phải kết thúc thôi, bao nhiêu đây đủ khiến mình cảm thấy cuộc sống có ý nghĩa. Dù còn một ngày để sống, mình rất vui vì những gì mình làm được. Mình không muốn một ngày cuối cùng của mình trôi qua vô ích. Mình muốn sống trọn vẹn về thời gian lẫn ý nghĩa như thế cuộc sống của mình mới có ích. Mình không thấy hối tiếc vì góp hơi thở, góp nhịp tim vào mặt đất này.

Con người ai cũng có tình thương cả, tại sao phải để đến ngày cuối cùng mới trao yêu thương?

Mở lòng mình đi nào!

Gửi từ Bloggger Tobe...or...not to be
Kết Nối Blog

->Đọc thêm...

20.2.09

Người Việt ở Ba Lan đoàn kết vượt qua khó khăn



Với tinh thần đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, cộng đồng người Việt tại Ba Lan đang nỗ lực vượt qua những ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn và tình trạng thất nghiệp, vỡ nợ khi khu chợ trời, nơi kinh doanh chính của người Việt tại nước này bị xóa sổ.

Thách thức ở Vasava

Theo Phó chủ tịch Hội doanh nghiệp Việt Nam tại Ba Lan Hoàng Xuân Bình, cộng đồng Việt tại Ba Lan hiện nay có khoảng 25.000 - 30.000 người, tập trung chủ yếu ở Thủ đô Vasava (Ba Lan) với những ngành nghề chủ yếu như: thương mại, dịch vụ, cửa hàng ăn, thực phẩm…

Cộng đồng người Việt Nam tại Ba Lan là cộng đồng trẻ, được hình thành từ những năm 90 của thế kỷ 20, bởi một số nghiên cứu sinh sang làm việc và ở lại định cư.
Cũng theo ông Bình, cộng đồng thực sự có ý thức gắn kết thành một khối bắt đầu từ năm 2004, khi Ba Lan ra nhập EU (Liên minh châu Âu) và xác định tương trợ nhau những lúc khó khăn.

Nhiều kiều bào kinh doanh tại Vasava (Ba Lan) đang phải đối mặt với những thách thức lớn khi nước sở tại chuyển đổi khu chợ trời sầm uất tại Sân vận động 10 năm tuổi, nơi có chục hàng nghìn người Việt buôn bán, kinh doanh với hơn 1.000 ki-ốt. Khu “chợ trời” giải tán để Ba Lan xây dựng sân thể thao chuẩn bị cho giải bóng đá Euro 2012 do nước này đăng cai.

Nhiều doanh nghiệp kiều bào lao đao trước thông tin chợ trời sắp bị xóa sổ nên không ít người tìm đến những Trung tâm thương mại (TTTM) để tìm một chỗ ổn định cho việc kinh doanh lâu dài. Ông Ngô Văn Hải, Chủ tịch Hội đồng quản trị trung tâm thương mại TM, người 20 năm kinh doanh ở Ba Lan, cho biết: “Giá thuê quầy không rẻ, lên tới hàng chục nghìn USD mỗi quầy, bên cạnh đó số lượng cho thuê lại có hạn trong khi nhu cầu quá lớn. Bởi vậy, sẽ rất khó khăn cho những doanh nghiệp trẻ, mới thành lập, chưa có nhiều kinh nghiệm ứng phó”.

Không chỉ đối mặt với nguy cơ mất chỗ làm ăn, buôn bán, người Việt ở Ba Lan còn gặp nhiều khó khăn do khủng hoảng tài chính toàn cầu. “Cơn khủng hoảng tài chính vừa qua dẫn đến sức mua kém, nên ảnh hưởng khá nhiều đến cuộc sống của người Việt ở đây. Phần đông các doanh nghiệp ở Vasava kinh doanh theo mô hình gia đình. Họ phải chuyển nghề, làm công ăn lương. Thậm chí đối mặt với nguy cơ thất nghiệp”, ông Bình nói.

Mở thêm nhiều Trung tâm thương mại

Vấn đề người Việt tại Vacsava hiện nay là thiếu chỗ kinh doanh, buôn bán. Vì vậy, Hội doanh nghiệp Việt Nam ở Ba Lan đã đứng lên khởi xướng xây dựng các TTTM của Việt Nam tại Thủ đô này. Hiện, đã có ba TTTM của người Việt được xây dựng, đó là ASG, Asian PL, Asian EU. Các trung tâm này hướng tới mục tiêu tạo điều kiện cho người lao động Việt Nam làm ăn ổn định, giải quyết phần nào nạn thất nghiệp do khủng hoảng kinh tế, đồng thời cứu cánh cho hàng nghìn doanh nghiệp ở khu chợ trời có một nơi kinh doanh ổn định.

Trao đổi riêng với Đất Việt, ông Hoàng Xuân Bình cho biết: "TTTM sẽ hỗ trợ cộng đồng người Việt ở đây với mức thuê ổn định, hợp lý để bà con yên tâm kinh doanh". Ông Bình cũng khuyến cáo, kiều bào nên trực tiếp đăng ký với các TTTM,không nên mua lại các ki ốt qua môi giới vì mức giá sẽ bị đội cao lên rất nhiều.

Ngoài việc xây dựng các TTTM, Hội doanh nghiệp Việt Nam tại Ba Lan còn liên kết với các doanh nghiệp tại Đức, Slovakia, CH Czech… tạo thành Liên hiệp các Hội doanh nghiệp Việt Nam tại châu Âu. Sự liên kết này sẽ tạo thành môi trường giao lưu, chia sẻ thông tin giữa các doanh nghiệp, hội nhập sâu và bền vững giữa các nước.

Như Thủy
nguoiviet.com.ua

->Đọc thêm...

VÔ THẦN(Atheism)

1. Vô thần là gì?

- Vô thần có thể là niềm tin tích cực rằng: không có Thượng đế.
- Vô thần có thể là thiếu niềm tin rằng: có Thượng đế.
- Vô thần có một định nghĩa đạo đức riêng, tuy nhiên, thông thường định nghĩa đó phát xuất từ quan tâm thế tục, chứ không phát xuất từ văn bản của tôn giáo mạc khải.
(trích Internet: Atheism)

2. Danh ngôn nói về Vô thần

"Vô thần xuất hiện khi tính ích kỷ và bon chen tiến mạnh lên cùng với tính độc ác và dâm đãng". (Taine, vô thần Pháp)

" Nếu thực Thiên Chúa chẳng là gì thì việc chi các ông vô thần phải công kích Ngài và giơ tay chỉ trích Ngài cho mỏi". (Richepin)

" Chính cái tính hão huyền không muốn nghĩ tưởng như mọi người, là lý do tạo nên nhiều kẻ vô thần hơn là chứng lý sáng tỏ." (D'Alembert)

" Tôi muốn thấy một người trong sạch và tiết độ tuyên bố rằng không có Thượng đế, nhưng không thấy ai cả". (LaBruyère)

" Kiến thức nông cạn đưa người ta ra xa tôn giáo, ngược lại kiến thức sâu xa đưa người ta lại gần tôn giáo" (Bacon)

"Dù giờ chết đã gần kề bên tôi, tôi cũng không sợ chết và xuống hoả ngục, hay bất cứ nơi nào tệ hơn, đi lên cái nơi người ta thường gọi là thiên đàng. Tôi hi vọng chết rồi sẽ không còn gì. Chết sẽ đem đi khỏi tôi những gì có thể làm sợ hãi cái chết. Tôi cám ơn thuyết vô thần" (Isaac Asimov, trích báo Free Inquiry)

"Con người từ bỏ Đức tin trước hết chỉ vì muốn thoát ly 1 xiềng xích mà dục vọng của họ không thể mang được. Tôi sẽ không làm cho ai đã thỏa mãn trụy lạc phải ngạc nhiên khi tôi quả quyết rằng tính tự vô đạo quá sớm của những người tự do tin tưởng, đã khởi điểm từ sự yếu đuối của xác thịt, kèm theo sự hổ thẹn phải cáo mình trong tòa Giải tội. Sau đó họ bắt đầu lý luận. Lý luận đã cung cấp cho họ những chứng cớ dựa theo một mệnh đề phủ quyết mà họ đã nhận vì nhu cầu thực tế. (Bourget)



3. Phân loại Vô thần:



Không bao giờ có những người vô thần 100%. Quả vậy đúng lời của Tolstoi:" Một người có thể không biết mình có tôn giáo, cũng như họ không biết mình có một trái tim. Nhưng không tôn giáo, không Thiên Chúa cũng như không trái tim, thì con người không thể không có được. Không ai có thể đứng ngoài vấn đề đó được, mỗi người đều có một lập trường về Thiên Chúa. . . Hoặc họ sợ mất Thiên Chúa, hoặc họ gặp Thiên Chúa. Nhưng không bao giờ lẩn tránh được. Chúng ta nên đứng trên thuyền hiện hữu: Không thể trở lui về bến khởi hành. Hoặc chống hoặc phò Thiên Chúa, trong thực tế không ai trung lập được.

1/ Vô thần vì quên lãng: Nhiều người sống như không có Thiên Chúa. Họ không băn khoăn gì cả và chết cũng không biết tại sao họ sống. Trong số họ, có nhiều người sống tử tế theo lương tâm. Ngày nào họ đặt vấn đề, họ rất dễ dàng chấp nhận Thiên Chúa.

2/ Vô thần vì lợi hay vì dục: Pascal viết " Một người vô tín nói: Tôi sẽ bỏ ngay khoái lạc, nếu tôi tin. Nhưng tôi nói với người đó anh cứ bỏ khoái lạc đi, rồi anh sẽ có Đức tin.

3/ Vô thần vì thất vọng: Lớp này thất vọng trước mọi bất công trần gian, hay nói cho đúng, họ bất mãn Thiên Chúa rồi cho là không có trời. Thực ra, nếu không có trời sao họ lại giận trời.

4/ Vô thần vì thần tượng khoa học: Họ tự phụ khoa học loại trừ được Thiên Chúa. Nhưng thời "Thần tượng khoa học" đã tan rã và sự tin tưởng vào Thiên Chúa của 243/300 vị Bác học của 3 thế kỷ gần đây đã cảnh cáo họ. (Theo P. Thivollier)



4. Giáo hội Công giáo với chủ nghĩa Vô thần:

Hiến chế Giáo hội trong thế giới thời nay (Gaudium et Spes) số 20 viết:

Nguyên nhân phát sinh vô thần:

1/ Nhiều người chủ trương giải thích mọi sự chỉ bằng khoa học. Họ không nhận một chân lý nào là tuyệt đối.

2/ Có người lại quá đề cao con người, đến nỗi sự tin tưởng vào Thiên Chúa trở nên vô nghĩa.

3/ Có người hình dung một Thiên Chúa theo kiểu họ nghĩ, không phải là Thiên Chúa của Tin mừng Phúc âm.

4/ Chủ trương vô thần nhiều khi phát sinh do việc chống lại sự dữ trong thế giới.

5/ Ngay cả nền văn minh hiện đại, cũng làm cho con người khó đến với Thiên Chúa , vì nó quá bám vào thực tại trần gian.

Giáo hội đối với chủ nghĩa vô thần: (số 21)

"Giáo hội Công giáo cho rằngnhìn nhận Thiên Chúa không có gì nghịch lại với phẩm giá con người,vì phẩm giá ấy đặt nền tảng, và nên hoàn hảo trong chính Thiên Chúa : bởi vì con người có trí tuệ và có tự do, được Thiên Chúa đặt để trong xã hội, nhưng nhất là vì con người được gọi đến để thông hiệp với chính Thiên Chúa , và tham dự vào hạnh phúc của Ngài như con cái.

Ngoài ra giáo hội còn dạy rằng: Hy vọng chung cục không làm giảm những bổn phận ở trần gian này, trái lại còn tạo thêm những động lực mới giúp hoàn thành những bổn phận ấy.

Vả lại, nếu thiếu căn bản là Thiên Chúa và thiếu hi vọng vào sự sống đời sau, phẩm giá con người sẽ bị tổn thương cách trầm trọng như thường thấy ngày nay, và những bí ẩn về sự sống, sự chết, về tội lỗi và đau khổ vẫn không giải đáp được. Như thế con người nhiều khi rơi vào tuyệt vọng.

(Bản dịch Việt ngữ của Học viện Giáo hoàng Piô 10, Đà lạt).

Những người có đức tin, cần nhớ lời thánh Giacôbê nhắc nhở:

"2:14 Thưa anh em, ai bảo rằng mình có đức tin mà không hành động theo đức tin, thì nào có ích lợi gì? Đức tin có thể cứu người ấy được chăng?

2:15 Giả như có người anh em hay chị em không có áo che thân và không đủ của ăn hằng ngày,

2:16 mà có ai trong anh em lại nói với họ: "Hãy đi bình an, mặc cho ấm và ăn cho no", nhưng lại không cho họ những thứ thân xác họ đang cần, thì nào có ích lợi gì?

2:17 Cũng vậy, đức tin không có hành động thì quả là đức tin chết".




->Đọc thêm...

17. Thanh Bần

--------------------------------------------------------------------------------
Chúa là gia nghiệp
chưa đủ cho con sao?
407. Của cải chôn vùi con, nếu con đội nó lên đầu; của cải làm bệ chân con nếu con đứng trên nó.

408. "Nghèo trong con ở, nghèo trong áo con mặc, nghèo trong đồ con ăn, nghèo trong đồ con dùng, nghèo trong việc con làm" (Cha Chevrier).

409. Người ít đòi hỏi là người sướng, vì thấy mình đầy đủ, người nhiều đòi hỏi là người cực, vì cứ thấy mình thiếu thốn mãi.

410. Nhìn vào con, con thấy thiếu, con cực số một. Nhìn vào anh em con, con thấy bao nhiêu người khốn cực hơn con.


411. Không có của mà tham vẫn chưa phải là thanh bần, có của mà không dính bén vẫn có thể "có lòng khó khăn" thực sự.

412. Ðừng rộng rãi với của người ta, đừng keo kiệt với của riêng con, đừng phung phí với của công cộng.

413. Nghèo hèn, nghèo khó, nghèo khổ, nghèo cực. Nếu có tinh thần thanh bần, hãy chấp nhận những hậu quả của nghèo nàn giữa xã hội.

414. Dùng của cải cách quảng đại, trọng của cải cách tế nhị, xa của cải cách anh hùng.
Vì không phải của con, chính là của Chúa trao cho con xử dụng, của người nghèo.

415. Thinh lặng nhường nơi chỗ tiện nghi hơn, công việc lợi lộc hơn cho kẻ khác, đó là dấu thanh bần chân thành.

416. Con là quản lý của Chúa; Ngài giao nhiều, con giữ nhiều, ít giữ ít, Ngài thu lại, con bằng lòng, nhưng con chịu trách nhiệm về của Ngài.

417. Thanh bần ghen ghét, thanh bần chỉ trích, thanh bần uất hận, không phải là thanh bần Phúc Âm.

418. Thế gian không thấy con vâng phục, thế gian không biết con trinh khiết, nhưng thế gian dễ nhận ra con là chứng nhân thanh bần.

419. "Xin Chúa cho con được khó nghèo như Chúa", thường con hay cầu nguyện ngược lại!

420. :Hội thánh của người nghèo", không phải để làm cho dân chúng nghèo mãi, nhưng với nỗ lực thăng tiến cuộc đời của dân chúng về mọi phương diện.

421. Có như không có, bán như không bán, mua như không mua, như không có gì cả, mà làm chủ tất cả, không đòi hỏi gì cả, sẵn sàng cho tất cả. Ðó là tinh thần thanh bần.

422. Khó nghèo không phải là không có của: đó là khốn khổ, thiếu thốn.
Khó nghèo trước tiên là là tập trung của cho đúng. Một cốc cà-phê, một cốc bia! Nhưng cũng là một cốc mồ hôi, một cốc nước mắt, một cốc máu đổi lấy nó.
Một khói thuốc, nhưng cũng là một hơi thở hổn hển của người lao động vô danh.

423. Sự thanh bần thứ nhất là gì? - Là làm việc! Ðây là niềm an ủi của con khi hiểu ý nghĩa của nhọc mệt lao tác hàng ngày. Hạnh phúc của con được Chúa nói trong Phúc Âm: "Phúc cho tôi tớ đó, chủ đến mà gặp nó đang làm như thế." (Lc 12:43).

424. Lúc 15 tuổi, thiếu nữ Clara đến tu viện, Thánh Phanxicô hỏi chị: "Con đến tìm gì ở đây?" - "Con tìm Thiên Chúa", Clara đáp. Câu trả lời gọn ghẽ và rõ rệt. Ðó là tất cả kho tàng của chị. Clara đã nên thánh. Mấy ai biết chọn như chị?

Ðường Hy Vọng
Ðức Tổng Giám Mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận
Prepared for internet by Vietnamese Missionaries in Taiwan

(C) Copyright 1981. Tác giả giữ bản quyền.

->Đọc thêm...

Thư của Đức Tổng Giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt


Gửi các Linh mục, Tu sĩ, Chủng sinh
Và Anh chị em Giáo dân Hà nội Nhân dịp Mùa Chay 2009

Hà nội ngày 20 tháng 02 năm 2009
Anh chị em thân mến,

Mỗi năm Giáo hội mời gọi chúng ta dành thời gian 40 ngày cho việc ăn chay vì ăn chay là một thực hành quan trọng trong đời sống đạo. Thực vậy, việc ăn chay là một truyền thống đã có từ lâu trong Cựu Ước và vẫn được tiếp tục trong Tân Ước. Theo truyền thống tốt đẹp đó, việc ăn chay đem lại những ích lợi lớn lao cho đời sống thiêng liêng của chúng ta.

Trước hết ăn chay giúp ta đền bù tội lỗi.
Ta học được điều này từ kinh nghiệm của thành Ninivê. Đây là một thành phố tội lỗi. Sau khi nghe tiên tri Giona rao giảng, đã ăn năn sám hối bằng việc chay tịnh. Và Thiên Chúa đã chấp nhận lời cầu nguyện sám hối bày tỏ qua việc ăn chay nên đã tha tội cho họ. Tiên tri Giona viết: “Dân thành Ninivê tin vào Thiên chúa, họ công bố lệnh ăn chay và mặc áo vải thô, từ người lớn đến trẻ nhỏ. Tin báo đến nhà vua Ninivê, vua rời khỏi ngai, cởi áo choàng, khóac áo vải thô, và ngồi trên tro. Vua cho rao tại Ninivê: “Do sắc chỉ của đức vua và các quan đại thần, người và súc vật, bò bê và chiên dê không được nếm bất cứ cái gì, không được ăn cỏ, không được uống nước. Người và súc vật phải khóac áo vải thô và hết sức kêu cầu Thiên Chúa. Mỗi người phải trở lại, bỏ đường gian ác và những hành vi bạo lực của mình…” Thiên Chúa thấy việc họ làm, thấy họ bỏ đường gian ác mà trở lại, Người hối tiếc về tai họa Người đã tuyên bố sẽ giáng trên họ, Người đã không giáng xuống nữa”(Gn 3, 5-10). Tự nó, việc ăn chay không có công hiệu xóa bỏ tội lỗi. Nhưng việc ăn chay nói lên lòng sám hối. Tâm hồn ăn năn sám hối kêu xin lòng thương xót của Chúa sẽ được Chúa lắng nghe, thương xót và tha thứ tội lỗi. Vì “Một tấm lòng tan nát dày vò, Chúa sẽ chẳng khinh chê” (Tv 50).

Việc ăn chay còn giúp ngăn ngừa tội lỗi. Tội lỗi là do những tư tưởng, lời nói, việc làm lệch lạc, phóng túng, theo dục vọng, theo ý riêng, vượt ra khỏi khuôn khổ luật Chúa, luật Hội Thánh. Theo thánh Basiliô, lệnh ăn chay đã có từ tạo thiên lập địa, khi Chúa truyền cho hai ông bà nguyên tổ: “Hết mọi trái cây trong vườn, ngươi cứ ăn, nhưng trái của cây cho biết điều thiện điều ác, thì ngươi không được ăn,, vì ngày nào ngươi ăn, chắc chắn ngươi phải chết” (St 2, 16-17). Chúa truyền phải ăn chay (x. PG 31,163,98). Nhưng hai ông bà nguyên tổ đã không ăn chay, không kiềm chế được ý riêng, đã vượt qua lệnh cấm và lỗi luật Chúa, nên đã phạm tội. Từ kinh nghiệm đau thương ấy, Giáo hội mời gọi ta ăn chay để tập luyện tự chế. Tự chế giúp ta tiến đến làm chủ bản thân. Khi hoàn toàn làm chủ được bản thân ta sẽ đạt tới sự duy nhất trong đời sống. Thân xác tuân phục linh hồn. Linh hồn tuân phục Thiên Chúa. Như thế ăn chay giúp ta ngăn ngừa tội lỗi khi biết từ bỏ ý riêng và đạt tới sự thánh thiện khi sẵn sàng tuân hành thánh ý Thiên Chúa.

Ngoài ra, ăn chay tự nhiên giúp ta nghĩ đến người đói khát thiếu thốn. Đồng bệnh tương lân. Khi ta biết thế nào là đói khát, ta dễ cảm thông và cảm thương những người đói khát. An chay bằng giảm bớt chi tiêu để giúp đỡ tha nhân là một thực hành đi vào chiều sâu và thực tế. Theo tiên tri Isaia đó chính là cách ăn chay mà Chúa ưa thích: “Cách ăn chay mà Ta ưa thích chẳng phải là thế này sao: mở xiềng xích bạo tàn, tháo gông cùm trói buộc, trả tự do cho người bị áp bức, đập tan mọi gông cùm? Chẳng phải là chia cơm cho người đói, rước vào nhà những người nghèo không nơi trú ngụ; thấy ai mình trần thì cho áo che thân, không ngoảnh mặt làm ngơ trước người anh em cố tnhục?” (Is 58, 6-7). Khi biết quên mình, ta sẽ dễ mở lòng để nghĩ đến người khác. An chay như thế là mở rộng tâm hồn để tha thứ, để hòa giải, để chia sẻ, để chữa lành, để cứu giúp. Cách ăn chay này đang được nhiều nơi áp dụng. Thực tế trên quê hương ta hiện nay còn nhiều người túng thiếu đang cần sự giúp đỡ. Tôi biết đa số anh chị em không dư giả. Nhưng tự hạn chế những nhu cầu của bản thân để chia sẻ là một hình thức chay tịnh rất đẹp lòng Chúa. Đặc biệt năm nay anh chị em hãy tiết kiệm để giúp làm con đường cho thôn Quèn Gianh và giúp cho Lạng sơn – Cao bằng, giáo phận kết nghĩa với chúng ta.

Trên hết, việc ăn chay sẽ giúp ta khao khát Thiên Chúa. Thực vậy, khi biết từ khước những nhu cầu vật chất, ta dễ hướng lòng lên Chúa. Tự nguyện chịu cơn đói khát thể lý sẽ nuôi dưỡng tâm tình khao khát những giá trị thiêng liêng. Tự chế bản thân giúp ta khao khát sự thánh thiện. Vượt qua những giá trị trần gian ta sẽ tiến đến khao khát chính Thiên Chúa. Chỉ Thiên Chúa mới thỏa mãn mọi đói khát của ta. Chỉ khi thi hành thánh ý của Thiên Chúa ta mới có lương thực nuôi dưỡng cho ý nghĩa cuộc đời. Hãy noi gương tổ phụ Môsê, nhờ ăn chay cầu nguyện trên núi 40 đêm ngày, hoàn toàn kết hợp với Chúa, nên đã tìm được thánh ý Chúa, được Chúa ban cho 10 điều răn làm chỉ nam cho đời sống của Dân Chúa. Hãy noi gương tiên tri Elia, ăn chay cầu nguyện 40 đêm ngày trong sa mạc, nên đã gặp Chúa và nhận được hướng dẫn của Chúa, tiếp tục xuống núi thi hành công việc của Chúa. Nhất là chúng ta hãy noi gương Chúa Giêsu, Thầy Chí Thánh. Sau khi ăn chay cầu nguyện 40 đêm ngày trong hoang địa, Người chiến thắng được mọi cơn cám dỗ. Và trong cơn đói khát, Người đã tìm được thánh ý Đức Chúa Cha, đã coi việc thực hành thánh ý Đức Chúa Cha là lương thực nuôi dưỡng ý nghĩa đời sống. Để không còn ước muốn điều gì khác hơn là làm theo thánh ý Đức Chúa Cha. Để hoàn toàn nên một với Đức Chúa Cha.

Trong năm Giáo dục Gia đình Kitô giáo, mọi thành viên trong các gia đình hãy ăn chay bằng cách hãm dẹp ý riêng để giữ sự hòa hợp trong gia đình. Hãy biết quên mình để nghĩ đến ông bà, cha mẹ, anh chị em trong gia đình. Nếu có điều gì xích mích, hãy ăn chay bằng tha thứ cho nhau, hòa giải với nhau trong mùa Chay. Đó là cách ăn chay thánh thiện rất đẹp lòng Chúa. Lễ thánh Giuse, bổn mạng các vị gia trưởng sắp tới. Các gia trưởng hãy noi gương Thánh Cả Giuse, điều khiển gia đình bằng quên mình, yêu thương và phục vụ.

Trong gia đình tổng giáo phận, xin anh chị em hãy hiệp ý với chúng tôi. Cùng với Đức Hồng Y Phaolô Giuse kính mến chúng ta hãy vững “Tin Ở Tình Yêu Thiên Chúa”. Cùng với Đức Cha Phaolô chúng ta hãy hoàn toàn “Xin Vâng” thánh ý Chúa. Cùng với tôi và Đức Cha Lôrensô, chúng ta hãy “Chạnh Lòng Thương” nhau và cùng nhau “Phục Vụ Trong Đức Ai”.

Một Mùa Chay như thế chắc chắn sẽ là một mùa ân phúc. Có chết đi trong chay tịnh quên mình chúng ta mới mong được phục sinh trong một đời sống mới cho từng người, từng gia đình, từng giáo xứ và cả tổng giáo phận thân yêu của chúng ta.

Tôi gửi lời chào thân mến đến từng anh chị em. Xin Chúa ban cho anh chị em một Mùa Chay thánh thiện và một lễ Phục Sinh tràn đầy sức sống mới của Chúa.

Thân ái

+ Giuse Ngô Quang Kiệt

Tổng giám mục Hà nội
+TGM. Ngô Quang Kiệt
VietCatholic News (20 Feb 2009 15:53)

->Đọc thêm...

17.2.09

Các giám mục Đài Loan kêu gọi truyền giáo, chú trọng đến giáo dân và ủng hộ người Công Giáo Trung Quốc

Đài Bắc (AsiaNews) – Trong thư mục vụ đầu năm mới, các giám mục Đài Loan đã nói đến sự cấp bách của Tân Phúc Âm Hóa noi theo Thánh Phaolô, những ưu tư qua cuộc khủng hoảng kinh tế, tầm quan trọng của sự dấn thân nơi giáo dân, và luôn quan tâm đến những người Công Giáo tại Trung Hoa lục địa.

Vào thời đểm đầu năm mới, năm mà Giáo Hội Đài Loan kỷ niệm 150 năm loan báo Tin Mừng đến đất nước này, Hội đồng Giám Mục Đài Loan mời gọi cộng đoàn Công Giáo của hòn đảo này đoái nhìn lên mẫu gương Thánh Phaolô: "Ngài tin vào Chúa Kitô để trở thành một con người hoàn toàn mới". Các giám mục cổ võ linh mục và giáo dân không ngừng ghi nhớ về truyền thống, đôi khi là truyền thống anh hùng của Giáo Hội địa phương, và cũng không lờ đi sự đánh giá cao của xã hội dành cho hoạt động giáo dục và từ thiện của người Công Giáo: "Chúng ta hãy rời khỏi bờ để lưới cá trong bình an, chúng ta hãy can đảm chèo thuyền ra chỗ sâu, nơi có những cơn sóng lớn bất ngờ, và thả lưới bắt cá".

Trong thư mục vụ, các giám mục Đài Loan cũng đưa ra cái nhìn ưu tư về "bất ổn xã hội" của hòn đảo này. Tham nhũng, đấu tranh giữa các tầng lớp chính trị, và cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu "làm sâu thêm những đau đớn cùng cực và thất vọng của người dân". Đối mặt với hoàn cảnh này, các giám mục nhắn nhủ “cần hòa giải với Thiên Chúa, hòa giải với Thiên Nhiên và hòa giải với tha nhân trên con đường chúng ta đi".

Nhấn mạnh đến sự trùng hợp kỷ niệm 150 năm loan báo Tin Mừng với năm Giáo Hội Hoàn Vũ cung hiến cho Thánh Phaolô, các giám mục chỉ ra rằng mẫu gương của vị Tông Đồ Dân Ngoại như là lời mời gọi truyền giáo gửi đến tất cả cộng đoàn Kitô giáo. Cuộc khủng hoảng ơn gọi một mặt cho thấy xã hội biểu thị "sự cần thiết an ủi", mặt khác đòi hỏi rằng các giáo sĩ cần phải được sự ủng hộ bằng những nỗ lực và khả dụng của giáo dân. "Giáo Hội Công Giáo tại Đài Loan khá bảo thủ, có xu hướng phụ thuộc quá đáng vào giáo quyền, vào linh mục và nữ tu. Giờ là lúc để giáo dân lộ diện, dùng năng lực cá nhân của họ để phục vụ Giáo Hội."

Kêu gọi động lực mới để loan báo Tin Mừng, các giám mục yêu cầu tất cả các tín hữu trên hòn đảo này chú trọng vào một số yếu tố cụ thể. Trong yếu tố đầu tiên "chúng ta có thể hòa nhập vào thế giới ngày nay, để trở nên quen thuộc với những vui mừng và hy vọng của các thế hệ hiện tại, cũng như với ưu phiền và lo lắng của họ". Vì lý do này, thật cần thiết "để được sáng tạo trong công cuộc loan báo Tin Mừng". "Các nhà lãnh đạo Giáo Hội không nên nhìn từ trên xuống, nhưng chấp nhận những đề nghị từ giáo dân, bằng cách sử dụng tài năng tương ứng của họ dự phần vào việc ra quyết định trong Giáo Hội". Về phần mình, giáo dân phải "nhận ra rằng Giáo Hội là một yếu tố không thể thiếu được trong đời sống họ": chỉ như thế họ mới có thể theo chân Thánh Phaolô trong nỗ lực truyền giáo của mình.

Yếu tố quyết định thứ hai cho tương lai của Giáo Hội Đài Loan là sự tham gia sâu hơn vào các cộng đoàn trong các hoạt động và các dự án xã hội đại diện cho các thế hệ trẻ hơn. Đối với các giám mục, những điều này cũng mang đến cơ hội để "thu hút nhiều hơn những người không phải Kitô hữu tham gia hay ủng hộ các hoạt động từ thiện của Giáo Hội nhất là phục vụ cho những cư dân mới, những công nhân nhập cư, người già, người tàn tật, và người bị gạt bỏ bên lề xã hội".

Nhắc lại huấn từ của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI, nhân dịp các giám mục viếng thăm Rôma ‘ad limina’, các giám mục lặp lại với các tín hữu rằng Đức Thánh Cha "luôn cầu nguyện cho Giáo Hội tại Trung Quốc". "Chúng ta nên động viên đa số giáo dân tại Trung Hoa lục địa bằng chính kinh nghiệm của chúng ta." Đối với các giám mục, quyền tự do hành động lớn hơn là một cơ hội để "ủng hộ việc hình thành người dân tận hiến ở Trung Quốc và vì thế mối quan hệ của đa số giáo dân với Giáo Hội Hoàn Vũ sẽ được nâng cao một cách thích đáng".
John Bosco Nguyễn Hoàng Thương
VietCatholic News (14 Feb 2009 16:59)

->Đọc thêm...

Phái đoàn Tòa Thánh thăm Tòa TGM và dâng lễ tại Nhà thờ chính tòa Hà Nội

HÀ NỘI - 18 giờ chiều ngày 15 tháng 2 năm 2009, Phái đoàn Tòa Thánh Vatican đã dâng Thánh Lễ trọng thể tại Nhà thờ Chính tòa Hà Nội, tham dự Thánh lễ có sự hiện diện của Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt, Đức TGM ngoại quốc, Đức Cha Lorenso Chu Văn Minh - giám mục phụ tá Hà Nội, Đức Cha Anton Vũ Huy Chương - giám mục Hưng Hóa, Đức Cha Giuse Đặng Đức Ngân - giám mục Lạng Sơn Cao Bằng, Đức Cha Cosma Hoàng Văn Đạt - giám mục Bắc Ninh, và quý Cha trong miền Hà nội. Hàng ngàn giáo dân đã hiệp thông sốt sắng trong Thánh lễ đặc biệt này.

Hà Nội-Chiều 15/2/2009, khoảng 14 h 45 Đức cha Phụ tá Lôrenxô Chu Văn Minh và cha Chánh Văn phòng, Gioan Lê Trọng Cung đã đón Phái đoàn Toà Thánh từ nhà khách Chính phủ ở số 2 Lê Thạch.

Khoảng 15 h Phái đoàn Toà Thánh đã đến Toà Tổng Giám Mục Hà Nội. Đức Tổng Giám Mục Giuse Ngô Quang Kiệt, quý trong trong thành phố Hà Nội, quý thầy chủng sinh và chị em nữ tu MTG Hà Nội đã đón tiếp phái đoàn.

Xem ảnh tại đây

Khoảng 17 h 30, giáo dân và tu sĩ nam nữ đã tràn ngập khu vực Toà Tổng Giám Mục và Nhà thờ Chính Toà để chào mừng phái đoàn và tham dự thánh lễ. Họ đến từ nhiều giáo xứ khác nhau trong ngoài thành phố Hà Nội, có những nhóm đến từ giáo phận Bắc Ninh.

Hiện diện và tham dự thánh lễ còn có Đức Tổng Giám Mục Hà Nội, Đức cha Antôn Vũ Huy Chương, Giám mục Hưng Hoá, Đức cha Giuse Đặng Đức Ngân, Giám mục Lạng Sơn, Đức cha Cosma Hoàng Văn Đạt, Giám mục Bắc Ninh và Đức cha Lorenxo Chu Văn Minh, Giám mục Phụ tá Hà Nội. Còn có cả một Đức Giám Mục người Guatemala và một Đức Ông người Đức đang tham gia hội thảo khoa học tại Việt Nam cũng đến đồng tế.

Đoàn rước đi từ nhà nguyện Toà TGM sang Nhà Thờ Chính Toà giữa các tràng vỗ tay liên tục của cộng đoàn tín hữu, bên cạnh quý Đức Ông Phái Đoàn Toà Thánh, người đặc biệt được giáo dân mến mộ và nhiệt thành bày tỏ tình cảm là Đức TGM Ngô Quang Kiệt. Các bước đi của ngài luôn bị chậm lại và đoàn rước luôn bị gián đoạn từ chỗ ngài vì giáo dân già trẻ lớn bé muốn tặng hoa cho ngài, muốn được hôn kính tay ngài và được ngài chúc lành.

Tại quảng trường Nhà thờ Chính Toà, Đức Tổng Giám Mục Hà Nội đã giới thiệu quý Đức Ông trong Phái đoàn Toà Thánh và quý Đức Cha hiện diện và thay mặt cộng đoàn nói lên nỗi vui mừng được đón tiếp Phái đoàn Toà Thánh. Đội văn nghệ thiếu nhi của các nữ tu Dòng Thánh Phaolô đã trình diễn một màn văn nghệ độc đáo, đầy mầu sắc để chào mừng Phái đoàn Toà Thánh ngay tại sân khấu Nhà Thờ Chính Toà.

Thánh lễ do Đức Ông Pietro Parolin chủ tế, Đức ông Nguyễn Văn Phương và Đức Ông Cao Minh Dung đồng tế. Trong lời chia sẻ với cộng đoàn, Đức Ông Pietro đã chuyển lời thăm của Đức Thánh Cha và phép lành của ngài cho mọi người hiện diện. Đức Ông cũng nói lên sự xúc động và niềm vui lớn khi Phái đoàn Toà Thánh được đến Việt Nam và dâng thánh lễ đầu tiên với cộng đoàn tại Nhà Thờ Chính Toà Hà Nội.

Kết thúc phần chia sẻ nội dung phụng vụ lời Chúa ngày chủ nhật, Đức Ông nói: “Mỗi người phải đặt câu hỏi: Tôi phải làm gì cho danh Chúa cả sáng và làm lợi cho Giáo Hội và cho Đất Nước? Mục tiêu của Giáo Hội làm làm thế nào để Chúa được vinh quang và cho người khác được lợi ích. Nguyện xin Chúa ban cho chúng ta biết mang Chúa đến cho người khác và mang người khác đến gặp Chúa”.

Bài giảng của Đức Ông khá dài và luôn bị ngắt quãng bởi những tràng vỗ tay nồng nhiệt của cộng đoàn.

Cuối thánh lễ cha Giacôbê Nguyễn Văn Lý, Quản hạt Hà Nội và ông Chủ tịch Hội đồng Giáo xứ Chính Toà đã lần lượt chúc mừng và cám ơn Phái đoàn Ngoại giao Toà Thánh. Phái đoàn cũng được mời rút lộc lời Chúa nhân dịp đầu năm. Khi câu lời Chúa của các thành viên trong phái đoàn được đọc lên, mọi người vỗ tay cổ vũ vang trời vì thấy nội dung ám hợp với hoàn cảnh và công việc của các ngài.

Thánh lễ kéo dài hơn 2 tiếng. Đức Ông Pietro Parolin cám ơn Đức Tổng Giám Mục Hà Nội và mọi người đã góp phần làm nên thánh lễ cảm động và sốt sắng hôm nay. Kết thúc ngài mời gọi: “Xin anh chị em hy sinh, cầu nguyện cho chúng tôi. Chúng tôi cần ánh sáng và sức mạnh của Chúa Thánh Thần để chu toàn sứ vụ của mình, làm lợi ích cho mọi người, nhất là làm sáng danh Chúa trên đất nước Việt Nam này".
TGP Hà Nội
VietCatholic News (16 Feb 2009 14:02)

->Đọc thêm...

Phái đoàn Tòa Thánh thăm Tòa TGM và dâng lễ tại Nhà thờ chính tòa Hà Nội


HÀ NỘI - 18 giờ chiều ngày 15 tháng 2 năm 2009, Phái đoàn Tòa Thánh Vatican đã dâng Thánh Lễ trọng thể tại Nhà thờ Chính tòa Hà Nội, tham dự Thánh lễ có sự hiện diện của Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt, Đức TGM ngoại quốc, Đức Cha Lorenso Chu Văn Minh - giám mục phụ tá Hà Nội, Đức Cha Anton Vũ Huy Chương - giám mục Hưng Hóa, Đức Cha Giuse Đặng Đức Ngân - giám mục Lạng Sơn Cao Bằng, Đức Cha Cosma Hoàng Văn Đạt - giám mục Bắc Ninh, và quý Cha trong miền Hà nội. Hàng ngàn giáo dân đã hiệp thông sốt sắng trong Thánh lễ đặc biệt này.

Hà Nội-Chiều 15/2/2009, khoảng 14 h 45 Đức cha Phụ tá Lôrenxô Chu Văn Minh và cha Chánh Văn phòng, Gioan Lê Trọng Cung đã đón Phái đoàn Toà Thánh từ nhà khách Chính phủ ở số 2 Lê Thạch.

Khoảng 15 h Phái đoàn Toà Thánh đã đến Toà Tổng Giám Mục Hà Nội. Đức Tổng Giám Mục Giuse Ngô Quang Kiệt, quý trong trong thành phố Hà Nội, quý thầy chủng sinh và chị em nữ tu MTG Hà Nội đã đón tiếp phái đoàn.

Xem ảnh tại đây

Khoảng 17 h 30, giáo dân và tu sĩ nam nữ đã tràn ngập khu vực Toà Tổng Giám Mục và Nhà thờ Chính Toà để chào mừng phái đoàn và tham dự thánh lễ. Họ đến từ nhiều giáo xứ khác nhau trong ngoài thành phố Hà Nội, có những nhóm đến từ giáo phận Bắc Ninh.

Hiện diện và tham dự thánh lễ còn có Đức Tổng Giám Mục Hà Nội, Đức cha Antôn Vũ Huy Chương, Giám mục Hưng Hoá, Đức cha Giuse Đặng Đức Ngân, Giám mục Lạng Sơn, Đức cha Cosma Hoàng Văn Đạt, Giám mục Bắc Ninh và Đức cha Lorenxo Chu Văn Minh, Giám mục Phụ tá Hà Nội. Còn có cả một Đức Giám Mục người Guatemala và một Đức Ông người Đức đang tham gia hội thảo khoa học tại Việt Nam cũng đến đồng tế.

Đoàn rước đi từ nhà nguyện Toà TGM sang Nhà Thờ Chính Toà giữa các tràng vỗ tay liên tục của cộng đoàn tín hữu, bên cạnh quý Đức Ông Phái Đoàn Toà Thánh, người đặc biệt được giáo dân mến mộ và nhiệt thành bày tỏ tình cảm là Đức TGM Ngô Quang Kiệt. Các bước đi của ngài luôn bị chậm lại và đoàn rước luôn bị gián đoạn từ chỗ ngài vì giáo dân già trẻ lớn bé muốn tặng hoa cho ngài, muốn được hôn kính tay ngài và được ngài chúc lành.

Tại quảng trường Nhà thờ Chính Toà, Đức Tổng Giám Mục Hà Nội đã giới thiệu quý Đức Ông trong Phái đoàn Toà Thánh và quý Đức Cha hiện diện và thay mặt cộng đoàn nói lên nỗi vui mừng được đón tiếp Phái đoàn Toà Thánh. Đội văn nghệ thiếu nhi của các nữ tu Dòng Thánh Phaolô đã trình diễn một màn văn nghệ độc đáo, đầy mầu sắc để chào mừng Phái đoàn Toà Thánh ngay tại sân khấu Nhà Thờ Chính Toà.

Thánh lễ do Đức Ông Pietro Parolin chủ tế, Đức ông Nguyễn Văn Phương và Đức Ông Cao Minh Dung đồng tế. Trong lời chia sẻ với cộng đoàn, Đức Ông Pietro đã chuyển lời thăm của Đức Thánh Cha và phép lành của ngài cho mọi người hiện diện. Đức Ông cũng nói lên sự xúc động và niềm vui lớn khi Phái đoàn Toà Thánh được đến Việt Nam và dâng thánh lễ đầu tiên với cộng đoàn tại Nhà Thờ Chính Toà Hà Nội.

Kết thúc phần chia sẻ nội dung phụng vụ lời Chúa ngày chủ nhật, Đức Ông nói: “Mỗi người phải đặt câu hỏi: Tôi phải làm gì cho danh Chúa cả sáng và làm lợi cho Giáo Hội và cho Đất Nước? Mục tiêu của Giáo Hội làm làm thế nào để Chúa được vinh quang và cho người khác được lợi ích. Nguyện xin Chúa ban cho chúng ta biết mang Chúa đến cho người khác và mang người khác đến gặp Chúa”.

Bài giảng của Đức Ông khá dài và luôn bị ngắt quãng bởi những tràng vỗ tay nồng nhiệt của cộng đoàn.

Cuối thánh lễ cha Giacôbê Nguyễn Văn Lý, Quản hạt Hà Nội và ông Chủ tịch Hội đồng Giáo xứ Chính Toà đã lần lượt chúc mừng và cám ơn Phái đoàn Ngoại giao Toà Thánh. Phái đoàn cũng được mời rút lộc lời Chúa nhân dịp đầu năm. Khi câu lời Chúa của các thành viên trong phái đoàn được đọc lên, mọi người vỗ tay cổ vũ vang trời vì thấy nội dung ám hợp với hoàn cảnh và công việc của các ngài.

Thánh lễ kéo dài hơn 2 tiếng. Đức Ông Pietro Parolin cám ơn Đức Tổng Giám Mục Hà Nội và mọi người đã góp phần làm nên thánh lễ cảm động và sốt sắng hôm nay. Kết thúc ngài mời gọi: “Xin anh chị em hy sinh, cầu nguyện cho chúng tôi. Chúng tôi cần ánh sáng và sức mạnh của Chúa Thánh Thần để chu toàn sứ vụ của mình, làm lợi ích cho mọi người, nhất là làm sáng danh Chúa trên đất nước Việt Nam này".
TGP Hà Nội
VietCatholic News (16 Feb 2009 14:02)

->Đọc thêm...