CLICK HERE FOR THOUSANDS OF FREE BLOGGER TEMPLATES »
“Hỡi anh em, ta hãy trung tín cùng Đức Chúa Trời cho đến chết ; cho đến chết, không một điều gì có thể dập tắt lòng thương mến Chúa Giêsu Kitô trong trái tim ta" (Những lời sau cùng của Chân Phước Anrê Phú Yên)

8.1.09

PHẦN I: TUYÊN XƯNG ĐỨC TIN HỌC KINH TIN KÍNH

Bài 4: MỘT CHÚA BA NGÔI

1. GHI NHỚ

H. Có mấy Đức Chúa Trời ?

T. Có một Đức Chúa Trời mà Người có Ba Ngôi, Ngôi thứ nhất là Đức Chúa Cha, Ngôi thứ hai là Đức Chúa Con, ngôi thứ ba là Đức Chúa Thánh Thần. Ba ngôi bằng nhau.

2. THÁNH KINH
Khi Chúa Giêsu chịu phép rửa xong, vừa ở dưới lên, thì kìa tầng trời mở ra. Ngài thấy Thánh Thần Chúa đáp xuống như chim bồ câu và ngự xuống trên Ngài. Và có tiếng từ trời phán rằng : “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Ngài” (Mt 3,16-17).

3. GIẢI THÍCH
Mỗi nước chỉ có một người làm đầu gọi là Tổng thống, chủ tịch, hay Quốc trưởng. Cũng vậy, trời đất muôn vật cũng chỉ có Một Thiên Chúa Tạo Hoá làm chủ mà thôi.

Thiên Chúa là Đấng nào ? Thiên Chúa là Đấng tự hữu, thiêng liêng, hằng có đời đời, quyền phép, thánh thiện, tốt lành, nhân từ, công bằng và chân thật vô cùng.

Một Chúa Ba Ngôi : Thiên Chúa đúng là chỉ có 1, nhưng lại có 3 Ngôi Vị khác biệt nhau là: Chúa Cha, Chúa Con, Chúa Thánh Thần.

Thông thường ở trần gian, thì Cha phải sinh ra truớc con, lớn hơn con, nhưng đối với Thiên Chúa thì Ngôi Cha, Ngôi Con, Ngôi Thánh Thần đều có từ thuở muôn đời, đều có quyền phép và cao trọng như nhau. Đó là một mầu nhiệm.

Mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi là điều vượt quá trí khôn loài người, cho nên ta không thể hiểu thấu được, chỉ cần đón nhận bằng lòng tin. Mầu nhiệm nầy được diển tả qua biến cố Chúa Giêsu chịu phép Rửa ở sông Gio-đan, nhất là do chính Chúa Giêsu đã dạy, khi Ngài sai các Tông đồ ra đi rao giảng, làm phép Rửa: Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.

Ba Ngôi yêu thương chúng ta, qua công việc:

Chúa Cha tạo dựng muôn loài,
Chúa Con Cứu chuộc loài người,
Chúa Thánh Thần thánh hoá loài người.

4. THỰC HÀNH

Nghiêm trang, chăm chỉ là Dấu Thánh Giá, để tuyên xưng mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi.

5. CẦU NGUYỆN

Kinh Sáng Danh: “Sáng Danh Đức Chúa Cha, và Đức Chúa Con, và Đức Chúa Thánh THần. Như đã có trước vô cùng, và bây giờ, và hằng có, và đời đời chẳng cùng. Amen.”

Bài 5
THIÊN CHÚA SÁNG TẠO

1. GHI NHỚ

H. Trời đất muôn vật bởi đâu mà có ?

T. Trời đất muôn vật do Thiên Chúa tạo thành mà có. Trong muôn loài Chúa dựng nên, có hai loài quan trọng : đó là Thiên thần và Loài người. Vì thế, Thiên Chúa là Chủ muôn loài và là Cha của loài người chúng ta.

2. THÁNH KINH

”Từ đầu hết, Thiên Chúa đã dựng nên trời và đất...Ngài phán : “Vòm trời hãy có trăng sao ... Mặt đất hãy có thảo mộc xanh tươi, rau cỏ nảy hạt giống theo loại, cây sinh trái trong có hạt giống theo loại ...Đất hãy sản xuất ra sinh vật theo : súc vật, côn trùng, mãnh thú ... Và Thiên Chúa đã dựng nên con người giống như mình ...” (St 1,1 - 27).

3. GIẢI THÍCH.

Xem quả thì biết có cây. Có cái nhà là kết quả lao động của bao nhiêu tay thợ và công nhân. Ruộng lúa chín vàng là công của kẻ cấy người gieo. Chén cơm ta ăn phải có người thổi nấu v..v..

Chúa tạo dựng vũ trụ: Vậy trong vũ trụ bao la, trên trời thì trăng sao lấp lánh, dưới đất thì cỏ cây xanh tươi, muôn chim cầm thú đủ mọi giống loài, nhất là con người ta, tất yếu phải được Tạo Hóa sinh thành, chứ không thể tự nhiên mà có được. Kinh thánh diễn tả Chúa dựng nên muôn loài trong vũ trụ trong 6 ngày, ngày thứ 7, Chúa nghỉ ngơi. (Kể chuyện Tạo dựng (ST 1;2).

Trong các loài Chúa dựng nên có 2 loài quan trọng là Thiên thần và Loài người. Thiên thần là loài thiêng liêng, không có hình hài thể xác. Chúa dựng nên để hưởng phúc và phục vụ bên Chúa. Một số trong các thiên thần đã phản nghịch Chúa, bị trừng phạt, gọi là Tà thần hay ma qủi.

Thiên Chúa là Chủ, là Cha: Chúa đã tạo dựng nên trời đất thì đương nhiên Ngài là Chúa Tể của trời đất, cũng như người bỏ tiền ra xây nhà thì là chủ ngôi nhà. Chúa đã sinh dựng nên loài người thì Ngài là Cha của con người, có khác chi cha mẹ trần gian sinh ra con cái thì là cha mẹ của con cái. Như thế nói rằng Tạo Hoá là Tổ Phụ của loài người rất đúng. Do đó, loài người cần phải nhận biết, thờ phượng, kính mến Chúa, để trọn bề thảo hiếu của kẻ làm con.

Thiên Chúa vẫn còn tiếp tục việc sáng tạo bằng việc chăm sóc và hướng dẫn mọi loài thụ tạo, để vũ trụ luôn phát triển theo các qui luật Ngài đã an bài. Đó là sự Chúa quan phòng.

4. THỰC HÀNH.

Hết lòng thảo hiếu với Thiên Chúa là Cha, luôn tin tưởng, thờ phượng và yêu mến Ngài.

5. CẦU NGUYỆN.

Lạy Thiên Chúa là Cha của con, đã bao năm nay con không được ai chỉ cho biết Chúa là Cha sinh thành dưỡng dục con. Kể từ hôm nay, sau khi đã được biết Chúa, con nguyện một lòng tin theo và thờ phượng Chúa suốt đời, để xứng đáng là con thảo của Chúa. Amen.

Bài 6
LOÀI NGƯỜI VÀ TỘI TỔ TÔNG

1. GHI NHỚ

H. Loài người là loài nào ?

T. Loài người là loài có thể xác và có linh hồn, được Thiên Chúa tạo thành giống hình ảnh Ngài.

H. Tội Tổ tông là tội gì ?

T. Là tội do tổ tông loài người là Ông Ađam và bà Evà đã xúc phạm đến Chúa, vì kiêu căng không tuân lệnh Chúa.

2. THÁNH KINH

”Thật vậy, cũng như vì một người duy nhất đã không vâng lời Thiên Chúa, mà muôn người thành tội nhân, thì nhờ một người duy nhất đã vâng lời Thiên Chúa, muôn người cũng sẽ thành người công chính” (Rm 5,19 ).

3. GIẢI THÍCH
Theo Thánh Kinh, chính Thiên Chúa đã tạo nên con người. Con người ta được tạo nên khác hẳn mọi loài mọi vật, vì Thiên Chúa đã ban cho nó có một linh hồn thiêng liêng bất tử. Bởi vậy, con người là “linh ư vạn vật” và giống Tạo Hóa ở phần linh thiêng đó. Chính vì loài người có hồn thiêng bất tử, giống hình ảnh Thiên Chúa, nên rất đáng kính đáng trọng, nhất là sau này khi mãn phần, sẽ được hưởng phúc vinh quang với Chúa, Đấng Tạo Hóa của mình (lá rụng về cội).

Nhưng, đáng tiếc thay, thói thường “sướng quá hóa hư”, con người được Thiên Chúa yêu thương, đã chẳng thảo hiếu, lại nghe lời ma quỉ xúi bậy, manh tâm phản bội Đấng sinh thành dưỡng dục mình. Đó là tội Tội Tổ Tông , tức là tội do Tổ tông loài người đã phạm, vì bất tuân lệnh Chúa.(Kể chuyện Ađam - Eva ăn trái cấm)

Hậu quả : Vì tội Tổ tông, con người phải mang án tội : đánh mất hạnh phúc Chúa ban, phải đau khổ và phải chết! Chúng ta vì sinh ra bởi dòng dõi Ađam-Evà, nên đã bị mắc tội do Tổ tông truyền, bị tước mất chức vị làm con Chúa.

Chúa hứa cứu chuộc : Tuy nhiên, dù phạt đấy song vẫn thương đấy, Thiên Chúa đã có kế hoạch cứu vớt loài người. Thiên Chúa hứa ban Đấng Cứu thế: ‘’Bởi người Nữ, sẽ có Đấng sinh ra, đạp nát đầu con rắn’’. Người nữ đó chính là Mẹ Maria và con Mẹ là Chúa Giêsu, Đấng Cứu thế.

4. THỰC HÀNH
Ma quỉ hằng xúi giục ta làm điều tội lỗi, nhưng có Chúa phù trì, ta quyết tâm chống cự lại.

5. CẦU NGUYỆN

Lạy Chúa, vì tội Tổ Tông nên lòng trí chúng con luôn hướng về điều ác hơn điều lành. Xin Chúa giúp sức để chúng con luôn chiến thắng ma quỉ và mãi mãi trung thành với Chúa. Amen.

Bài 7
NGÔI HAI LÀM NGƯỜI

1. GHI NHỚ

H. Ngôi Hai Thiên Chúa làm người thế nào ?

T. Do quyền năng Chúa Thánh Thần, Ngôi Hai Thiên Chúa đã nhập thể trong lòng Trinh Nữ Maria, được sinh ra làm người như ta, tên là GIÊSU.

2. THÁNH KINH

”Thiên Chúa sai Sứ Thần Gabriel đến gặp Trinh nữ Maria và nói : “Thưa Bà Maria, Bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai và đặt tên là Giêsu” . . . Bà Maria thưa: “Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng”. Sứ Thần đáp : “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên Bà và quyền năng Đấng Tốí Cao sẽ rợp bóng trên Bà ... Đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được”. Bấy giờ Bà Maria nói: “Vâng, tôi đây là nữ tì của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời Sứ Thần nói” (Lc 1,26 - 38).

3. GIẢI THÍCH
Thiên thần Truyền Tin: Khi tới thời đã định, Thiên Chúa sai một Sứ Thần tên là Gabriel đến gặp Trinh nữ Maria, đề nghị cô làm mẹ Đấng Cứu Thế. Nghĩ rằng nếu làm mẹ thì sẽ mất sự trinh khiết, nên Trinh nữ đã không nhận lời. Sứ Thần giải thích rằng sự thụ thai này không phải là kết quả của việc vợ chồng mà là do quyền năng của Chúa Thánh Thần, cho nên dù thụ thai và sinh con, bà vẫn giữ được sự trinh khiết.

Sau khi hiểu rõ như thế, Trinh nữ Maria liền ưng thuận và nói : “Vâng, tôi đây là nữ tì của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời Sứ Thần nói”. Thế là Thánh Thần Thiên Chúa ngự xuống trên Trinh nữ và quyền năng Đấng Tối Cao đã khiến Trinh nữ Maria thụ thai.

Và Ngôi Hai Thiên Chúa đã nhập thể trong lòng Trinh nữ Maria, được sinh ra làm người mang tên là Giêsu (nghĩa là Chúa Cứu thế), tại làng Bêlem, thuộc nước Do thái.

Chúa Giêsu sống ở trần gian 33 năm. Ngài đã sống 30 năm ẩn dật tại làng Nadarét. Trong 3 năm cuối, Ngài sống công khai, ra đi giảng đạo, lập nhóm 12 tông đồ. Ngài đã sống gương mẫu, thánh thiện và làm nhiều phép lạ để minh chứng lời giảng dạy.

Chúa Giêsu giảng dạy : Ngài dạy cho ta biết Thiên Chúa là Cha và mọi người là anh em. Ngài kêu gọi ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng. Ngài dạy ta sống bác ái, yêu thương và tha thứ. Ngài hứa ban sự sống đời đời cho kẻ tin vào Ngài.

4. THỰC HÀNH.

Học thuộc Kinh Kính Mừng.

5. CẦU NGUYỆN. Sốt sắng đọc Kinh Kính Mừng.
Kính mừng Maria đầy ơn phước, Đức Chúa Trời ở cùng Bà, Bà có phước lạ hơn mọi người nữ, và Giêsu, Con lòng Bà gồm phước lạ.
Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội, khi này và trong giờ lâm tử. Amen.

Bài 8
CHÚA GIÊSU CỨU CHUỘC

1. GHI NHỚ.

H. Chúa Giêsu đã làm gì để cứu chuộc ta ?

T. Chúa Giêsu đã Nhập thể làm người, đã sống ẩn dật 30 năm tại làng Nadarét, và 3 năm cuối cùng, Ngài đã ra đi loan báo Tin Mừng Nước Trời, Ngài đã chịu nhiều đau khổ, chịu chết trên Thánh giá và sống lại để cứu chuộc ta.

2. THÁNH KINH
Khi đến nơi gọi là “Núi Sọ”, họ đóng đinh Ngài vào thập giá cùng lúc với hai tên gian phi “Bấy giờ Chúa Giêsu cầu nguyện rằng : “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm ....” Và Đức Giêsu kêu lớn tiếng : “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha…”. Nói xong, Ngài tắt thở” (Lc 23, 34.46).

3. GIẢI THÍCH

Việc Chúa Giêsu chịu nạn chịu chết trên thập giá để cứu chuộc loài người là kế hoạch của Chúa Cha đã hoạch định từ muôn thuở. Chính Chúa Giêsu đã loan báo kế hoạch ấy 3 lần trước khi sự việc xảy ra. (Mt 16,21 ; Mt 17,20-30 ; Mt, 20,18-19).

Dưới đây là diễn tiến cuộc tử nạn của Chúa :

Trong khi rao giảng, Chúa đã nói thẳng, nói thật, nhất là khi nói tới những người có chức có quyền như các Thày Thượng Tế, các ông Biệt phái hay Ký lục … Chúa đã phê phán những hành vi xấu xa đê tiện của họ như: lợi dụng Đền thờ để buôn bán, giả hình nhân đức, bóc lột người nghèo, kiêu căng tự đắc v.v. Thói thường lời thật mất lòng ! Hơn nữa dân chúng lại bỏ họ mà theo Chúa Giêsu, vì được Ngài yêu thương, bênh vực và thi ân giáng phúc. Vì danh dự bị giảm sút và quyền lợi bị sứt mẻ, các Thượng tế, Biệt phái và Ký lục ganh ghét và tìm cách trừ Chúa.

Tối thứ năm, sau Bửa Tiệc Ly, Giu-đa, một người trong nhóm 12, đã phản bội bán Chúa 30 đồng, ông dẫn thủ hạ của các Thượng tế đến Vườn Cây Dầu, nơi Chúa đang cầu nguyện để bắt giữ Ngài.

Chúa Giêsu bị bắt, bị đem về dinh Thượng tế Cai-pha, nơi Hội Đồng Do Thái đang chờ đợi. Họ cáo gian cho Chúa nhiều điều phi nhân, vô nghĩa và ra lệnh cho thủ hạ đánh đập, hành hạ Chúa. Cuối cùng đồng thanh lên án tử hình cho Chúa.

Vì giáo quyền Do thái không có quyền xử tử ai, nên tảng sáng ngày thứ Sáu, các đầu mục Do thái dẫn Chúa đến dinh Phi-la-tô, một quan chức của đế quốc Rôma, yêu cầu ông ra lệnh giết Ngài về tội chính trị. Phi-la-tô xác nhận Chúa Giêsu vô tội và định tâm tha Ngài. Nhưng dưới áp lực của người Do thái, ông đành nhượng bộ để cho họ đem Chúa đi đóng đinh.

Binh lính điệu Chúa lên Đồi Sọ (Can-vê) ở ngoài thành Giê-ru-sa-lem. Tới nơi họ lột áo, đóng đinh chân tay Chúa vào thập giá, đào lỗ dựng thập giá lên. Hai bên Chúa có hai tử tội cùng bị đóng đinh như Ngài.

Cuối cùng, Chúa Giêsu xin Chúa Cha tha tội cho họ và gục đầu tắt thở ! Lúc đó vào khoảng 3 giờ chiều, ngày thứ Sáu, áp lễ Vượt Qua.

Cuộc tử nạn của Chúa Giêsu là một hiến tế rất đẹp lòng Chúa Cha và có giá trị cứu độ loài người, như lời thánh Phaolô nói : “Ngài …lấy cái chết của mình mà chuộc tội lỗi người ta đã phạm … và đem lại cho những ai được Thiên Chúa kêu gọi quyền lãnh nhận gia nghiệp vĩnh cửu Thiên Chúa đã hứa” (Dt 9,10).

4. THỰC HÀNH

Các ngày thứ Sáu, hãy đặc biệt kính nhớ cuộc tử nạn của Chúa Giêsu. Luật Hội Thánh kiêng thịt ngày thứ 6.

5. CẦU NGUYỆN.

Lạy Chúa Giêsu, vì yêu thương con, Chúa đã chịu đau khổ, chịu chết trên Thánh giá để cứu chuộc con. Xin Chúa thương xót con là kẻ tội lỗi. Amen.

Bài 9
CHÚA GIÊSU PHỤC SINH

1. GHI NHỚ.

H. Chúa Giêsu có chết mãi không ?

T. Không, vì sau khi chết chưa đủ ba ngày thì Chúa Giêsu đã tự mình sống lại, đúng như lời Ngài đã báo trước.

2. THÁNH KINH.

Thiên thần lên tiếng bảo các phụ nữ : “Phần các bà, các bà đừng sợ ! Tôi biết các bà tìm Đức Giê-su. Ngài không có ở đây, vì Ngài đã sống lại như Ngài đã nói. Các bà đến mà xem chỗ Ngài đã nằm, rồi mau về nói với môn đệ Ngài như thế này: “Ngài đã sống lại từ cõi chết …” (Mt, 28, 1-7).

3. GIẢI THÍCH

Trong thời gian rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu đã ba lần nói trước rằng: Ngài sẽ bị bắt, bị đánh đòn và bị giết chết, ngày thứ 3 Chúa sẽ sống lại. (x. Mt 16,21 ; Mt 17,22-23 ; Mt 20, 18-19). Thánh Mat-thêu ghi lại:

Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần (Chúa nhật), các bà đạo đức ra mộ với ý định xức thêm thuốc thơm cho xác Chúa Giêsu. Vừa tới nơi, các bà hoảng hốt vì đất động dữ dội và thiên thần từ trời xuống lăn tảng đá lấp cửa mồ ra. Thiên thần bảo các bà rằng Chúa Giêsu đã sống lại rồi và bảo các bà đi báo cho các Tông đồ biết tin vui ấy.

Sống lại rồi, Chúa Giêsu còn lưu lại trần gian suốt 40 đêm ngày. Trong thời gian đó, Ngài hiện ra với các Tông đồ nhiều lần để củng cố đức tin các ông, đồng thời truyền cho các ông ra đi rao giảng Tin Mừng cứu độ. Những ngày đầu, các Tông đồ còn bán tín bán nghi. Nhưng dần dần, qua nhiều lần Chúa hiện ra dạy bảo, các ông trở thành những người tin mạnh mẽ vào việc Chúa sống lại. Các ông đã bỏ tất cả, giã từ gia đình, say mê rao giảng Tin Mừng Chúa Kitô Phục sinh, đến nỗi dám liều chết để làm chứng việc Chúa Phục sinh.

Ý nghĩa việc Chúa Sống lại : Chúa Sống lại để chứng tỏ Ngài là Thiên Chúa thật và những lời Ngài giảng dạy là thật. Ngài đã chiến thắng tội lỗi và sự chết, và Ngài ban sự sống lại cho những ai tin Ngài.

4. THỰC HÀNH

Sống nhân ái, thuận hòa với mọi người chung quanh để làm chứng về Chúa Giêsu Phục sinh.

5. CẦU NGUYỆN

Lạy Chúa Giêsu, xin Chúa củng cố đức tin yếu hèn của con, để con tin thật Chúa đã sống lại, đồng thời giúp con cố gắng sống tốt, hầu làm chứng cho Chúa và sau này được Chúa cho sống lại vinh quang. Amen.

Bài 10
CHÚA THÁNH THẦN

1. GHI NHỚ

H. Chúa Thánh Thần là Đấng nào ?

T. Chúa Thánh Thần là Ngôi thứ Ba, bởi Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con mà ra, cùng một bản tính và một quyền năng như 2 ngôi cực trọng ấy.

Chúa Thánh Thần hiện xuống trên các Tông đồ trong ngày lễ Ngũ Tuần, để khai sinh Hội Thánh.

2. THÁNH KINH

“Khi đến ngày lễ Ngũ Tuần, mọi người đang tề tựu ở một nơi, bỗng từ trời phát ra một tiếng động, như tiếng gió mạnh lùa vào đầy cả căn nhà, nơi họ đang tụ họp. Rồi họ thấy xuất hiện những hình lưỡi lửa, tản ra đậu xuống từng người một. Và ai nấy đều được tràn đầy ơn Thánh Thần. (Cv 2,1-4).

3. GIẢI THÍCH
Chúa Thánh Thần hiện xuống: Trước khi về trời, Chúa Giêsu hứa sẽ xin Chúa Cha sai Chúa Thánh Thần đến với các Tông đồ. Quả nhiên chỉ sau 10 ngày về trời, Chúa Thánh Thần đã hiện xuống trên các ông trong khi họ đang cầu nguyện với Mẹ Maria.

Sự việc xảy ra như sau :
- Sau khi tiễn Chúa về trời, các Tông đồ, Đức Maria và một số người khác trở về Giê-ru-sa-lem ngụ tại một ngôi nhà, ở đó các ngài ăn chay cầu nguyện. - Đến ngày lễ Ngũ Tuần, tức 10 ngày sau khi Chúa lên trời, vào buổi sáng, mọi người bỗng nghe tiếng gió thổi mạnh như cuồng phong vang dội vào nhà. - Kế đó, ai nấy đều thấy trên đầu nhau hình lưỡi lửa phừng phừng cháy. Đó là dấu chỉ của Thánh Thần.

- Kết quả là mọi người đầy Thánh Thần và bắt đầu nói tiếng khác lạ, tùy theo Thánh Thần ban cho họ phát ngôn.

Hiệu quả nơi các Tông đồ: Sau khi lãnh nhận Chúa Thánh Thần, các Tông đồ được hoàn toàn đổi mới : Trước đây, họ là những con người nhát sợ, nay trở nên can đảm phi thường, dám công khai rao giảng Tin Mừng Chúa Giêsu phục sinh và dám chết để làm chứng điều mình rao giảng. Trước đây, họ là những con người ít học, lâu nhớ mau quên, nay trở thành thông minh sáng suốt, ăn nói hùng hồn và lãnh đạo tài giỏi. Ngoài ra các ngài còn được Chúa Thánh Thần ban cho khả năng nói nhiều thứ tiếng và làm nhiều phép lạ để hỗ trợ việc rao giảng của các ngài và củng cố đức tin của các tín hữu.

Thời kỳ của Chúa Thánh Thần bắt đầu ngay sau ngày Chúa Giêsu về trời. Ngài quả thật là Đấng khai sinh Hội Thánh. Thật vậy, nếu không có Ngài hiện xuống thì làm gì có 12 Tông đồ được đổi mới. Mà nếu các Tông đồ không đổi mới thì Hội Thánh làm sao được khai sinh, được phát triển và vững tiến cho đến hôm nay ?

Riêng mỗi người tín hữu, Chúa Thánh Thần hằng ở với họ và tác động trong tâm hồn, để họ luôn kiên vững trong đức tin. Và đức tin ấy được thể hiện bằng lòng mến Chúa yêu người. Nhờ đó, người tín hữu trở nên muối men cho đời, xứng đáng là chiến sĩ Phúc âm của Chúa Kitô.

4. THỰC HÀNH

Tôn trọng thân xác của ta và của người khác, vì là Đền thờ của Chúa Thánh Thần.

5. CẦU NGUYỆN.

Sốt sắng đọc kinh Đức Chúa Thánh Thần.

Bài 11
HỘI THÁNH CHÚA KITÔ

1. GHI NHỚ.

H. Chúa Giêsu thành lập Hội Thánh thế nào ?

T. Chúa Giêsu rao giảng Nước Thiên Chúa, qui tụ các kẻ tin theo Người, chọn riêng 12 Tông đồ, đặt Phêrô thay mặt Người làm đầu Hội Thánh.

Chúa Giêsu lập Hội Thánh nhằm để tiếp tục công cuộc cứu rỗi nơi trần gian.

2. THÁNH KINH.

”Trong những ngày ấy, Đức Giêsu đi ra núi cầu nguyện và Ngài đã thức suốt đêm cầu nguyện cùng Thiên Chúa. Đến sáng, Ngài kêu các môn đệ lại, chọn lấy 12 ông và gọi là Tông Đồ” (Lc, 12-13).

3. GIẢI THÍCH
Chúa Giêsu lập Hội Thánh: Chúa Giêsu biết Ngài sẽ không sống mãi ở trần gian để mà rao giảng Tin Mừng cứu độ. Do đó, Ngài muốn thành lập Hội thánh để tiếp tục công cuộc cứu chuộc ở trần gian. Vì thế, ngay từ khi bắt đầu rao giảng, Ngài đã chọn 12 Tông đồ, như thời Cựu Ước, dân Do-thái dựng nước và giữ nước nhờ con cháu của 12 Tổ phụ thế nào, thì nay một dân tộc mới là Hội thánh cũng được khởi đi từ 12 Tông đồ như vậy. Trước khi tuyển chọn 12 Tông đồ, Chúa Giêsu đã thức suốt đêm cầu nguyện. Sau khi chọn rồi, Ngài lại huấn luyện các ông thật kỹ càng.

Ba nhiệm vụ của Hội Thánh: Để tạo điều kiện thuận lợi cho các Tông đồ xây dựng thành công Hội thánh, Chúa Giêsu đã trao cho các ông 3 nhiệm vụ (3 quyền) sau đây :

Quyền giảng dạy : Trước khi lên trời, Chúa Giêsu đã công khai truyền lệnh: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo ...” (Mc 16,15). Qua quyền giảng dạy được trao ban này, Hội thánh nắm giữ kho tàng Kinh Thánh, giải thích và loan báo Lời Chúa cho mọi người.

Quyền thánh hóa : qua việc cử hành các Bí Tích, đó là phương tiện làm cho người tín hữu được nên thánh. Mỗi khi lập Bí tích nào, Chúa Giêsu cũng ban quyền và truyền cho các Tông đồ làm như thế. Sau khi lập Bí tích Thánh Thể, Ngài nói: “Anh em hãy làm việc này mà tưởng nhớ tới Thày” (Lc,22,19 ). Khi lập Bí tích Rửa tội, Chúa Giêsu đã truyền : “Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần…” (Mt 28,19) v..v..

Quyền lãnh đạo : Với Phêrô Chúa nói : “Hãy chăn dắt chiên con của Thày ... Hãy chăn dắt chiên mẹ của Thày…” (Ga,21,15 - 17). Với tất cả các Tông đồ khác, Chúa Giêsu cũng ban quyền lãnh đạo khi Ngài nói : “Ai nghe anh em là nghe Thày, và ai khước từ anh em là khước từ Thày...” (Lc,10,16).

Như Chúa Giêsu đã sử dụng quyền hành Chúa Cha ban cho để phục vụ loài người thế nào, thì các Tông đồ (ngày nay là các vị ĐGH,GM,LM) cũng sử dụng quyền hành Chúa Giêsu trao cho để phục vụ mọi người như thế.

4. THỰC HÀNH.

Cộng tác với các vị lãnh đạo trong Hội thánh, cụ thể là cha sở, để giúp các ngài chu toàn sứ mệnh Chúa trao.

5. CẦU NGUYỆN.

Lạy Chúa Giêsu, vì thương yêu, Chúa đã thiết lập Hội thánh để giảng dạy, thánh hoá và hướng dẫn chúng con. Xin Chúa cho chúng con biết mến yêu và ra sức làm vinh danh Hội thánh.Amen.
Bài 12
TỔ CHỨC HỘI THÁNH CÔNG GIÁO

1. GHI NHỚ
H. Hội Thánh Công giáo gồm những ai ?
T. Hội thánh Công giáo gồm các người tín hữu trên thế giới, dưới sự lãnh đạo của Đức Giáo hoàng và các Giám mục hiệp nhất với ngài.
Các tín hữu trong Hội Thánh đều hiệp nhất và thông công cùng nhau.
H. Hội thánh Việt Nam là gì ?
T. Hội thánh Việt Nam là thành phần của Hội thánh toàn cầu, gồm tất cả những tín hữu người Việt Nam .

2. THÁNH KINH
”Các tín hữu chuyên cần nghe các Tông đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh và cầu nguyện không ngừng. Họ đồng tâm nhất trí, ngày càng chuyên cần đến Đền thờ. Khi làm lễ tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ. Họ ca tụng Thiên Chúa và được toàn dân thương mến. Và Chúa cho cộng đoàn mỗi ngày có thêm những người được cứu độ” (Cv 2,42.46 - 47).

3. GIẢI THÍCH.
HỘI THÁNH TOÀN CẦU.
Lời trích sách Tông Đồ Công Vụ trên đây cho chúng ta một hình ảnh của Hội thánh đầu tiên : Các tín hữu chuyên chăm nghe các Tông đồ giảng dạy, sốt sắng tham dự thánh lễ và đoàn kết yêu thương nhau. Ngày nay trên thế giới, những ai là tín hữu đúng nghĩa thì cung cách sống đạo cũng giống như thế.
Mầu nhiệm Hội thánh được diển tả như là Dân Thiên Chúa, là Thân Thể Chúa Kitô, là Đền thờ Chúa Thánh Thần.
Thành phần của Hội thánh: gồm Đức Giáo Hoàng đứng đầu, các Giám mục, Linh mục, Tu sĩ và giáo dân hiệp nhất làm thành Dân Thiên Chúa. Như thế, Hội thánh là một tổ chức hữu hình (gồm những con người), có cơ cấu tổ chức điều hành nhằm phục vụ con người. Nhưng Hội thánh lại có tính cách thiêng liêng (thờ phượng Thiên Chúa và lo việc phần hồn), nhận sức sống và ân sủng của Chúa.
Cho nên Hội thánh được gọi là Thân thể mầu nhiệm của Chúa Kitô, mà Chúa Kitô là Đầu, thông ban sức sống và ân sủng cho mọi Chi thể là các tín hữu. Chúa Kitô hứa luôn ở cùng Hội thánh mọi ngày cho đến ngày tận thế.
Hội thánh ly khai : Chúa Kitô thiết lập chỉ có một Hội thánh. Nhưng qua thời gian, do sự vụng về của con người mà có những Hội thánh khác : Tin lành, Chính thống, Anh giáo.
Hội thánh đích thực của Chúa Kitô cần có đủ 4 đặc tính: - Duy nhất - Thánh thiện - Công giáo - Tông truyền .
Hội thánh Công giáo có đủ 4 đặc tính ấy, nên đúng là Hội thánh đích thật của Chúa Kitô.
Hội thánh Hiệp nhất và thông công: Các tín hữu trong Hội thánh bao gồm: Các thánh trên trời (GH khải hoàn), các tín hữu còn sống (GH chiến đấu) và các đẳng linh hồn (GH đau khổ). Tất cả đều được hiệp nhất với nhau vì “chỉ một đức tin, một phép rửa, một Thiên Chúa là Cha”. Tất cả đều được liên kết với nhau trong tình yêu và sức sống của Chúa, nên có thể cầu nguyện và chuyển thông công trạng cho nhau. Đó là tín điều Các Thánh thông công.

HỘI THÁNH VIỆT NAM .
Nước Việt Nam chúng ta được phúc đón nhận đức tin công giáo vào giữa thế kỷ XVI (1533). Nhưng mãi năm 1659 Tòa Thánh mới thành lập được 2 giáo phận Đàng Trong và Đàng Ngoài, đồng thời trao cho các Giám Mục Hội Thừa sai Paris và dòng Đa minh cai quản.
Hội thánh Việt Nam bị bách hại suốt 300 năm (1580 - 1885). Khoảng trên 100.000 tín hữu thuộc mọi thành phần từ Giám mục đến giáo dân cả nam lẫn nữ, đã can đảm hy sinh mạng sống để làm chứng đức tin, trong đó có 117 vị đã được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã tôn phong lên bậc hiển thánh vào ngày 19.06.1988.
Năm 1960, Phẩm trật Hội thánh Việt nam được thiết lập với 3 Giáo Tỉnh (Hà nội, Huế, Sài gòn). Hiện nay, Hội thánh Việt nam có 25 Giáo phận, với hơn 30 Giám mục, hơn 2.000 linh mục triều dòng, hơn 10.000 tu sĩ nam nữ, có khoảng 6 triệu giáo dân sống rải rác trên mọi nẻo đường đất nước. Hội thánh Việt nam hiệp thông với Hội thánh toàn cầu dưới sự lãnh đạo của vị Mục tử tối cao là Đức Giáo Hoàng.

4. THỰC. HÀNH
Kính trọng và vâng phục các phẩm trật, đồng thời cộng tác với các ngài để xây dựng Nước Chúa.

5. CẦU NGUYỆN

Lạy Chúa, xin ban cho Đức Giáo Hoàng, các Đức Giám mục và các Linh mục, được luôn khôn ngoan sáng suốt và đức tin mạnh mẽ, để các ngài hướng dẫn đoàn chiên Chúa đạt tới hạnh phúc Nước Trời. Amen.
Bài 13
TÔN KÍNH ĐỨC MẸ MARIA
1. GHI NHỚ.
H. Tại sao ta sùng kính Đức Maria ?
T. Ta sùng kính Đức Maria vì Ngài là Mẹ Chúa Giêsu, Mẹ Hội Thánh và là Mẹ của ta.

2. THÁNH KINH.
”Sứ thần vào nhà Trinh nữ và nói: “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng Bà …Bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu” (Lc 1, 28, 31).

3. GIẢI THÍCH.
- Đức Maria là người được diễm phúc nhất trong hàng phụ nữ. Mẹ là một người như bao người khác, nhưng được Chúa đoái thương tuyển chọn làm Mẹ sinh ra Đấng Cứu thế. Bởi vì Đấng Cứu thế là Thiên Chúa làm người, nên Đức Maria được suy tôn tước hiệu là Mẹ Thiên Chúa. Trên trời, dưới đất, ngoài Thiên Chúa ra, còn có ai hay có gì cao trọng hơn vinh quang Chúa dành cho Đức Mẹ ?

-Nhưng để xứng đáng làm Mẹ sinh ra Đấng Cứu thế, Thiên Chúa đã ban cho Đức Maria nhiều đặc ân cao quí. Ngoài đặc ân làm Mẹ Thiên Chúa như nói ở trên, còn có 3 đặc ân khác như :
Vô Nhiễm Nguyên tội, tức là Chúa gìn giữ Đức Mẹ khỏi vướng mắc tội Nguyên tổ. Nhờ đó, Mẹ thoát ách thống trị của Sa-tan, trở nên thánh thiện tuyệt vời và cung lòng Mẹ xứng đáng làm nôi cưu mang Chúa Cứu thế.

- Đồng trinh trọn đời. Thánh Kinh cho chúng ta biết: Đức Mẹ trinh tiết khi sinh Chúa Cứu thế là lẽ dĩ nhiên, vì do quyền năng Thiên Chúa. Nhưng sau đó, Chúa còn ban ơn gìn giữ, để Mẹ sống cuộc đời trinh khiết trọn vẹn.
Lên trời cả hồn lẫn xác. Thông thường khi chết thì hồn lìa khỏi xác và xác tan rã trong lòng đất.

- Nhưng Mẹ Maria được hưởng các ơn đặc biệt của Chúa: vô nhiễm nguyên tội, đồng trinh trọn đời, cưu mang và cộng tác với Đấng cứu thế... thì cuối cùng để kết thúc mọi đặc ân, Chúa gìn giữ thân xác Mẹ khỏi bị hư nát trong mồ giống như Con mình. Nên sau khi thắng sự chết Mẹ được đưa lên vinh quang trên trời cả hồn lẫn xác, làm Nữ vương, ngự bên hữu Con mình (Pio XII).

- Hội thánh được ví như một Thân thể mầu nhiệm, mà Chúa Giêsu là Đầu. Người mẹ sinh ra người con thì sinh cả đầu lẫn thân thể. Cũng vậy, Mẹ Maria đã sinh ra Chúa Giêsu là Đầu, thì cũng sinh ra Thân thể là Hội Thánh, nên Mẹ cũng được gọi là Mẹ Hội thánh. Mà Hội thánh là các tín hữu, là mỗi người chúng ta. Như vậy, Mẹ Maria đương nhiên là Mẹ của mọi người chúng ta. Trước khi chết, Chúa Giêsu cũng đã trối ông Thánh Gioan làm con Đức Mẹ.

- Không người mẹ nào lại không thương con. Đức Mẹ yêu thương Chúa Giêsu thế nào, thì cũng yêu thương chúng ta như vậy. Lịch sử cho thấy nhiều lần Mẹ đã phù trợ Hội thánh thoát khỏi những bước gian nguy. Có khi Mẹ đích thân hiện ra (Lộ đức, Fatima ) trực tiếp chỉ dạy Hội Thánh phải sống thế nào để cứu mình và cứu loài người thoát khỏi diệt vong.

- Hội thánh sung sướng nhận Đức Maria làm Mẹ và tỏ lòng tôn kính Mẹ cách rất đặc biệt. Mỗi người chúng ta, với tư cách là con, hãy hết lòng yêu mến Mẹ bằng thực hiện 3 mệnh lệnh của Mẹ là:

-Ăn năn sám hối,
-Siêng năng lần chuổi,
-Tôn sùng trái tim Mẹ.
Hãy thi đua bắt chước các gương nhân đức của Mẹ : sống khiêm nhượng, vâng
phục, bác ái…
- Được như vậy, chắc chắn Đức Mẹ sẽ cầu xin Chúa ban cho chúng ta không thiếu một ơn gì, nhất là ơn cứu độ lại càng được bảo đảm. Thánh Bê-na-đô quả quyết: “Xưa nay chưa từng có ai chạy đến cùng Mẹ xin bầu chữa cứu giúp mà Mẹ từ bỏ chẳng nhậm lời…“

4. THỰC HÀNH.
Siêng năng lần chuỗi, đọc kinh Kính Mừng mỗi ngày để yêu mến Mẹ (Học cách Lần chuổi).

5. CẦU NGUYỆN.
Lạy Mẹ Maria, thật sung sướng biết bao, khi biết Mẹ là Mẹ của con. Mẹ hằng yêu thương che chở, phù giúp con trên đường về quê trời. Xin cho con biết đền đáp tình thương của Mẹ bằng siêng năng lần chuổi và bắt chước các nhân đức sáng ngời của Mẹ. Amen.

Bài 14. TỨ CHUNG

1. GHI NHỚ.
H. Tứ chung là gì ?
T. Đó là 4 điều sau cùng của đời người: Chết, Phán Xét, Thiên Đàng-Hoả Ngục, Sống Lại.
2. THÁNH KINH.
”Tất cả những ai thấy và Tin vào Người Con, thì được sự sống đời đời và Ta sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết” (Ga. 6,40)
3. GIẢI THÍCH.
1. CHẾT: Chết là chấm dứt cuộc sống trần gian, là linh hồn lìa khỏi thân xác. Chết là một sự thật không ai chối cãi. Vì linh hồn thiêng liêng nên bất tử, còn xác là vật chất nên bị hư nát.
Theo quan niệm dân gian : Sinh ký, Tử qui, nghĩa là sống gởi, thác về: Chết là trở về trình diện với Cha. Đức tin công giáo dạy : Chết là do hậu quả của tội lỗi, “vì một người duy nhất mà tội lỗi đã xâm nhập trần gian và tội lỗi đã gây nên sự chết” (Rm 5,12). Chết là ngưỡng cửa bước vào đời sau, đặc biệt, chết là tham dự cuộc Tử nạn với Chúa Kitô để chờ ngày sống lại trong vinh quang.

2. PHÁN XÉT.
- Ngay sau khi chết, linh hồn mỗi người gặp Chúa phán xét riêng, tuỳ các việc lành-dữ đã làm khi còn sống, để nhận lấy số phận hạnh phúc (nơi Thiên đàng) hoặc đau khổ (nơi Luyện ngục - Hoả ngục).
- Thánh Kinh còn dạy, đến ngày sau hết (ngày Tận thế), thân xác mọi người sẽ sống lại, Chúa Kitô sẽ đến lần thứ 2 trong vinh quang để phán xét chung toàn thể loài người. Phán xét chung sẽ cho ta biết sự công chính của Thiên Chúa toàn thắng tội lỗi và tình yêu của Chúa mạnh hơn sự chết.

3. THIÊN ĐÀNG - HOẢ NGỤC - LUYỆN NGỤC.
Thiên đàng : Là trạng thái hưởng hạnh phúc với Chúa. Linh hồn những người chết trong ơn nghĩa Chúa và đã được thanh tẩy vẹn toàn, thì sẽ sống hạnh phúc với Chúa trong Nước Trời, còn gọi là Thiên đàng.
Luyện ngục : là tình trạng thanh luyện những người chết trong ơn nghĩa Chúa, nhưng chưa sạch mọi tỳ vết tội lỗi, hoặc chưa đền tội đủ, nên chờ thanh luyện cho xứng, chờ được vào thiên đàng.
Hoả ngục : là tình trạng bị giam cầm đau khổ vì khước từ hạnh phúc với Chúa, mà án phạt nặng nhất là xa cách Chúa đời đời. Đó là những người chết trong tình trạng tội trọng, không ăn năn hối cải, cố chấp.

4. Sự SỐNG LẠI.
Kinh tin kính kết thúc : tôi tin xác loài người ngày sau sống lại, tôi tin hằng sống vậy “Đó là nói đến ngày Tận thế, tất cả mọi người chết sẽ sống lại, dù “người lành cũng như người dữ”. Tuy nhiên, khi xác sống lại, không phải số phận mỗi người giống nhau, vì:”ai làm điều lành sẽ sống lại để được sống hạnh phúc, ai đã làm điều dữ thì sẽ sống lại để bị kết án” (Gn 5,29). Sống lại như thế nào? Mỗi người sẽ sống lại với thân xác của mình, nhưng được biến đổi thành “xác có thần khí” không hư nát” (I Cor 15,44), còn việc sống lại bằng cách nào thì vượt quá trí hiểu của ta.

4.THỰC HÀNH
Can đảm nhìn sự chết, để quyết tâm sống thánh.
5. CẦU NGUYỆN
Lạy Chúa, Chúa đã chết và đã sống lại để cứu chuộc con. Xin cho con biết sống cuộc sống hiện tại tốt đẹp, biết chuẩn bị cho giờ chết, để sau cái chết, con sẽ được sống lại bên Chúa. Amen.
(gpvinhlong)

->Đọc thêm...

0 komentarze: