CLICK HERE FOR THOUSANDS OF FREE BLOGGER TEMPLATES »
“Hỡi anh em, ta hãy trung tín cùng Đức Chúa Trời cho đến chết ; cho đến chết, không một điều gì có thể dập tắt lòng thương mến Chúa Giêsu Kitô trong trái tim ta" (Những lời sau cùng của Chân Phước Anrê Phú Yên)

19.8.14

Đức Phanxicô phong chân phúc cho 124 vị tử đạo Đại Hàn


Kitô Giáo Đại Hàn có mặt từ thế kỷ 18, lúc các học giả Đại Hàn nghe biết sự phát triển đức tin tại Trung Hoa. Họ tới Trung Hoa để học hỏi Kitô Giáo nơi các nhà truyền giáo Dòng Tên. Rồi trở lại quê hương để giảng dạy đức tin, thu hút hàng ngàn tân tòng dù không có linh mục.

Theo tin CNA, Đức Phanxicô, hôm nay, 16 tháng Tám, đã phong chân phúc cho các vị Tử Đạo Đại Hàn là Phaolô Yun Ji-chung và123 đồng bạn, ca ngợi các hy sinh vĩ đại của họ và lời kêu gọi “đặt Chúa Kitô lên trên hết” của họ.

Trong Thánh Lễ tại Cổng Gwanghwamun ở Hán Thành, trước hàng chục ngàn người, ngài nói rằng “Tất cả các vị đã sống và chết cho Chúa Kitô, và nay các vị đang trị vì với Người trong hân hoan và vinh quang. Chiến thắng của các vị tử đạo, chứng tá của các vị đối với sức mạnh của tình yêu Thiên Chúa, tiếp tục mang nhiều hoa trái hiện nay tại Đại Hàn, trong Giáo Hội từng nhận được sự lớn mạnh do chính các hy sinh của các vị”.

“Việc chúng ta cử hành Chân Phúc Phaolô và Các Bạn Tử Đạo đem lại cho chúng ta cơ hội trở về với những giờ phút đầu tiên, thời sơ sinh, có thể nói như thế, của Giáo Hội tại Đại Hàn. Nó mời gọi chúng ta, người Công Giáo Đại Hàn, nhớ tới các việc lớn lao mà Thiên Chúa đã thực hiện tại đất nước này và trân qúi di sản đức tin và đức ái từng được các bậc cha ông ủy thác cho anh chị em”.

Kitô Giáo Đại Hàn có mặt từ thế kỷ 18, lúc các học giả Đại Hàn nghe biết sự phát triển đức tin tại Trung Hoa. Họ tới Trung Hoa để học hỏi Kitô Giáo nơi các nhà truyền giáo Dòng Tên. Rồi trở lại quê hương để giảng dạy đức tin, thu hút hàng ngàn tân tòng dù không có linh mục.

Các nhà cầm quyền Đại Hàn bắt đầu bách hại các Kitô hữu và ngăn cấm sách vở Công Giáo.

Phaolô Yun Ji-chung và Giacôbê Kwong Sang-yon, cả hai đều là người Công Giáo thuộc giai cấp quí tộc, bị chém đầu năm 1791 vì vi phạm lễ nghi Khổng Giáo. Việc xử trảm họ đánh dấu việc khởi đầu cuộc bách hại lớn hàng giáo dân Đại Hàn.

Chỉ có một linh mục duy nhất, xuất thân từ Trung Hoa, trong số 124 vị tử đạo được phong chân phúc hôm nay.

Lời tuyên bố chính thức của Đức Giáo Hoàng về việc phong chân phúc đã khiến công chúng hoan hô vang dội trong khi kèn đồng và trống phách trổi lên trong Công Trường Gwanghwamun. Những màn ảnh truyền hình khổng lồ dựng hai bên bàn thờ chiếu hình ảnh các vị tử đạo.

Bài giảng của Đức Phanxicô nói rằng nguồn gốc Kitô Giáo Đại Hàn chứng tỏ “tầm quan trọng, phẩm giá và vẻ đẹp” của ơn gọi làm người Công Giáo giáo dân.

Ngài nói: “Trong ơn quan phòng mầu nhiệm của Thiên Chúa, đức tin Kitô Giáo đã được mang tới các bờ biển Đại Hàn không qua các nhà truyền giáo; đúng hơn, nó đi thẳng vào tâm trí người dân Đại Hàn. Nó được dẫn khởi từ sự tò mò trí thức, muốn đi tìm sự thật tôn giáo. Nhờ gặp gỡ sơ khởi với Tin Mừng, các Kitô hữu Đại Hàn tiên khởi đã mở tâm trí mình cho Chúa Giêsu. Họ muốn hiểu biết nhiều hơn về Chúa Kitô, Đấng chịu đau khổ, chịu chết và đã sống lại từ cõi chết”.

Các vị tử đạo Đại Hàn đã được thừa nhận là Thánh. Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II phong hiển thánh cho 103 vị tử đạo Đại Hàn vào ngày 6 tháng Năm năm 1984 trong một cuộc viếng thăm Nam Hàn.

Trong bài giảng của ngài, Đức GH Phanxicô khẩn cầu các vị thánh này, Thánh Anrê Kim Taegon, Phaolô Chong Hasang và các bạn tử đạo, cùng với các vị mới được phong chân phúc.

Ngài nói “Tất cả các vị đã sống và đã chết cho Chúa Kitô, và giờ đây, các vị đang hiển trị với Người trong hân hoan và vinh quang”.

Đức Giáo Hoàng thảo luận bài đọc Tin Mừng trích từ chương 17 Tin Mừng theo Thánh Gioan và sự liên quan của nó đối với các vị vừa được phong chân phúc.

Ngài cho hay: “…Điều có ý nghĩa là khi Chúa Giêsu cầu xin Chúa Cha thánh hiến và che chở chúng ta, Người không xin Chúa Cha lấy chúng ta ra khỏi thế gian này. Chúng ta biết rằng Người sai các môn đệ ra đi làm men thánh thiện và sự thật trong thế gian: làm muối đất, làm ánh sáng thế gian. Về điều này, các vị tử đạo chỉ đường cho ta”.

Các vị tử đạo Đại Hàn “đã phải chọn giữa việc theo chân Chúa Giêsu hay theo thế gian. Họ biết cái giá của việc làm môn đệ. Họ sẵn sàng thực hiện những hy sinh lớn lao và tự để mình bị tước đoạt bất cứ những gì tách biệt họ khỏi Chúa Kitô: của cải, đất đai, danh tiếng và vinh dự, vì họ biết rằng chỉ một mình Chúa Kitô mới là trân châu ngọc qúi thực sự của họ”.

Đức GH lưu ý sự cám dỗ “muốn thỏa hiệp đức tin, muốn hạ thấp các đòi hỏi triệt để của Tin Mừng và sống theo tinh thần thời đại. Ấy thế nhưng các vị tử đạo kêu gọi chúng ta đặt Chúa Giêsu lên trên hết và nhìn mọi sự khác trên thế gian này trong tương quan với Người và vương quốc đời đời của Người. Các vị thách thức chúng ta suy nghĩ về điều ta sẵn sàng chết cho”.

Đức Phanxicô kết thúc bài giảng của ngài bằng một lời cầu nguyện: “Ước chi lời cầu nguyện của mọi vị tử đạo Đại Hàn, kết hợp với lời cầu nguyện của Đức Mẹ, Mẹ Giáo Hội, giúp chúng ta nhận được ơn kiên nhẫn trong đức tin và trong mọi việc lành phúc đức, ơn thánh thiện và trong sạch tâm hồn, và lòng nhiệt thành tông đồ trong việc làm chứng cho Chúa Giêsu trên quê hương yêu quí này, trên khắp Á Châu, và cho tới tận cùng trái đất”.

Vũ Văn An (Theo vietcatholic)

->Đọc thêm...

Hai mặt của một cuộc đời linh mục


Nếu các Linh mục luôn hăng hái vun tưới và ươm trồng cây thánh thiện này mỗi ngày một mạnh mẽ hơn, thì chắc chắn Ơn Thánh của Chúa được tràn ngập nơi các ngài.
Thoáng nhìn vào cuộc sống của Linh mục, ai ai cũng cảm thấy đời sống đó thật đơn giản, thoải mái, dễ chịu và sung túc về mọi mặt. Nhưng nhìn kỹ và đi sâu vào cuộc sống của Linh mục, chúng ta mới thấy rõ được những ngổn ngang, phức tạp, những trăn trở, giằng co, và những nhức nhối, khó khăn về nhiều mặt cả Đạo lẫn Đời.

Con người Linh mục chắc hẳn không phải là thần thánh, là thiêng liêng, mà thật sự là một con người như muôn người khác đang sống giữa dòng đời - phải bôn ba, va chạm và giao tiếp với mọi hạng người. Có những người hiểu và thông cảm, nhưng cũng có nhiều kẻ không hiểu và chẳng muốn cảm thông gì cả !

Chính vì Linh mục là “con người”, nên cũng mang thân phận của con người với một thân xác nặng nề, yếu hèn, dễ vấp ngã như mọi người, và cũng có hỉ - nộ - ái - ố và tham - sân - si … không thể nào khác hơn “ông bà nguyên tổ, A-Đam - E-Và trong vườn Địa Đàng, mặc dù đã được Thiên Chúa ưu đãi đó”. Đặc biệt là những cám dỗ thật hấp dẫn của thời đại về: Tiền - Tài - Tình, từ đó phá hủy con người chúng ta ra tro bụi cách dễ dàng !

Mặt khác, Linh mục là con người nhưng mà phải làm những việc thần thiêng “Một KiTô khác” (Alter Christus), để đem thế giới loài người phàm trần tạm bợ này về với Thế Giới Thiên Đường vĩnh cửu mà Thiên Chúa Ba Ngôi cực Thánh đang chờ đón những thành quả của các ngài.

- Về mặt con người, Linh mục có một cuộc sống độc thân : nên phải tự chăm lo mọi sự trong ngoài cho đời sống của mình, để có đủ điều kiện sức khoẻ thân thể cũng như tinh thần minh mẫn mà hoạt động cho Cộng đoàn Giáo hữu luôn được tốt đẹp. Và chính đời sống độc thân đó mới tích cực giúp Linh mục gặt hái được những thành quả cách mỹ mãn, công bằng và không bị chi phối bởi bất cứ ai hay điều gì ràng buộc cả ! Và cũng chính đời sống độc thân này giúp cho Linh mục không phải lo lắng, ưu tư gì về cuộc sống vật chất hiện tại hay tương lai sẽ ra sao !

Một mình chẳng nghĩ chẳng lo,
Đặt mình là ngáy kho kho ngủ liền.
Tâm tư chẳng nghĩ gì tiền,
Tương lai, hiện tại chẳng phiền vào thân !

Và từ đời sống độc thân đó, Linh mục là của mọi người, không thuộc về bất cứ ai hết, và cũng chẳng là của phe nhóm nào cả !

Nếu ý thức được như thế, mọi người chúng ta sẽ tích cực giúp các Linh mục có một đời sống thật trong sáng, thoải mái, vui tươi và hạnh phúc trong Tình Yêu duy nhất của Thiên Chúa, để từ đó các ngài chiếu giãi Thiên Chúa Tình Yêu đến cho mọi người bằng chính “đời sống gương sáng” là Chứng nhân đích thực của Chúa Kitô giữa trần gian.

Quả thật, Xây Dựng thì khó, mà phá đổ thì quá dễ ! vì thế, tuỳ khả năng và thời giờ mà mỗi người giáo hữu chúng ta phải tiếp tay, cộng tác, đóng góp và giúp sức với Linh mục, để cùng xây dựng một Giáo Hội tươi sáng, thánh thiện và bác ái ngay ở trần gian này.

Đó là cách truyền giáo hữu hiệu nhất và là dấu hiệu mọi người nhận biết tất cả chúng ta là Môn đệ của Chúa Kitô : vì “Các con yêu thương nhau” (Jn.13,35;15,9-17), nên sẵn sàng chia sẻ và giúp đỡ lẫn nhau trong mọi việc cho vinh Danh Chúa.

- Còn về mặt thần thiêng, thánh chức, Linh mục là vị Đại Diện của Thiên Chúa trên trần gian, để ban phát các Ơn thánh qua Bảy Bí tích và các Á Bí tích nữa, hầu cho con người được sự trợ lực linh thiêng mà vượt thắng mọi gian tà thế tục.

Và cũng là người hướng dẫn tinh thần, để mọi người sống đúng Lời Chúa mà giáo Hội “vị Hiền Thê của Chúa Kitô” mới am tường và chỉ dạy cách trung thực cho tất cả chúng ta được hiểu biết rõ ràng và đem ra thực hành trong cuộc sống và hoàn cảnh cụ thể của riêng mỗi người.

Chính đây là mặt tích cực, luôn luôn lôi kéo Linh mục tiến lên và vượt thẳng đến mức độ toàn thiện, như Chúa Giêsu Kitô đã khẳng định : “các con hãy nên trọn lành, như Cha các con trên Trời là Đấng trọn lành” (Mt.5,48).

Nếu các Linh mục luôn hăng hái vun tưới và ươm trồng cây thánh thiện này mỗi ngày một mạnh mẽ hơn, thì chắc chắn Ơn Thánh của Chúa được tràn ngập nơi các ngài, và từ đó tưới gội trên toàn thể mọi người chung quanh qua việc gặp gỡ, giao tế, trò chuyện và bàn hỏi cách thiết thực, làm cho cuộc sống tạm bợ này được biến đổi thành một Hạnh Phúc vĩnh cửu ngay từ tại thế.

Còn nếu Linh mục quên đi cái mặt tích cực này, thì thật là một thảm họa cho mọi người mọi nơi, không hưởng được Ơn Thánh dồi dào và không thể có một Hạnh Phúc chân thật nơi trần gian này. Và từ đó, sinh ra nhiều giống tội, và làm thiệt hại cho Giáo Hội là Mẹ của chúng ta, không thể sinh hoa kết trái thánh thiện được nơi dương thế này, và như vậy làm sao chúng ta có thể mai sau cùng hưởng Hạnh Phúc bất diệt tuyệt vời trên Nước Trời được !!!

- Nếu mọi người chúng ta đều hiểu rõ Hai khía cạnh của Một cuộc đời Linh mục như thế, thì chắc chắn chúng ta phải cùng nhau tích cực hỗ trợ, giúp sức, và góp phần cải thiện cho các Linh mục mỗi ngày một hoàn hảo, thánh thiện, sáng ngời và tươi đẹp hơn, bằng những hành động cụ thể :

Cùng Linh mục, chúng ta tích cực góp phần mình để xây dựng mọi mặt của Giáo Hội được tốt đẹp hơn.

Cùng Linh mục, chúng ta luôn luôn chia sẻ mọi gánh nặng, mọi công việc cả Đạo lẫn Đời mỗi ngày cho được hoàn thành cách mỹ mãn như ý Chúa muốn nơi chúng ta.

Ý thức Linh mục có chức thánh, chúng ta phải tỏ lòng kính trọng và giúp các ngài hoàn thành chức vụ mỗi ngày một thêm thánh thiện hơn.

Ý thức Linh mục cũng là con người yếu hèn như chúng ta, nên chúng ta phải giúp các ngài xa tránh mọi dịp : “nhàn cư vi bất thiện” - “ăn chơi cách phàm tục quá độ”(kiểu Tứ đổ tường), và đặc biệt đừng làm cớ vấp phạm cho các ngài, nhất là nữ giới.Vậy các giáo dân nữ nên ăn mặc kín đáo hơn, không nên phơi bày quá đáng những nét đẹp của mình trước mặt các vị tu hành, cũng như hạn chế mọi giao tiếp không cần thiết, vô bổ, và những cử chỉ thân mật với các ngài. Chúng ta tin rằng việc làm này sẽ có ảnh hưởng rất tích cực trong việc giúp các ngài đi trọn quãng đường dâng hiến cho Chúa. Đó cũng là một việc hi sinh lớn lao giúp các Linh mục được luôn sống thánh thiện. Và chúng ta chắc rằng sự hi sinh đó sẽ được thánh Phêrô ghi công để rồi ngài sẽ mở cửa Thiên Đàng đón mừng các thánh nữ sau này.

Trong tinh thần anh em của Chúa Kitô, chúng ta sẵn sàng đóng góp ý kiến xây dựng chân tình,cụ thể và đầy thánh thiện, để mọi thành phần Dân Chúa được trở nên hoàn thiện.

Ước gì Cuộc đời Linh mục sống giữa trần gian, nhưng không bị biến dạng, đổi thay vì thời gian, và cũng không bị nhuốm mùi đời mà trái lại thêm “Hương” cho đời, giống như BÔNG HOA SEN ở giữa đầm lầy:

Trong đầm gì đẹp bằng Sen,
Lá xanh bông trắng lại chen nhụy vàng.
Nhụy vàng bông trắng lá xanh,
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

Mặc dầu, Linh mục là con người, nhưng được mang sứ mệnh của Chúa Kitô, nên phải hoàn tất con đường Thập Giá của Chúa Kitô đến cùng, và mang lại Ơn Cứu Rỗi cho muôn dân nữa:

Đã mang thân kiếp con người,
Ốm đau, yếu đuối, biếng lười thường xuyên.
Ân cần giúp đỡ lời khuyên,
Chớ nên ăn nói huyên thuyên hại đời.
Linh mục là của mọi người,
Chúa Trời ban tặng cho đời thêm Ơn :
An bình, Hạnh Phúc đẹp hơn,
Thiên Đàng sum họp cô đơn không còn !

Hy vọng đôi dòng suy tư cùng chia sẻ với mọi người về Cuộc đời Linh mục có Hai mặt phải trái nói trên, sẽ giúp mọi người chúng ta ý thức hơn và đóng góp thêm những kinh nghiệm cụ thể, để cuộc sống Linh mục mỗi ngày được thêm phong phú và tuyệt vời hơn.
Gs Thiện Nhân

->Đọc thêm...

Cuộc đời và sứ mạng Linh mục đứng trước thực tại tội lỗi


Kính thưa quí Cha thân mến,
Một lần nữa tôi lại có dịp được trao đổi đôi tâm tư với quí Cha là những người cộng tác và chia sẻ với tôi trách nhiệm mục tử trong giáo phận Xuân Lộc chúng ta. Đề tài của suy tư lần này là “Cuộc đời và sứ mệnh của Linh mục đứng trước thực tại tội lỗi”.
1. Lời mời gọi hối cải của Chúa và sứ mệnh của Giáo Hội
Trong hành trình cuộc đời, ai cũng có lúc phải đối diện với một thực tại làm nhức nhối tâm hồn : đó là tình trạng yếu đuối và tội lỗi. Thời đại nào cũng có hoàn cảnh tội lỗi và những con người tội lỗi, nhưng trong thế giới hôm nay, nhiều khi tội lỗi còn được nhiều người, nhiều phương tiện truyền thông quảng bá rộng rãi và rủ rê, khích lệ làm điều tội. Người ta cũng tìm cách ru ngủ lương tâm con người, biến tội lỗi thành đức tính. Thực tại tội lỗi trở thành một đám mây đen bao trùm môi trường sống, gây ra rất nhiều khó khăn trong cuộc sống cá nhân và trong các liên hệ giữa các cá nhân và các nhóm người. Chính vì vậy, hơn bao giờ hết, Giáo Hội cần phải làm vang lên lời mời gọi đầu tiên của Chúa Kitô khi Ngài bắt đầu cuộc đời công khai : “Thời gian đã mãn hạn, Nước Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy hối cải và tin vào Tin Mừng.” (Mc 1,15).
Linh mục chúng ta là những người đầu tiên phải nhận lấy sứ vụ này của Giáo Hội và chúng ta có bổn phận phải nhắc nhở mọi thành phần Dân Chúa nhớ và cố gắng đáp lại lời mời gọi của Chúa.
Các Kitô hữu được sinh ra cũng là những kẻ có tội như mọi ngươi, nhưng khác một điều là chân thành đón nhận lời mời gọi hối cải của Chúa Kitô : “Anh em hãy hối cải và tin vào Tin Mừng”. Các Kitô hữu và ngay cả anh em linh mục chúng ta không phải đã là thánh khi được sinh ra, nhưng là những kẻ có tội, trông cậy vào ơn cứu độ của Chúa Kitô, đang cố gắng thay đổi con người của mình để trở nên thánh. Đây là chứng tá đầu tiên các Kitô hữu và các cộng đoàn Kitô hữu phải dâng tặng cho thế giới. Dĩ nhiên, trong cộng đoàn các môn đệ của Chúa Kitô, anh em linh mục chúng ta phải là những người dẫn đầu trên hành trình hối cải này. Đó là chứng tá của những kẻ có tội đang vươn mình lên để nên thánh và mời gọi tất cả thế giới cùng đi vào hành trình đó để tìm lại được niềm vui và sức sống.
Sứ điệp kêu gọi hối cải có thể đi vào lòng người và có tính cách thuyết phục khi nó không phải là một lời kêu gọi suông, hay một lời trách móc, ta thán, nhưng là lời phát xuất từ lòng của một người đã vui mừng cảm nghiệm được ơn tha thứ và sự nâng đỡ của Chúa Kitô trước những yếu đuối và lỡ lầm của chính mính. Do đó, để kêu gọi hối cải, chính mình phải đi vào hành trình hối cải.
1. Thái độ trước những dịp tội
Người ta thường ghét bỏ tội lỗi nơi người khác và có khi còn chửi bới, rêu rao sai lầm của những người đó. Còn đối với tội lỗi của chính mình, người ta lại nhắm mắt làm ngơ, coi như không có gì, và còn tìm lý lẽ để chống chế và biện minh cho chính mình, hoặc sau khi đã cố gắng mà không được thì buông xuôi chạy theo sức quyển rũ của tội lỗi.
Trong bài giảng ngày 2 tháng 7 năm 2013, dựa vào các bài Sách Thánh theo phụng vụ (St 19,15-29 ; Mt 8,23-27), Đức Thánh Cha Phanxicô đã mời gọi phải “chạy trốn” và đó là can đảm trong sự yếu đuối. Đó chính là lời của Thiên sứ nói cho ông Lot và gia đình ông : “Hãy chạy trốn ngay. Ngươi không thể chống chọi được sức mạnh của núi lửa. Nó sẽ thiêu rụi ngươi”.
Dựa vào bài sách Sáng Thế (St 19,15-29), Đức Thánh Cha Phanxicô đã phân tích ra hai thái độ. Thái độ thứ nhất là chần chừ. Đây là thái độ của ông Lot không chịu đi ngay. Dính bén với tội lỗi, không quyết định dứt khoát. Thái độ thứ hai là thái độ của bà vợ : quay lại nhìn ! Đây là thái độ tiếc nuối. Đã bỏ đi, nhưng lòng vẫn thèm khát. Có khác chi việc người ta ăn chay, kiêng thịt và lòng vẫn mơ ước, hay còn làm đồ giả cho đỡ thèm. Như vậy, người ta không những thèm khát mà còn nuôi dưỡng sự thèm khát trong lòng ! Đứng trước những quyến rũ và cạm bẫy của tội lỗi trong xã hội hôm nay, Đức Thánh Cha còn thêm vào yếu tố tò mò. Người ta tò mò, muốn thử, muốn biết. Nhưng một khi đã nhúng chân vào thì rút không ra !
Suy niệm bài sách Tin Mừng (Mt 8,23-27), Đức Thánh Cha Phanxicô chỉ ra thêm hai thái độ nữa. Thái độ thứ ba là lo sợ. Các môn đệ chèo thuyền sang bên kia bờ biển hồ, có Chúa Giêsu trên thuyền. Bỗng nhiên, biển nổi sóng lớn, bao trùm cả con thuyền. Các môn đệ lo sợ, la hoảng ! Tội lỗi có một mãnh lực lớn lao, trong khi con người lại hết sức yếu đuối và mỏng dòn ! Do đó, người ta không chỉ phạm tội mà còn bất lực và xem ra không có khả năng không phạm tội ! Kinh nghiệm này, một phần nào, đã được thánh Phaolô diễn tả trong thư gửi giáo đoàn Roma : “Tôi làm gì tôi cũng chẳng hiểu : Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm.” (Rom 7,15.19). Người ta lo sợ, buông xuôi và hết khả năng chiến đấu chống lại sức mạnh quyền rũ của tội lỗi. Thái độ thứ bốn là với lòng tin cậy, phó thác, kêu cầu Chúa : “Lạy Thầy, xin cứu chúng con ! Chúng con chết mất !”. Chúa chỉ nói một lời, biển yên lặng như tờ. Chỉ có sức mạnh thần linh của Chúa mới giữ chúng ta đứng vững và mới có khả năng kéo chúng ta ra khỏi sức quyển rũ của tội lỗi.
Tin tưởng chạy đến kêu cầu Chúa, nhưng lắm khi sóng vỗ con thuyền bập bềnh, mà xem ra Chúa vẫn ngủ. Chúa xem ra vẫn ngủ, nhưng có Chúa, con thuyền không chìm ! Cần phải trải qua kinh nghiệm của sự yếu đuối của mình mà không mất lòng tin tưởng vào lòng thương xót và sức mạnh của ơn thánh Chúa mới có được lòng xót thương và bao dung mà cảm thông với những con người đang gù lưng trước sức nặng của sự quyến rũ và mê hoặc của tội lỗi, đồng thời thông truyền cho họ niềm hy vọng vào lòng thương xót của Chúa để vươn lên khỏi sức mạnh của sự tội.
1. Sứ mệnh tham dự chương trình cứu độ
Để cứu vớt nhân loại tội lỗi, Chúa Kitô đã xuống thế làm người, đã chia sẻ thân phận con người với mọi người, đã giảng dạy để soi sáng tâm trí, đã gần gũi, chữa lành các bệnh nhân, đã tỏ uy quyền xua đuổi qủy dữ... Tất cả là tốt và quan trọng, nhưng vẫn chưa đủ. Sau cùng, Chúa Giêsu đã chấp nhận đau khổ trong Tuần Thương Khó với cái chết nhục nhã trên Thánh Giá.
Sứ mệnh tham dự thiên chức Linh mục của Chúa Kitô đòi một bước đắt giá mà thánh Phaolô gọi là sự điên rồ của tình yêu Thánh Giá. Chấp nhận chịu đau khổ để cứu vớt kẻ có tội. Khi hiện ra ở Lộ Đức, Đức Mẹ đã nói với em bé Bernadette : “Mẹ hứa cho con được hạnh phúc, nhưng là hạnh phúc ở đời sau kia. Còn ở đời này, con có chấp nhận chịu đau khổ để cầu nguyện cho các kẻ có tội được ơn ăn năn trở lại không ?” Em bé Bernadette đã chấp nhận và sau đó, tất cả cuộc đời của em đã trải qua trong đau khổ của sự khinh thường và của cơn bệnh cho đến chết.
Kính thưa quí Cha,
Tôi xin cám ơn quí Cha đã lắng nghe đôi tâm tư phát xuất từ lòng tôi. Xin Chúa chúc lành cho quí Cha, xin Đức Mẹ che chở quí Cha và xin quí Cha cũng cầu nguyện cho tôi, cho Đức Cha Phụ tá và Đức Ông - Tổng Đại Diện.
Với lòng quí mến, xin kính chào quí Cha.
+ Đaminh Nguyễn Chu Trinh
Giám mục Giáo phận Xuân Lộc
Trích : "Tĩnh tâm Linh mục Xuân Lộc tháng 09"


->Đọc thêm...

VATICAN YÊU CẦU CÁC VỊ HỮU TRÁCH HỒI GIÁO LÊN ÁN SỰ DÃ MAN CỦA NHÀ NƯỚC HỒI GIÁO


Trong một thông cáo hôm 12/8/2014, Hồi đồng Tòa Thánh về đối thoại liên tôn đã yêu cầu các vị hữu trách Hồi giáo có một « lập trường rõ ràng » liên quan đến « các hành vi tội ác khôn tả » do nhóm chiến binh Nhà Nước Hồi Giáo thực hiện.

Theo thông cáo này, việc không lên án các tội ác vi phạm nhân danh tôn giáo sẽ dẫn đến sự mất « tính khả tín » của « việc đối thoại liên tôn được theo đuổi cách kiên nhẫn những những năm qua ».

Thông cáo nhấn mạnh : « Hoàn cảnh bi kịch của các Kitô hữu, của các yézidis và các cộng đồng tôn giáo và sắc tộc khác thiểu số ở I-rắc đòi hỏi một lập trường rõ ràng và can đảm về phía các vị hữu trách tôn giáo, nhất là Hồi giáo, về phía những người dấn thân đối thoại liên tôn và tất cả những người thiện chí ». « Tất cả mọi người phải đồng thanh lên án cách rõ ràng những tội ác này và tố giác việc nại đến tôn giáo để biện hộ cho chúng ».

« Các vị hữu trách tôn giáo cũng được mời gọi thực thi sự ảnh hưởng của họ đối với các vị lãnh đạo nhằm ngưng các tội ác này, trừng phạt những ai vi phạm chúng và tái lập một tình trạng pháp quyền trên toàn lãnh thổ, đồng thời đảm bảo sự quay trở về nhà của mình của những người bị trục xuất ».

Thông cáo cũng cám ơn những ai đã « lên tiếng chống lại khủng bố ». Theo thông cáo, các vị lãnh đạo tôn giáo phải nhắc nhở cho các tín hữu của họ rằng « việc ủng hộ, cung cấp tài chính và trang bị vũ khí cho khủng bố là bị lên án về mặt luân lý ».

Thông cáo tố giác một loạt « những hành vi tội ác khôn tả » : những cuộc tàn sát, « cách làm bỉ ổi của việc chặt đầu, đóng đinh và treo thi thể ở những nơi công cộng », « sự chọn lựa áp đặt cho các Kitô hữu và Yézidis giữa việc trở lại đạo Hồi, đóng thuế hay trục xuất », « bắt cóc các thanh nữ và phụ nữ thuộc về các cộng đoàn Yézidis và Kitô hữu như là chiến lợi phẩm », « việc áp đặt lối thực hành man rợ tục khâu vòng ngăn ngừa giao cấu, phá hủy các nơi thờ phượng và các lăng của người Kitô hữu và Hồi giáo ».

Thông cáo khẳng định : « Không có lý do nào có thể biện minh cho một thói man rợ như thế, và chắc chắn không phải là một tôn giáo ».

Tý Linh

theo La Croix

->Đọc thêm...

TẠI SAO VATICAN CHO RẰNG CẦN THIẾT CÓ MỘT CUỘC CAN THIỆP QUÂN SỰ Ở I-RẮC?


Đang khi từ thập niên 1960, lập trường của Vatican là rất dè dặt đối với việc sử dụng lực lượng quân sự trong việc giải quyết các xung đột, thì Đức cha Silvano Tomasi, Quan sát viên thường trực của Tòa Thánh tại Liên Hiệp Quốc, đã tuyên bố hôm 9/8/2014, rằng một cuộc can thiệp quân sự ở I-rắc là “cần thiết vào lúc này để ngăn chặn đà tiến công của nhóm chiến binh Hồi giáo ở I-rắc”.

Trao đổi với Christian Mellon, dòng Tên, thành viên của Trung tâm nghiên cứu và hoạt động xã hội (Ceras).

Đức cha Tomasi đã cho là “cấp bách” làm thế nào để tìm ra các nước cung cấp vũ khí và tiền bạc cho nhóm chiến binh của Nhà Nước Hồi Giáo và ngưng kiểu ủng hộ này.

Về phần mình, Đức Phanxicô đã yêu cầu có một “giải pháp chính trị hữu hiệu để tái lập luật pháp” ở I-rắc. Ngài đã xác nhận rằng đặc phái viên của ngài, ĐHY Fernando Filoni, sẽ đến Kurdistan để bày tỏ tình liên đới với người dân ở đó.

Ý kiến của Christian Mellon về vấn đề này:

“Quả thực, theo “học thuyết về chiến tranh chính đáng”, tức là lập trường truyền thống của Giáo Hội Công Giáo về tính chính đáng luân lý của cuộc chiến, một cuộc can thiệp quân sự là hiếm hoi được hợp pháp hóa. Nhưng nó được hợp pháp hóa trong trường hợp có sự thanh trừng sắc tộc hay tội diệt chủng, và cách chung chung hơn khi “thường dân có nguy cơ chết dưới những phát súng của một cuộc xâm lược bất chính”, như Đức Gioan-Phaolô II đã từng nói vào ngày 16/1/1993 với ngoại giao đoàn, khi xảy ra những biến cố bi thảm của Bosnia.

Cũng vậy, ngày 1/1/2000, nhân Sứ điệp Ngày Thế Giới Hòa Bình, Đức Gioan-Phaolô II đã nhắc lại rằng, “khi thường dân có nguy cơ chết và những nỗ lực chính trị và những công cụ phòng vệ bất bạo động không có kết quả nào, thì thật là hợp pháp, và thậm chí đó là một bổn phận, nại đến những sáng kiến cụ thể để tước vũ khí của kẻ xâm lược. Tuy nhiên, những sáng kiến này phải được hạn chế trong thời gian, có những mục tiêu rõ ràng, được vận dụng trong sự tôn trọng trọn vẹn luật pháp quốc tế, được bảo đảm bởi một thẩm quyền được nhìn nhận trên bình diện quốc tế và không bao giờ phó mặc cho lô-gíc thuần túy của vũ khí”.

Còn về sự khác nhau của lối diễn tả giữa Đức cha Tomasi, nói về một cuộc can thiệp quân sự, và Đức Phanxicô nói đến một “giải pháp chính trị” (một cuộc can thiệp chính trị phải nhắm đến một giải pháp chính trị), quả thế nó có thể gây ngạc nhiên, vì lập trường của Đức cha Tomasi rõ ràng được đưa ra với sự đồng thuận của Đức Thánh Cha. Nhưng sự khác nhau này có thể được hiểu do những hoàn cảnh riêng biệt của những lời này. Một buổi cầu nguyện ở quảng trường Thánh Phêrô không thể so sánh với một lời phát biểu tại Liên Hiệp Quốc”.

Tý Linh

theo La Croix

Về việc can thiệp này, ở đây cũng cần nhắc lại bài phát biểu của Đức Bênêđíctô tại trụ sở Liên Hiệp Quốc ngày 18/03/2008, trong đó Đức Thánh Cha đã đề cập đến « trách nhiệm bảo vệ » người dân phù hợp với luật pháp quốc tế. Đối với ngài, trong những trường hợp nghiêm trọng, nếu không can thiệp, thí “chính sự dửng dưng hay việc không can thiệp mới gây nên những thiệt hại thực sự ». Ngài nói:

« Mọi Nhà Nước đều có bổn phận hàng đầu bảo vệ người dân của mình chống lại những vi phạm nhân quyền nghiêm trọng và lặp đi lặp lại… Nếu có lúc các Nhà Nước không thể đảm nhận được sự bảo vệ như thế, thì cộng đồng quốc tế có phận vụ can thiệp bằng các phương thế pháp lý đã được dự kiến bởi Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và bởi những phương tiện quốc tế khác. Hành động của cộng đồng quốc tế và của các thể chế của nó, trong chừng mực nó tôn trọng các nguyên tắc đặt nền tảng cho trật tự quốc tế, sẽ không bao giờ được giải thích như là một sự cưỡng bức vô cớ hay như là một sự hạn chế chủ quyền. Ngược lại, chính sự dửng dưng hay việc không can thiệp mới gây nên những thiệt hại thực sự. Cần phải thực hiện một sự nghiên cứu sâu xa các hình thái để ngăn ngừa và giải quyết các xung đột, bằng cách sử dụng mọi phương tiện mà hoạt động ngoại giao có được và bằng việc dành sự chú tâm và nâng đỡ cho dấu chỉ nhỏ nhất của đối thoại và ý muốn hòa giải.

Nguyên tắc « trách nhiệm bảo vệ » đã được ius gentium (luật của các dân tộc) cổ đại xem như là nền tảng của mọi hành động được quyền bính thực hiện đối với những người được nó cai trị : vào thời kỳ mà khái niệm « Nhà Nước quốc gia có chủ quyền » bắt đầu được phát triển, thì tu sĩ dòng Đa Minh Francisco De Vitoria, người được coi như là vị tiên phong về ý tưởng Liên Hiệp Quốc, đã mô trả trách nhiệm này như là một khía cạnh của lý trí tự nhiên được mọi quốc gia chia sẻ, và là hoa trái của một bộ luật quốc tế mà nhiệm vụ của nó là điều chỉnh các tương quan giữa các dân tộc. Ngày nay cũng như thời đó, một nguyên tắc như thế phải cho thấy ý tưởng « nhân vị » như là hình ảnh của Đấng Tạo Hóa, cũng như là ước muốn tuyệt đối và yếu tính của tự do. Chúng ta biết rõ, việc thành lập Liên Hiệp Quốc đã trùng với các xáo trộn sâu xa mà nhân loại đã chịu khi việc quy chiếu đến ý thức về siêu việt và lý trí tự nhiên đã bị bỏ rơi và do đó tự do và phẩm giá con người đã bị vi phạm hàng loạt. Trong những hoàn cảnh như thế, điều đó đe dọa các nền tảng khách quan của các giá trị mà gợi hứng và điều chỉnh trật tự quốc tế và điều đó phá ngầm các nguyên tắc bất khả xâm phạm và bó buộc được Liên Hiệp Quốc trình bày và củng cố… »

Tags: Giáo-Hội-&-Nhà-Nước, Hòa-bình, Nhân quyền, Phanxicô-I

->Đọc thêm...

Suy niệm cùng với Đức Thánh Cha Phanxicô: 07-13/08/2014: Tám Mối Phúc Thật

->Đọc thêm...

14.8.14

Nhận định về phong trào “sứ điệp từ trời”



Phong trào mệnh danh là “Sứ điệp từ trời” đã xuất hiện từ tháng 11 năm 2010 tại Châu Âu, và cho đến nay đã được quảng bá hầu như rộng khắp trên toàn thế giới. Chắc hẳn nhiều người trong chúng ta đã nghe nói hoặc đã từng đọc qua các “Sứ điệp từ trời”. Điều đó ít nhất cũng cho thấy tầm ảnh hưởng và tính chất thu hút của phong trào mới này. Điều đáng nói là có nhiều người đã tin và đang góp phần quảng bá cho các “Sứ điệp trời”. Riêng tại Việt Nam, phong trào “Sứ điệp từ trời” cũng đang rộ lên như một hiện tượng đáng quan ngại. Tại nhiều giáo xứ, người ta thấy xuất hiện các hội cầu nguyện Mân Côi, nhưng thực chất là hội quảng bá các “Sứ điệp từ trời”. Điểm nổi bật của các hội này là thái độ chống Đức Giáo hoàng, và đây cũng là một trong các chủ đề thường gặp trong các “Sứ điệp từ trời”. Nhiều tín hữu đã “lỡ” đọc các “Sứ điệp từ trời” thì cảm thấy hoang mang vì rơi vào cảnh “tiến thoái lưỡng nan”. Nếu không tiếp tục đọc thì sẽ có nguy cơ bị án phạt như các sứ điệp đã đe dọa, còn nếu tiếp tục thì không biết các sứ điệp sẽ dẫn mình tới đâu. Bởi vậy, sau khi đã tìm hiểu các “Sứ điệp từ trời” và tham khảo một số bài viết được phổ biến trên mạnginternet, chúng tôi muốn viết bài nghiên cứu này như một sự góp phần soi sáng vấn đề, và cũng để cung cấp ít nhiều tư liệu cho những vị có thẩm quyền hầu có thể thẩm định vấn đề cách khách quan.

Trong phần trích dẫn các sứ điệp, đôi khi vì yêu cầu chính xác của văn bản, chúng tôi phải dịch lại từ nguyên bản tiếng Anh thay vì lấy từ trang <> bằng tiếng Việt.

I. GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT VỀ PHONG TRÀO “SỨ ĐIỆP TỪ TRỜI”

1. Người sáng lập phong trào “Sứ điệp từ trời” là ai?

Phong trào “Sứ điệp từ trời” gắn với một cái tên mà hiện nay đã trở thành nổi tiếng: “Maria Lòng Chúa Thương Xót”[1]. Đây chính là người sáng lập phong trào. Thoạt đầu, hầu như không ai biết được được đích xác Maria Lòng Chúa Thương Xót là ai. Trên trang mạng chính thức của phong trào, nhân vật này đã tự giới thiệu mình là một phụ nữ Châu Âu, theo đạo Công Giáo, đã có gia đình, và là một doanh nhân. Theo bà, tên gọi “Maria Lòng Chúa Thương Xót” không phải tên thật, mà chỉ là một biệt danh. Bà cho biết rằng Chúa Giêsu muốn bà giữ kín danh tánh để bảo đảm sự an toàn cho gia đình, cũng như để người ta chỉ tập trung vào các sứ điệp mà thôi. Dầu vậy, cũng có người đã cố tìm hiểu xem bà là ai; và hiện nay người ta đã xác định được khá chắc chắn rằng bà là một phụ nữ Ái Nhĩ Lan, hiện sống tại thành phố Dublin. Thậm chí có người còn biết rõ tên tuổi thực của bà.

Theo Maria Lòng Chúa Thương Xót, Chúa Giêsu đã tỏ cho bà biết rằng bà là vị Sứ Giả thứ bảy, tức vị Thiên Sứ thứ bảy, được phái đến để mặc khải cho thế gian nội dung của các Ấn trong sách Khải Huyền. Đây là những Ấn mà chỉ mình Con Chiên Thiên Chúa, Đức Giêsu Kitô, mới có quyền mở. Chính Ngài sẽ lần lượt mở các Ấn đó; và mỗi lần mở Ấn nào thì Ngài đều mặc khải cho bà để bà thông đạt lại cho người khác. Cũng vì vậy, Đức Giêsu đã xác định với bà rằng bà là vị ngôn sứ của thời cuối cùng (Sứ điệp ngày 13-07-2012).

Kể từ tháng 11 năm 2010, bà Maria Lòng Chúa Thương Xót đã liên tục nhận được các sứ điệp từ trời. Các sứ điệp này chủ yếu do Chúa Giêsu tỏ cho biết, nhưng cũng có khi do Chúa Cha hoặc do Đức Trinh Nữ Maria. Tính đến nay đã có hơn 1.100 sứ điệp khác nhau. Nội dung chính của các sứ điệp xoay quanh việc cảnh cáo thế giới tội lỗi, kêu gọi ăn năn hối cải, và tiên báo sự gần kề của ngày Chúa trở lại. Theo bà Maria, các sứ điệp nhằm chuẩn bị cho thế giới sẵn sàng chờ đón ngày Chúa trở lại, sau khi đã trải qua thời kỳ cảnh cáo và thanh luyện. Cho đến nay, bà vẫn không ngừng nhận được các sứ điệp mới.

2. Việc quảng bá Phong trào Sứ điệp từ trời

Nhờ vào các phương tiện thông tin đại chúng, cho đến nay phong trào Sứ điệp từ trời đã được quảng bá rộng rãi trên toàn thế giới. Trang FaceBook “Chúa Giêsu đối với nhân loại” (Jesus to Mankind) của bà Maria Lòng Chúa Thương Xót đã thu hút khá nhiều người đọc. Tính đến nay, bà đã nhận được hơn 17.000 ý kiến yêu thích. Ngoài ra, bà còn lập trang mạng <> để quảng bá các sứ điệp của mình. Có một nhóm thiện nguyện viên người Việt đã dịch trang mạng này sang tiếng Việt và cập nhật liên tục, với tên gọi <>. Các sứ điệp đã công bố còn được sưu tập lại và xuất bản thành sách. Cho đến nay đã có ba tập sách (I, II và III) lần lượt được xuất bản với tựa đề “Sách sự thật” (The Book of Truth).

Nhờ trang mạng bằng tiếng Việt nói trên, ngay tại Việt Nam, có khá nhiều người, thậm chí cả ở vùng quê, đã biết đến phong trào này và thường xuyên theo dõi các sứ điệp mới trên trang mạng của phong trào. Tại nhiều giáo xứ, bắt đầu xuất hiện các nhóm cầu nguyện mệnh danh là “Hội cầu nguyện Mân Côi” nhưng thực chất là các nhóm quảng bá các sứ điệp từ trời. Thậm chí các sứ điệp từ trời còn được phổ biến trên một số tòa giảng. Hiện tượng này một mặt cho thấy tính chất lôi cuốn của phong trào mới, nhưng mặt khác cũng đồng thời là một hiện tượng đáng báo động cho các cơ quan có thẩm quyền trong Hội Thánh.

II. PHÂN TÍCH NHỮNG ĐIỂM SAI LẠC VỀ ĐẠO LÝ TRONG SỨ ĐIỆP TỪ TRỜI

Như đã nói trên đây, nội dung chính của sác Sứ điệp từ trời xoay quanh ba chủ đề chính: cảnh cáo thế giới tội lỗi, kêu gọi ăn năn hối cải, loan báo sự gần kề của biến cố Chúa tái lâm. Nếu chỉ nhìn thoáng qua thì những nội dung ấy cũng chẳng có gì là mới lạ và cũng không đi ngược lại với giáo lý chung của Hội Thánh. Tuy nhiên, nếu tìm hiểu kỹ nội dung cụ thể của các sứ điệp, người ta thấy lộ ra rất nhiều điểm sai lạc về giáo lý. Điều nguy hiểm ở đây, đó là những điểm sai lạc này trộn lẫn với những giáo lý chân thực, tạo nên tình trạng “vàng thau lẫn lộn”, khiến những ai không tinh ý có thể dễ dàng nhiễm phải nọc độc của chúng. Ở đây chúng tôi chỉ giới hạn trong việc nêu lên những sai lầm tỏ tường và nghiêm trọng mà thôi. Để dễ nắm bắt vấn đề, chúng tôi phân chia các điểm sai lạc này thành những đề mục khác nhau tùy theo những khía cạnh liên quan. Tuy nhiên, việc sắp xếp này cũng chỉ có tính chất tương đối, vì các sai lạc trong khía cạnh này có thể cũng liên hệ đến khía cạnh khác, do mối liên hệ chặt chẽ của tổng thể các chân lý đức tin Kitô giáo.

1. Những điểm sai lạc liên quan đến Mặc Khải

a) Lập trường “duy Kinh Thánh”(sola scriptura). Đây là lập trường có nguốn gốc từ Phái Tin Lành do Luther khởi xướng. Cách chung, lập trường này cho rằng chỉ duy mình Kinh Thánh mới là quy chuẩn của đức tin. Những gì không trực tiếp bắt nguồn từ Kinh thánh thì không có giá trị ràng buộc về phương diện đức tin và luân lý. Lập trường này hiển nhiên cũng chối bỏ giá trị quy phạm của Thánh Truyền cũng như Quyền Giáo huấn của Hội Thánh. Một lập trường như thế đã được thể hiện dưới những hình thức khác nhau trong các Sứ điệp từ trời. Chẳng hạn, sứ điệp ngày 25-12-2010 tuyên bố như sau: “Bất kỳ giáo lý nào không bắt nguồn từ Kinh Thánh mà lại tự cho là có thẩm quyền công bố chân lý thì đều là dối trá. Đây là tội chống lại Ta [Chúa Giêsu] và là sự chống báng nặng nề đối với Ta và Chúa Cha Hằng Hữu của Ta”. Quan điểm này cũng được lặp lại trong sứ điệp ngày 13-09-2011 với những lời như sau:“Đừng bao giờ cho phép mình chấp nhận bất kỳ sự thật nào khác ngoài những điều có trong Kinh Thánh”.

Hẳn nhiên, một lập trường như thế đi ngược lại với giáo lý của Hội Thánh Công Giáo vốn nhìn nhận Thánh Kinh cùng với Thánh Truyền làm nên một kho tàng đức tin duy nhất. Ngoài ra, đức tin Công Giáo cũng tin nhận Hội Thánh là thầy dạy chân lý, có thẩm quyền chính thức để giải thích những gì chứa đựng trong kho tàng Mặc khải được chính Chúa Kitô ủy thác cho Hội Thánh (xc. GLHTCG, số 80; 85).

b) Coi các mặc khải tư ngang hàng với Kinh Thánh. Một sai lầm nghiêm trọng khác của các Sứ điệp từ trời, đó là coi các mặc khải tư như là có giá trị ngang hàng với Kinh Thánh. Thực ra, việc thẩm định các sứ điệp của bà Maria có phải là mặc khải tư hay không, đó là điều còn phải xem xét. Tuy nhiên, xem ra bà Maria đã tự nhận những sứ điệp của mình là mặc khải tư; và thậm chí bà còn coi “cái gọi là mặc khải tư” này ngang hàng với Kinh Thánh.

Thật vậy, trong một số sứ điệp được được bà Maria phổ biến, người ta đọc thấy rằng Chúa Giêsu đã truyền cho bà viết một cuốn sách; cuốn sách này thực ra không phải do bà viết, nhưng là do chính Chúa viết. Cuốn sách đó có giá trị ngang với Kinh Thánh và là một phần của Kinh Thánh. Lời khẳng định này được lặp lại nhiều lần trong các sứ điệp khác nhau với những lời lẽ hơn kém. Chẳng hạn sứ điệp ngày 12-11-2010 nói như sau: “Con phải dồn hết tâm lực để viết cuốn sách. Cuốn sách này sẽ giúp cải biến cuộc đời nhiều người, sẽ cứu rỗi các linh hồn; và đây là điều đã được báo trước. Đúng vậy, cuốn sách là điều đã được tiên báo. Con là người viết. Ta là Tác giả. Con đừng ngạc nhiên hoặc choáng ngợp, vì đây là một trách vụ thiêng thánh, và con đã được chọn để làm việc này cùng với Ta. Con sẽ phải mất ba tháng để hoàn tất. Ta muốn con xuất bản cuốn sách trên toàn thế giới. Cuốn sách đó phải được phổ biến rộng khắp, đầy sức mạnh, và được hằng triệu người tìm đọc cũng như sách Kinh Thánh vậy. Này con gái của Ta, con có thể xuất bản cuốn sách dưới danh nghĩa ‘cuộc đối thoại với vị ngôn sứ bí mật’. Con cứ việc làm như thế” (có thể xem thêm sứ điệp ngày 09-02-2013).

Người viết ra sứ điệp trên đây hẳn đã hiểu không đúng về bản chất của Kinh Thánh cũng như vị thế của mặc khải tư. Kinh Thánh là chính Lời Thiên Chúa được mặc khải cho con người và được ghi lại dưới tác động linh hứng của Thánh Thần. Do vậy, chính Thiên Chúa là tác giả thực sự của Kinh Thánh. Về phần bà Maria, việc bà tuyên bố cuốn sách bà sẽ viết có Thiên Chúa là tác giả thì cũng đồng nghĩa với việc cho rằng cuốn sách đó được viết ra với ơn linh hứng chẳng khác gì Kinh Thánh vậy. Đây quả là một sự mạo nhận có tính chất phạm thượng.

Theo giáo lý của Hội Thánh Công Giáo, mặc khải công đã nên hoàn trọn cách viên mãn cùng với sự xuất hiện của Đức Giêsu Kitô. Kể từ đây, nhân loại không còn phải trông đợi mặc khải nào khác. Bởi đó, những gì liên quan đến đức tin được Thiên Chúa tỏ bày sau này cho các thánh hay một ai đó thì được gọi là mặc khải tư. Sách Giáo lý của Hội Thánh Công Giáo xác định như sau: “Theo dòng lịch sử, đã xuất hiện những điều gọi là ‘mặc khải tư’, một số trong đó được thẩm quyền của Hội Thánh công nhận. Tuy vậy, những mặc khải đó không thuộc kho tàng đức tin. Chức năng của chúng không phải là “cải thiện” hoặc “bổ sung” mặc khải vĩnh viễn của Đức Kitô, nhưng để giúp người ta, vào một thời điểm lịch sử nào đó, sống mặc khải của Đức Kitô cách trọn vẹn hơn” (số 67).

2. Những sai lầm liên quan đến Đức Kitô

a) Sai lầm về mục đích của việc nhập thể. Sứ điệp ngày 24-12-2010 đã bộc lộ một quan niệm sai lạc về mục đích của việc Con Thiên Chúa nhập thể làm người. Bằng một lối diễn tả mơ hồ, sứ điệp này cho rằng việc Con Thiên Chúa nhập thể làm người và cuối cùng chịu chết trên thập giá chỉ nhằm khai lòng mở trí, hay thức tỉnh lương tâm của con người để họ nhận biết ơn cứu độ mà Chúa Cha từ ngàn xưa đã hứa ban cho toàn thể nhân loại. Như vậy, việc nhập thể và cái chết của Đức Giêsu chỉ có giá trị giáo huấn và gương mẫu chứ không đem lại hiệu quả là ân sủng tha tội và tái sinh con người vào đời sống mới. Đây quả là một cái nhìn thiếu sót về công trình cứu độ của Đức Giêsu. Có thể trưng ra đây những lời tiêu biểu trong sứ điệp này như sau: “Việc Ta đến trần gian đã được sắp đặt như một cơ hội cuối cùng để thức tỉnh thế gian, ngõ hầu mọi người nhận ra rằng Thiên Chúa tha thứ mọi tội lỗi. Vai trò của Ta là để chỉ cho các con con đường lên Trời, nhờ vào giáo huấn và cái chết của Ta trên thập giá”.

b) Quan niệm sai lạc về cuộc Quang lâm của Chúa. Các sứ điệp của bà Maria còn quảng bá một quan niệm hết sức sai lạc về biến cố Quang lâm của Chúa. Các sứ điệp này cho rằng sau khi thời kỳ cảnh cáo và thanh luyện kết thúc thì sẽ là thời Chúa Kitô tái xuất hiện trên địa cầu. Tuy nhiên, cuộc tái lâm này chưa phải đánh dấu thời cùng tận của thế giới để rồi khai mào cảnh “Trời mới đất mới” kéo dài đến thiên thu vạn đại. Trái lại, theo sứ điệp của bà Maria, thời kỳ khai mào cùng với cuộc Quang lâm của Chúa cũng chỉ kéo dài 1.000 năm. Đó là thời kỳ mà Chúa Kitô cai quản địa cầu, và quyền lực Satan bị bứng tận gốc khỏi trần gian. Đây chính là sự mô phỏng lại lạc thuyết “ngàn năm” vốn đã bị Hội Thánh phi bác từ xưa. Thuyết “ngàn năm” này được thể hiện rõ ràng trong sứ điệp ngày 20-05-2011, trong đó có những đoạn như sau:

“Nhiều bối rối tồn tại trên thế giới liên quan đến biến cố này. Nhiều người tin rằng Cuộc Quang Lâm của Ta chỉ ra rằng thời tận cùng của thế giới đã đến. Nhưng không phải như vậy, thay vào đó Cuộc Quang Lâm của Ta có nghĩa nói về thời kỳ cuối khi Satan và thuộc hạ của hắn, những kẻ đã tạo ra những đau khổ không kể xiết trên thế giới, sẽ bị trục xuất khỏi Trái Đất trong vòng 1.000 năm.



Con gái của Ta, Ta sẽ cai trị trái đất trong 1.000 năm. Hãy biết chắc rằng giờ đây Ta đang trông coi các biến cố khi chúng xảy ra trên thế giới. Giờ đây Ta đã chuẩn bị đường lối cho Vương Quốc Mới của Ta trên trái đất và thời gian đó đã gần đến rồi, gần hơn rất nhiều so với những gì người ta có thể nhận ra. Hãy hân hoan vì tin tức này sẽ được tất cả mọi người đón nhận. Đau khổ trên thế giới này sẽ chấm dứt. Một nguồn tình yêu và vinh quang để sẻ chia cho tất cả con cái của Ta, sẽ trào dâng”.

Cần lưu ý rằng thuyết “ngàn năm” này từng bị các vị thánh tiến sĩ thời danh như Augustinô, Tôma Aquinô lên tiếng phi bác. Huấn quyền của Hội Thánh cũng minh nhiên kết án lạc thuyết này, như thấy trong Sách Giáo lý của Hội Thánh Công Giáo: “Sự đánh lừa của tên Phản Kitô đã được phác họa trên trần gian mỗi khi người ta cho rằng mình thực hiện được trong lịch sử niềm hy vọng về Đấng Mêssia, một niềm hy vọng vốn chỉ có thể được hoàn thành vượt quá giới hạn lịch sử, nhờ cuộc phán xét cánh chung: Hội Thánh đã bác bỏ sự giả mạo này về Vương quốc tương lai, và cả dưới một hình thức giảm nhẹ của sự giả mạo đó, có tên là thuyết ngàn năm, nhất là dưới một hình thức chính trị của một chủ thuyết Mêssia đã bị tục hóa ‘đồi bại tự bản chất’” (số 676).

3. Những điểm sai lạc liên quan đến Hội Thánh

a) Chối bỏ quyền giáo huấn của Hội Thánh. Bằng những cách khác nhau, bà Maria đã chối bỏ thẩm quyền bất khả ngộ của Hội Thánh xét như thầy dạy chân lý. Như chúng tôi đã phân tích trên đây, qua lập trường “duy Kinh Thánh”, bà Maria cũng đồng thời hoặc ít nhất là gián tiếp phủ nhận quyền giáo huấn của Hội Thánh. Sự phủ nhận quyền giáo huấn có tính quy phạm của Hội Thánh dường như còn được diễn tả cách mặc nhiên qua việc bà chủ trương theo kiểu cào bằng rằng “…không một ai trong các con xứng đáng để phán xét hoặc tra xét về người khác. Không ai có quyền hạn hoặc hiểu biết thiêng liêng để đưa ra bất cứ sự đánh giá nào về đạo đức nơi người khác” (Sứ điệp ngày 06-04-2011).

Mặt khác, bà Maria còn đưa ra những lời nhận định sai lạc hoặc những lời cáo buộc thiếu căn cứ về cách thức Hội Thánh thực thi vai trò giáo huấn. Trong nhiều sứ điệp và cụ thể là sứ điệp ngày 26-01-2012, bà Maria xem ra muốn ám chỉ rằng Tòa Thánh đang bị một số phần tử xấu lũng đoạn, cho nên những gì mà các cơ quan thẩm quyền của Tòa Thánh giảng dạy chỉ là bóp méo sự thật về giáo huấn của Chúa; những canh tân Phụng vụ, nhất là nghi thức thánh lễ chỉ là phương pháp phượng tự Công Giáo bất xứng, xúc phạm đến Chúa Giêsu và Chúa Cha. Cũng trong sứ điệp này, bà còn cho rằng Hội Thánh không dạy sự thật; Hội Thánh đã không bao giờ giảng dạy về tính chất nghiêm trọng của tội lỗi (xem thêm các sứ điệp ngày 18-02-2013; ngày 30-09-2013). Thực ra, bà Maria nói như thế tức là bà đã không hiểu rằng Hội Thánh không chỉ là cơ chế hữu hình được vận hành bởi con người, mà trên hết còn là một thực tại thiêng thánh được Thánh Thần hướng dẫn.

b) Chối bỏ quyền của Hội Thánh trong việc quản lý và phân phát các mầu nhiệm thánh. Thật vậy, sứ điệp ngày 31-01-2012 đã cho thấy một quan niệm sai lạc về việc ban các ân xá. Theo sứ điệp này, việc ban ân toàn xá không phải do Hội Thánh mà là do chính Chúa Giêsu ban cho một số người được tuyển chọn để kêu gọi người khác hoán cải. Việc nhận ơn toàn xá này đi kèm với điều kiện phải đọc một kinh đặc biệt trong bảy ngày liền. Kinh này cũng được xác định rõ trong sứ điệp. Thực ra, những điều nói trong sứ điệp này thực chất chỉ là một sự mạo danh Chúa Giêsu để tự dành cho mình quyền ban ân xá, chứ Chúa Giêsu chẳng bao giờ làm điều đó.

Thật vậy, những điều trong sứ điệp này hoàn toàn trái ngược với ý định của Chúa Giêsu trong việc thiết lập Hội Thánh như là trung gian của ơn thánh (Mt 16,19; 18,18). Chúa Giêsu không ủy thác cho một thẩm quyền nào khác ngoài Hội Thánh được ban các ân xá cũng như quy định các điều kiện đi kèm. Chắc hẳn Chúa Giêsu sẽ không phá đổ hay làm ngược lại những gì Ngài đã thiết lập. Về điểm này, Sách Giáo lý của Hội Thánh Công Giáo dạy như sau: “Ân xá là việc tha thứ trước mặt Thiên Chúa khỏi những hình phạt tạm đáng chịu vì những tội lỗi đã phạm, dù những tội đó đã được tha thứ. Để hưởng nhờ ân xá, Kitô hữu phải hội đủ những điều kiện được thẩm quyền của Hội Thánh quy định, vì với tư cách là thừa tác viên của Ơn cứu chuộc, Hội Thánh có thẩm quyền phân phát và chia sẻ kho tàng công phúc của Đức Kitô và các thánh” (số 1471).

c) Đưa ra những phán đoán sai lạc về các Đấng kế vị Thánh Phêrô.Trước khi xảy ra biến cố Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI tuyên bố từ nhiệm, bà Maria, trong nhiều sứ điệp, đã từng tiên báo rằng Đức Giáo hoàng sẽ bị hạ bệ bởi một âm mưu đen tối trong Giáo triều Rôma (chẳng hạn các sứ điệp ngày 18-01-2012; ngày 11-02-2012; ngày 20-03-2012; ngày 26-05-2012). Nếu các sứ điệp trên đây tiên báo việc Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI kết thúc sứ vụ đại diện Chúa Kitô là do một thế lực xấu xa cưỡng ép ngài, thì chúng ta sẽ phải hiểu sao về những lời tuyên bố của ngài về lý do của việc từ nhiệm? Trong tuyên bố ngày 11-02-2013, ngài đã xác định việc từ nhiệm là do tuổi cao và sức khỏe kém, và việc từ nhiệm là một quyết định tự do. Như vậy, phải chăng chúng ta phải tin vào các sứ điệp của bà Maria để kết tội Đức Giáo hoàng là một kẻ dối trá? Hay phải nói ngược lại là các sứ điệp của bà Maria chỉ là trò dự đoán đầy tà ý và cảm tính?

Bên cạnh đó, bà Maria còn phủ nhận sự chính đáng của việc Đức Giáo Hoàng Bênêđictô từ nhiệm cũng như tính hợp thức của vị Giáo hoàng sẽ kế vị. Trong sứ điệp ngày 22-07-2013 có những lời lẽ như sau:“Chỉ có một vị chủ chăn của Giáo Hội trên Trái Đất được Con Mẹ trao quyền, người vẫn cứ phải là Giáo Hoàng cho đến chết. Bất cứ ai khác là kẻ giành quyền ngồi trên Ngai Tòa Thánh Phêrô đều là kẻ mạo danh”.

Đang khi đó, việc các vị Giáo hoàng từ nhiệm, mặc dù hiếm nhưng cũng đã từng xảy ra trong lịch sử Hội Thánh. Cho nên, đó không phải là điều bất khả. Chính bộ Giáo luật 1983, điều 332, §2 dự liệu như sau: “Nếu xảy ra trường hợp Đức Giáo hoàng Rôma từ nhiệm, việc từ nhiệm phải được tự do và phải được bày tỏ cách hợp thức thì mới hữu hiệu, nhưng không cần được bất cứ ai chấp nhận”.

Có một điều mà ai đọc các sứ điệp của bà Maria cũng đều dễ nhận thấy, đó là sự chống báng mạnh mẽ nhắm vào người kế vị Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI, tức là Đức Giáo hoàng đương kim Phanxicô. Chiều hướng này xem ra cũng ảnh hưởng mạnh mẽ đến các nhóm cầu nguyện do bà phát động. Trong nhiều sứ điệp khác nhau, bà đã dùng những lời lẽ chống báng rất gay gắt đối với Đức Phanxicô.

Từ trước khi xảy ra biến cố Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI từ nhiệm, trong sứ điệp ngày 12-04-2012, bà Maria đã tiên báo một người sẽ được bầu lên thay Đức Bênêđictô. Tuy nhiên, bà phủ nhận tính hợp pháp của cuộc bầu vị Giáo hoàng mới. Bà gọi cơ mật viện Hồng y bầu giáo hoàng mới là những người theo bè Tam điểm, là tổ chức độc ác của Satan. Bà gọi vị Giáo hoàng mới là ngôn sứ giả, là kẻ mạo danh. Điều này nằm trong cùng một chiều hướng với việc bà cho rằng Đức Bênêđictô XVI là vị giáo hoàng đích thực cuối cùng trên trần gian. Trong nhiều sứ điệp khác nữa, bà thường xuyên lặp đi lặp lại cụm từ “ngôn sứ giả” được gán cho người kế vị Đức Bênêđictô. Cũng có khi bà gán cho vị này những “nhãn hiệu” xấu xa khác, như “đầu của Con Mãng Xà” (sứ điệp ngày 13-11-2012); “kẻ mạo danh” (sứ điệp ngày 22-07-2013); “cái sừng nhỏ, kẻ huênh hoang tự đắc ngồi trên Tòa Phêrô” (sứ điệp ngày 18-02-2013); “con của Satan…kẻ mạo danh trên ngai tòa Phêrô…tên phản Kitô” (sứ điệp ngày 25-02-2013); và còn nhiều điều khác tương tự.

Thái độ chống Giáo hoàng của bà Maria một mặt cho thấy bà không tin rằng Thánh Thần của Chúa Kitô vẫn đang hiện diện và hoạt động trong Hội Thánh, không ngừng hướng dẫn Hội Thánh đạt đến chân lý toàn vẹn của Chúa Kitô. Mặt khác, thái độ đó còn cho thấy một cái nhìn giản lược về bản chất của Hội Thánh vốn chỉ còn là một cơ chế phàm trần của những tranh giành phe nhóm, những toan tính kiêu căng, mưu đồ thống trị… Cần nhớ rằng Hội Thánh tiên vàn là một mầu nhiệm. Hội Thánh dù bao gồm các tội nhân, nhưng tự bản chất là thánh thiện vì được chính Đức Kitô thánh hóa để trở thành Hiền Thê không tì ố của Ngài (xc. Cđ. Vat. II, Hiến chế về Giáo Hội, số 1-8). Thái độ chống Giáo hoàng của bà Maria có thể coi là một dạng thức của tội ly giáo, khi bà không ngừng rêu rao rằng vị Giáo hoàng đương nhiệm là ngôn sứ giả, là Giáo hoàng mạo danh… (xc. GLHTCG, số 2089).

4. Những điềm sai lầm về luân lý

a) Sai lầm trong quan niệm về luân lý tính dục. Trong sứ điệp ngày 06-04-2011, bà Maria tỏ ra dung túng cho một lối sống tự do về tình dục. Nội dung chính của sứ điệp này xoay quanh việc đừng lên án những người khác tôn giáo, tín ngưỡng hay khác về những sở thích tính dục (sexual preferences). Hẳn nhiên, cần phân biệt giữa tội lỗi và con người. Chúng ta không có quyền lên án các tội nhân, cho dù họ phạm những tội nặng nề nhất. Thế nhưng, cách diễn tả mơ hồ của sứ điệp khiến người đọc có cảm tưởng rằng cũng không nên phê phán sự sai trái của những xu hướng lệch lạc về tính dục. Điều đáng nói ở đây là cụm từ “sở thích về tính dục” được lặp đi lặp lại nhiều lần như một sự nhấn mạnh. Cách dùng cụm từ này thật đáng ngờ! Xem ra nó hàm ý rằng những xu hướng tính dục như đồng tính chẳng hạn, cũng chỉ nên coi là chuyện sở thích cá nhân chứ không phải là một sự lệch lạc về luân lý. Thế nhưng, đây lại là điều đi ngược lại với Giáo lý của Hội Thánh vốn coi các hành vi đồng tính luyến ái tự bản chất là vô trật tự, và nghịch với luật tự nhiên (xc. GLHTCG, số 2357).

b) Quan niệm sai lạc về việc áp dụng án tử hình.Bà Maria còn đưa ra một quan niệm sai lạc về việc áp dụng án tử hình khi bà lên án theo cách cào bằng vô điều kiện mọi hình thức giết người, chỉ trừ ra hành động tự vệ. Sứ điệp ngày 26-01-2012 có những lời như sau: “Ngươi không được giết người có nghĩa là ngươi không được giết người khác. Điều này không có ý nói về sự tự vệ nhưng về bất kỳ trường hợp nào khác. Không ai được biện minh cho việc giết người – dù là phá thai, hành hình hay trợ tử. Không người nào được phép” (sứ điệp ngày 15-07-2011 cũng có những lời tương tự).

Hẳn nhiên, Hội Thánh luôn dạy rằng phá thai, trợ tử và những hành động giết người cố ý và không có lý do chính đáng đều là những tội ác nghiêm trọng về luân lý. Tuy nhiên, đối với án tử hình, mặc dù Hội Thánh luôn kêu gọi các chính quyền thực thi lòng khoan dung và giảm thiểu hết mức có thể việc áp dụng án tử hình, nhưng Hội Thánh vẫn luôn công nhận quyền chính đáng của các chính quyền dân sự trong việc áp dụng án tử hình cho những tội phạm hết sức nguy hiểm cho xã hội mà xét thấy không còn cách chọn lựa nào khác. Như vậy, việc áp dụng án tử hình không phải luôn luôn là hành động vô luân, nhưng là điều chính đáng trong một số hoàn cảnh nhất định. Giáo lý này thuộc về truyền thống lâu đời của Hội Thánh, từng được các vị thánh Tiến sĩ thời danh giảng dạy, và nhất là được khẳng định trong Sách Giáo lý của Hội Thánh Công Giáo như sau: “Giáo huấn truyền thống của Hội Thánh, sau khi đã xác minh đầy đủ căn tính và trách nhiệm của phạm nhân, không loại trừ việc kết án tử hình, nếu đây là con đường khả thi duy nhất để bảo vệ hữu hiệu mạng sống con người khỏi bị xâm phạm cách bất công” (số 2267).

c) Quan niệm sai lạc về ơn tha tội. Trong sứ điệp ngày 09-07-2012, bà Maria còn quảng bá một quan niệm sai lạc về ơn tha tội khi cho rằng người nào đọc kinh đọc đặc biệt (do bà chỉ dẫn) trong 7 ngày liên tục thì được ơn xá giải mọi tội lỗi. Điều này hẳn nhiên đi ngược với giáo lý của Hội Thánh vốn cho rằng ơn tha tội được ban thông thường bằng việc lãnh nhận bí tích giao hòa, hoặc trong trường hợp khẩn cấp, bằng việc ăn năn tội cách trọn, chứ không chỉ đơn thuần bằng việc đọc bất kỳ kinh đọc nào (xc. GLHTCG, số 1446; 1452).

Cũng trong sứ điệp nói trên, bà còn đề xuất một kinh đọc đặc biệt khác để xin ơn tha tội cho những người chết trong tình trạng mắc tội trọng. Điều này rõ ràng đi ngược lại với giáo lý của Hội Thánh vốn dạy rằng những ai chết trong tình trạng mắc tội trọng thì sẽ rơi vào sự hư mất đời đời. Do vậy, tất cả những sự hy sinh, công phúc, lời cầu nguyện của người sống cũng không làm thay đổi được phần số của những người đã chết ấy (xc. GLHTCG, số 1035).

5. Những điểm sai lạc về kỷ luật bí tích

Trong các sứ điệp, bà Maria còn chủ trương những điều sai lạc liên quan đến cách thức thực hành hoặc lãnh nhận các bí tích. Hẳn nhiên, Hội Thánh không có quyền thay đổi bản chất của các bí tích, vì các bí tích là do Chúa Kitô thiết lập. Tuy nhiên, Hội Thánh, xét như là người quản lý các Bí Tích và thừa tác viên của ơn cứu độ, có thẩm quyền đưa ra những quy định về hình thức cử hành các bí tích. Những quy định này vì không đụng chạm đến bản chất của Bí tích, nên có thể được canh tân khi cần thiết để thích ứng với những hoàn cảnh mới.

Ở đây, chúng tôi muốn nói đến hai quy định cụ thể của Hội Thánh trong việc lãnh nhận các bí tích. Đó là việc cho phép tín hữu rước lễ bằng tay và luật buộc xưng các tội trọng một năm ít là một lần. Việc Hội Thánh cho phép tín hữu rước lễ bằng tay được xác định rõ ràng trong các văn kiện sau đây: Tông thưEcclesia de Eucharistia của Đức thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II và Huấn thị Redemptionis Sacramentumcủa Bộ Phụng tự và Bí tích. Còn việc xưng các tội trọng một năm ít là một lần thì được xác định trong Giáo luật 1983, điều 989.

Đáng tiếc là các sứ điệp của bà Maria đã minh nhiên phủ nhận tính hợp pháp của hai quy định trên đây của Hội Thánh. Thật vậy, sứ điệp ngày 06-07-2011 nói như sau: “Bí Tích Thánh Thể Chí Thánh phải được đón nhận trên lưỡivà không được phép đón nhận một cách ô nhơ bởi bàn tay con người. Tuy nhiên, điều này chính là những gì các tôi tớ đã được thánh hiến của Ta đã và đang thực hiện. Các lề luật này đã không được thông qua bởi Ta trong thần khí. Các tôi tớ đã được thánh hiến của Ta đã bị dẫn dắt trên một con đường không phù hợp với các Giáo Huấn từ các tông đồ của Ta”.

Còn sứ điệp ngày 09-07-2012 lại khẳng định rằng: “Đối với những người Công Giáo, các con phải lãnh nhận bí tích Hòa Giải hai tuần một lần nếu các con muốn tiếp tục sống trong Ân sủng”. Đây vừa là một quan niệm sai lạc về tình trạng ân sủng vì cho rằng tình trạng ân sủng không tùy thuộc vào tình trạng sạch tội trọng và lòng mến Chúa, nhưng tùy thuộc vào nhịp độ nhất định của việc thực hành bí tích. Mặt khác, nó còn chuẩn hóa một lối thực hành bí tích trái với quy định chung của Hội Thánh.

III. THẨM ĐỊNH VỀ PHONG TRÀO SỨ ĐIỆP TỪ TRỜI

1. Phản ứng từ phía Giáo quyền

Kể từ khi phong trào “Sứ điệp từ trời” khai sinh và được phổ biến rộng rãi, nhiều vị Giám mục thuộc các châu lục khác nhau đã lên tiếng cảnh báo về sự nguy hiểm cũng như sự lầm lạc của phong trào này. Có thể kể ra một số vị tiêu biểu như:

Đức Tổng Giám mục Denis J Hart, Giáo phận Melbourne, Úc;

Đức Giám mục Fabbro, Giáo phận London, Ontario, Canada;

Đức Giám mục Stephen Secka, Giám mục phụ tá Giáo phận Spisska, Slovakia;

Đức Giám mục Richard. J. Malone, Tổng Giáo phận Buffalo, NY;

Đức Tổng Giám mục Mark Coleridge, Giáo phận Brisbane, Úc;

Đức Giám mục Greg O’Kelly SJ , Giáo phận Port Pirie, Nam Úc;

Đức Giám mục Andreas Laun of Salzburg, Giám mục Phụ tá Giáo phận Áo.[2]

Vì bà “Maria Lòng Chúa Thương Xót” được cho là người đang sống tại Dublin, nên cuối cùng Đức Tổng Giám mục Tổng Giáo Phận Dublin, tức vị chủ chăn có thẩm quyền trực tiếp đối với bà, cuối cùng cũng đã lên tiếng. Mới đây trong một bản Tuyên cáo ra ngày 16-04-2014, Đức Tổng Giám mục Diarmuid Martin tuyên bố như sau:

Tòa Tổng Giám mục Dublin đã nhận được nhiều thỉnh nguyện thư xin xác minh về tính chân thực của những điều tự nhận là thị kiến và sứ điệp do một người tự xưng là “Maria Lòng Chúa Thương Xót” nhận được, và người này được cho là đang sống tại Tổng Giáo phận Dublin.

Nay Tổng Giám mục Diarmuid Martin muốn khẳng định rằng các sứ điệp này cũng như các thị kiến đi kèm không được Hội Thánh chuẩn nhận, và nhiều điều trong các bản văn đi ngược lại với thần học Công Giáo.

Vậy, không được phổ biến hay sử dụng các sứ điệp này trong các hội đoàn thuộc Hội Thánh Công Giáo.[3]

2. Một vài nhận định chung thay lời kết

Sau khi đã tìm hiểu phong trào “Sứ điệp từ trời”, chúng tôi nhận thấy rằng các bản văn tự nhận là “sứ điệp từ trời” không thực sự phản ảnh giáo lý tinh tuyền của Hội Thánh Công Giáo, nhưng chỉ là một thứ giáo thuyết hỗn tạp được góp nhặt hoặc chịu ảnh hưởng từ những nguồn mạch khác nhau, vừa là Công Giáo, Tin Lành, và cả khuynh hướng hành đạo theo nghi lễ cổ điển trước Công đồng Vaticanô II. Mặt khác, các sứ điệp của bà Maria còn chứa đựng rất nhiều điều bất nhất hoặc mâu thuẫn. Chẳng hạn, khi thì bà chủ trương phải khoan dung với những người “khác về sở thích tính dục”, khi khác lại lên án cách gay gắt những cuộc hôn nhân đồng tính; khi thì bà chủ trương phải cầu nguyện cho những người đã chết trong tình trạng mắc tội trọng, khi khác bà lại cho rằng hình phạt hỏa ngục là đời đời, không thay đổi được (sứ điệp ngày 12-01-2014). Trong các sứ điệp, bà Maria đã từng cảnh báo về một “thứ tôn giáo mới phá hoại Hội Thánh”, do một số phần tử xấu trong Giáo triều đang tìm cách gầy dựng (chẳng hạn sứ điệp ngày 20-07-2012). Phải chăng lời kết án ấy trước tiên đã ứng nghiệm vào chính cái giáo thuyết hỗn tạp mà bà đang ra sức phổ biến?

Có nhiều yếu tố khiến người ta nghi ngờ về tính khả tín của các sứ điệp từ trời do bà Maria phổ biến. Trước hết là sự ẩn danh của bà. Mặc dù sự ẩn danh này đã được bà giải thích lý do, nhưng xem ra lý do bà đưa ra không thực sự thuyết phục. Trong phần lớn các trường hợp, sự ẩn danh thường đi đôi với việc không dám nhận trách nhiệm cũng như những hệ lụy về những gì mình nói hoặc làm. Một lá thư nặc danh thường không được coi là có giá trị. Trong lịch sử Hội Thánh, những nhà thần bí, những người nhận mặc khải tư chân chính không bao giờ ẩn danh, mà trái lại, họ sẵn lòng chịu thử thách, hiểu lầm, nghi kỵ, thiệt thòi vì những gì họ nói ra, bởi vì họ thực sự xác tín về những gì mình nói.

Yếu tố thứ hai khiến người ta nghi ngờ về tính khả tín của các sứ điệp, đó là những lời tiên báo của bà Maria thường không ứng nghiệm. Cũng có khi những lời tiên báo đó xem ra ứng nghiệm, nhưng chỉ ứng nghiệm cách nửa vời, như trong trường hợp bà tiên báo về việc Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI từ nhiệm mà chúng tôi đã phân tích trên đây. Còn những gì bà tiên báo về người kế vị Đức Bênêđictô XVI thì hoàn toàn ngược lại với những gì người ta đang chứng kiến nơi vị Giáo hoàng đương kim, Đức Phanxicô. Nếu quả thực các sứ điệp của bà phát xuất từ Thiên Chúa thì hẳn là không thể tiên báo những điều viển vông như vậy.

Yếu tố sau cùng khiến người ta có đủ cơ sở để phủ nhận tính khả tín của các sứ điệp do bà Maria quảng bá, đó là những điểm sai lầm nghiêm trọng về đạo lý chất chứa trong các sứ điệp của bà. Thông thường Hội Thánh rất cẩn trọng trong việc xác định những mặc khải tư nào được coi là chân thực; và một trong những tiêu chí quan trọng hàng đầu được dựa vào để thẩm định, đó là mặc khải tư ấy không bao hàm những điều sai lạc đi ngược lại với giáo lý chung của Hội Thánh. Chỉ nguyên tiêu chí này cũng đủ cho thấy những sứ điệp tự nhận là “từ trời” hay “mặc khải tư” của bà Maria chỉ là ngụy tạo. Những sứ điệp đó không đến từ Thiên Chúa, mà chỉ là sản phẩm của con người. Điều tai hại là chính người tạo ra các sứ điệp ấy lại gán cho chúng một giá trị ràng buộc gần như tuyệt đối mà tự thân chúng không có. Điều này đã gây hoang mang cho không ít các tín hữu đơn thành: có buộc phải tin các “sứ điệp từ trời” hay không? Nếu không tin sẽ phải chuốc lấy những tai họa hay những hình phạt khủng khiếp sẵn sàng ập xuống. Còn nếu tin thì sẽ kéo theo bao nhiêu hệ lụy thực hành do các sứ điệp đề xướng; và rồi, liệu làm như thế có rơi vào tội rối đạo hay không? Bằng ấy câu hỏi đặt ra cũng là lời thỉnh nguyện để các cơ quan thẩm quyền trong Hội Thánh địa phương sớm đưa ra câu trả lời chính thức để soi sáng cho các tín hữu có được sự lựa chọn đúng đắn trong vấn đề này.

Lm Giuse Lâm Văn Sỹ, OP.

* Bài viết này được đăng tại website của Ủy Ban Giáo lý đức tin thuộc Hội Đồng Giám mục Việt Nam. Cha Giuse Lâm Văn Sỹ, OP đã cho phép truyền thông Dòng Tên Việt Nam phổ biến bài viết này.



[1] Tên tiếng Anh là “Maria Divine Mercy”. Trong trang mạng <>, tên này được dịch sang tiếng Việt là “Maria Tông Đồ Lòng Chúa Xót Thương”.

[2] Có thể tham khảo thêm ở trang <>

[3] Nguyên bản tiếng Anh trong trang mạng chính thức của Tổng Giáo phận Dublin.
Đăng bởi Chỉnh Trần, S.J.

->Đọc thêm...

13.8.14

3 linh mục, 1 nữ tu và… qua đời vì Virus Ebola

->Đọc thêm...

Sự hiện hữu của Satan trên trái đất!!!


Vào ngày cuối cùng tháng 10 dương lịch, các nước phương Tây thường tưng bừng tổ chức lễ hội Halloween.

Ý nghĩa nhân bản về cô hồn Jack trước đây, thường chẳng mấy ai buồn nhớ đến nữa, mà chỉ lo tập trung vào việc hóa trang đủ loại hồn ma, phù thủy để vui chơi, giải trí. Ngoài lợi ích mang tính xã hội và giáo dục, lễ hội Halloween còn giúp trẻ thơ dạn dĩ với cõi âm, với vong hồn và với ma quái linh thiêng. Tuy nhiên bao giờ cái mề đay hào hoáng cũng có mặt trái chẳng đẹp đẽ tí nào. Hình như con người ngày nay thật sự chẳng còn sợ hãi ma quỷ nữa chăng, khi lấy hình hài ma quỷ ra bỡn cợt?

Đáng lẽ tôi đã không viết về đề tài này, nhưng tôi cho rằng từ chối sự hiện hữu của ma quỷ là một điều sai lầm, có thể gây tổn hại cho linh hồn cách trầm trọng. Mà linh hồn thì bất tử, thì làm sao mà làm ngơ được kia chứ! Linh hồn tôi được cứu chuộc bằng Cuộc Khổ Nạn của Chúa Kitô.

Cha linh hướng của tôi thường dạy rằng:“Đừng phí thì giờ để nghỉ đến chúng! Mà hãy dành thì giờ để nghĩ đến TÌNH YÊU.” Ngài còn dạy rằng: “Đừng bao giờ nên tò mò về chuyện của thế giới bên kia, đó là tự động mở cửa linh hồn của mình để chúng có dịp đột nhập vào!”

Lời dạy của cha tôi hằng ghi nhớ. Nhưng có một điều tôi nhận thấy trên thế giới ngày nay, người ta hầu như quên hẳn đi sự tồn tại của chúng, để rồi sống buông thả theo đường lối của nó. Nhân loại không còn ý thức được sự tội, thì cũng có nghĩa là không còn tin rằng Satan đang có mặt ở khắp nơi.

Tôi còn nhớ đã đọc một đoạn trong sách nói về cuộc đời Cha Thánh Piô Năm Dấu. Ngài bảo rằng: “Nếu Chúa cho phép chúng ta thấy được ma quỷ, thì sẽ kinh hoàng vì chúng nó đông đến nổi có thể che đi ánh sáng của ban ngày!” Thật là hãi hùng!. Lạy Chúa! chữ “nếu” này, Chúa cứ để vậy luôn nha Chúa, đừng biến chữ “nếu” thành sự thật. Vì Chúa biết đó, con sợ lắm Chúa ơi. Đức tin con thật yếu kém, xin ban cho con thêm đức tin, mà các thánh thường có, một đức tin chỉ bé nhỏ như hạt cải mà có thể dời núi non. (Mt 17, 20)

Tuy tôi nghe lời cha linh hướng, chẳng bao giờ nghĩ đến chúng, cũng tránh luôn cả viêc coi phim rùng rợn, mà tôi thường gọi là phim ma. Danh từ “ma” coi có vẻ con nít, nhưng thật sự nó che dấu thật kín đáo, “ma” đồng nghĩa với quỷ dữ Satan. Đây cũng là cái ranh mãnh của chúng nó, hòng ru ngủ người ta đấy! Khi nói đến “ma” thì ai ai cũng nghĩ đó là chuyện hoang đường, chuyện chỉ có trong tiểu thuyết hay phim mà thôi. Không, họ đã lầm lẫn. Và dưới đây là môt chuyện “ma” mà tôi sắp sửa viết ra đây. Đó là chuyện mà chính tôi đã chứng kiến, và cho đến bây giờ, sau hơn chục năm, tôi vẫn còn nhớ vanh vách từng chi tiết.

Vào năm ấy, sau môt thời gian lần hạt Mân Côi như bữa ăn thiêng liêng hằng ngày của tôi. Không ngày nào mà tôi không dùng bữa, thì cũng vậy, không ngày nào mà tôi không lần chuỗi Mân Côi. Kinh Mân Côi là lương thực cho linh hồn tôi, là áo giáp mà Mẹ Maria may cho tôi, để chống lại những tấn công của ba thù: ma quỷ, thế gian và xác thịt. Mẹ ơi! con hết lòng tri ân cảm tạ Mẹ đã “đan” cho con chiếc áo giáp này, chỉ bằng những hạt nhỏ, nối lại bằng giây thật đơn sơ, nhưng lại làm cho chúng nó kinh hoàng khiếp sợ.

Một ngày kia, trong khi đang lần chuỗi Mân Côi cùng chồng tôi, trong căn phòng bé nhỏ, cạnh chiếc bàn thấp bé, với ngọn nến được làm phép. Ngọn nến lung linh này nhắc nhở tôi rằng, mỗi khi nó đươc thắp lên, tôi đừng có quên sự hiện diện của Đức Chúa Thánh Thần. Ngài đã hiện ra với các Thánh Tông Đồ dưới hình những lưỡi lửa, có Mẹ Maria chứng kiến.

Đang lần chuỗi tới chục thứ hai, thì chúng tôi ngửi thấy một mùi khét lẹt. Tôi chạy ra ngoài bếp, xem có để quên tắt bếp gaz chăng. Nhưng bếp không cháy. A, hay là những người sống trong chung cư này, có ai quên tắt bếp chăng? Coi chừng cháy cả căn hộ nhà tôi thì sao. Vội chạy ra hành lang xem xét, tôi chẳng thấy khói, cũng chẳng ngửi thấy mùi khét gì cả. Vậy thì lạ thật, không biết cháy ở đâu?

Trở vô phòng đọc kinh tiếp, mùi khét mỗi lúc mỗi gia tăng đến nỗi cả hai chúng tôi ho sặc sụa, ngộp thở y như thiếu dưỡng khí. Không biết làm sao, tôi chạy ra mở cửa sổ cho thoáng khí. Mở cửa sổ vào mùa đông, trong khi khí hậu bên ngoài xuống đến âm 20 mấy độ bách phân là một điều rất cấm kỵ. Vì quá lạnh, mà trong nhà thì mở sưởi, cửa sổ có thể bị kẹt, không thể đóng lại được nữa. Nhưng còn biết làm gì hơn, vì không tài nào thở được nữa. Nhưng mở cửa sổ rồi cũng vô ích, vì mùi khét chẳng giãm bớt chút nào, mà chỉ khét ở trong phòng tôi mà thôi.

Mùi này giông giống như mùi lưu huỳnh cháy, hoăc nhựa đường đang nấu. Lúc ấy, tôi chẳng nghĩ ra đươc mùi khét đó từ đâu đến. Cuối cùng, tôi thì thầm trong trí hỏi Mẹ: “Mùi gì kỳ vậy Mẹ?” Tức thì, Mẹ soi sáng cho tôi nhớ lại một đoạn trong sách của Chân Phước Ann Catherine Emmerich. Toàn bộ sách gồm ba quyển bằng Pháp ngữ, thuật lại cả cuộc đời Chúa Giêsu. Chúa đã ban cho ngài hồng ân được “thấy” Chúa, y như ngài đang “sống” trong thời kỳ Chúa còn ở thế gian.

Có môt lần ngài ngửi một mùi khôi khét kinh khủng, và hãi hùng kêu cầu cùng Chúa. Ngài nhìn thấy Satan hiện hình qua lớp khói đen mù mịt. Kêu cầu Chúa, thì tức khắc dưới chân thánh nữ, đất mở ra, bên dưới là hỏa ngục Satan hoảng hốt liền chui xuống lỗ hổng này. Mùi hôi khét lập tức biến đi.

Khi tôi nhớ đến đoạn này trong sách, tôi hiểu ngay rằng mùi khét mà chúng tôi ngửi từ nãy giờ, chẳng gì khác hơn là mùi khét của chúng,mùi khét cháy vì lửa hỏa ngục!

Lúc ấy tôi nói với chồng tôi: “Mình tiếp tục lần chuỗi đi, tụi nó đó!” Và chúng tôi tiếp tục cố gắng đọc thành tiếng Kinh Kính Mừng, vừa đọc, vừa bị ngạt thở, pha lẫn với tiếng ho sặt sụa vì thiếu dưỡng khí. Sau một chục kinh nữa, thì bỗng nhiên mùi khét biến dần, cho đến khi chúng tôi hít thở không khí bình thường. Chắc hẳn rằng Mẹ của tôi đã đến đuổi chúng đi.

Giờ đây, viết lại hiện tượng này, tôi không khỏi ngỡ ngàng. Thời đại này, ở thế kỷ thứ 21 mà còn có Satan hiện hình sao? À, không phải, cảm tạ Chúa đã không cho phép nó hiện nguyên hình cho con thấy. Nếu không, chắc chắn con phải chết giấc! Chúa chỉ cho phép nó đứng gần bên, để con ngửi được mùi hôi khét của hỏa ngục. Không biết lúc đó có mấy đứa vậy hả Chúa?

Lúc ấy, tôi sợ quá, nên chẳng nghĩ đến viêc rảy nước thánh, nhưng Kinh Mân Côi cũng đủ làm chúng cong đuôi chạy có cờ rồi.

Ngày nay người ta có khuynh hướng quên đi, hoăc không còn tin rằng Satan còn hiện hữu. Hiếm khi nào có dịp chứng kiến một người bị quỷ nhập, sùi bọt mép, bứt dây xít, nhảy vào lửa, vv… như trong thời Chúa Giêsu. Chúng nó càng ngày càng “văn minh”, vì đã ẩn khuất dưới nhiều hình thức. Điều tôi nhận thấy rõ ràng, đó là người ta đã đánh mất ý thức về tội lỗi. Tội lỗi giờ đây được hợp thức hóa, như kiểu sống thời thượng, còn đươc người đời tôn trọng, đề cao nữa chứ! Satan đã núp sau bức màn này, bức màn đươc mang danh tự do trong mọi lãnh vực.

Lòng Thương Xót Chúa thì bao la vô bờ bến, chắc hẳn ai cũng cảm nhận được, bởi vì chúng ta còn tồn tại trên trái đất này là do bởi Lòng Thương Xót Chúa còn trải dài. Nhưng Satan đã ngụy trang Lòng Thương Xót Chúa, bằng các gieo vào trí con người rằng “Cứ thoải mái sống trong tội đi, Chúa yêu thương và sẵn sàng tha thứ”… Người ta chỉ nhắc đến việc Chúa sẵn sàng tha thứ nhưng chẳng ai nhắc đến viêc “ăn năn hối lỗi” trở về cùng Cha, như trong dụ ngôn Người Con Hoang Đàng mà Chúa nói trong Phúc Âm.

Nhân đức thì bị coi là lỗi thời, bị đem ra nhạo báng. Ai? ai là tác giả của những lập luận này? Nếu không phải là chính Satan? Satan không còn hiện hình ra nữa, chúng cũng ít khi nhập vào người ta, nhưng còn hơn thế nữa, chúng đang tìm cách thống trị linh hồn, và đây mới là điều phải ghi nhớ hơn cả. Lời thánh Phêrô tông đồ luôn vang vẳng bên tai tôi: “Ma quỷ, thù địch của anh em, như sư tử gầm thét rảo quanh tìm mồi cắn xé” (1 Pr 5, 8).

Chúa ơi, xin thương xót chúng con. Nay chúng con xin vâng lời Mẹ dạy, cũng là lời Chúa dạy:“Hãy siêng năng lần hạt Mân Côi, ăn năn hối lỗi, cải thiện đời sống, trở về cùng Chúa!” Cảm tạ Chúa đã gởi người Mẹ Thiên Quốc xuống trần gian để nhắc nhở, chăm nom, ủi an, che chở phù trì chúng con khỏi mưu ma chước quỷ thâm độc. “Xin cho con được yêu Mẹ với Trái Tim Chúa, và được yêu Chúa với Khiết Tâm Mẹ.”(Thánh Alphonso de Liguori) Amen.

GBW
giadinhnazareth.org/

->Đọc thêm...

1.8.14

Duong Ve Que Huong

->Đọc thêm...