CLICK HERE FOR THOUSANDS OF FREE BLOGGER TEMPLATES »
“Hỡi anh em, ta hãy trung tín cùng Đức Chúa Trời cho đến chết ; cho đến chết, không một điều gì có thể dập tắt lòng thương mến Chúa Giêsu Kitô trong trái tim ta" (Những lời sau cùng của Chân Phước Anrê Phú Yên)

30.5.15

Năm Thánh Thương Xót tha các tội bị dứt phép thông công


Trong sắc lệnh công bố Năm Thánh Thương Xót “Misericordiae vultus” ĐTC Phanxicô khẳng định rằng trong Mùa Chay của Năm Thánh ngài sẽ gửi tới trong mọi giáo phận toàn thế giới các “Thừa sai của Lòng Thương Xót” như “dấu chỉ sống động cho thấy Thiên Chúa Cha tiếp đón tất cả những ai kiếm tìm sự tha thứ của Ngài như thế nào”. ĐTC giải thích rằng đó sẽ là các Linh Mục mà ngài ban cho quyền tha cả các tội dành cho Ngai Tòa Thánh Phêrô.

Thế nhưng đâu là các tội đặc biệt này mà ĐTC ban năng quyền giải chúng cho các Thừa Sai của Lòng Thương Xót?


Sau đây là các câu trả lời của Linh Mục Arturo Cattaneo, Linh mục thuộc giáo hạt tòng nhân Opus Dei, thần học gia kiêm chuyên viên giáo luật, giáo sư Phân khoa thần học Lugano, bắc Italia, liên quan tới các nhiệm vụ của các Linh Mục đặc biệt này trọng Năm Thánh Thương Xót.

Hỏi: Thưa cha, các tội dành cho quyền của Toà Thánh là các tội nào, có phải là các tội trọng mà chỉ có Đức Gíáo Hoàng mới có quyền tha hay không?

Đáp: Các tội dành cho quyền của Toà Thánh là các tội mà Giáo Hội cho là các tội đặc biệt nặng, bởi vì chúng gây thiệt hại cho các thiện ích quan trọng mà Giáo Hội cho là phải che chở một cách đặc biệt. Vì thế Giáo Hội không chỉ coi đó là các tội trọng mà là các “tội phạm” đích thật, và vì thế thấy trước một hình phạt giáo luật. Thật vậy, những ai phạm các tội này, trong một vài trường hợp, thì một cách tự động, rơi vào một hình phạt giáo luật, hình phạt nặng nhất là bị dứt phép thông công. Vài tội phạm này được dành riêng cho Tòa Thánh, trong nghĩa chỉ có Đức Giáo Hoàng mới có quyền tha các hình phạt tương đương mà thôi.

Hỏi: Thế đâu là các tội mà chỉ có Tòa Thánh mới có quyền tha các hình phạt tương đương?

Đáp: Hiện nay theo Giáo Luật hiện hành có 5 tội phạm, nhưng ĐTC Biển Đức XVI đã thêm vào tội thứ sáu liên quan tới “vi phạm bí mật của Mật Nghị Bầu Giáo Hoàng”. Năm tội phạm đã được Giáo Luật kể ra là: thứ nhất, xúc phạm đến Mình Máu Thánh Chúa; thứ hai dùng bạo lực thể lý chống lại Đức Giáo Hoàng; thứ ba, truyền chức Giám Mục không có sự uỷ quyền của Đức Giáo Hoàng: thí dụ điển hình là vụ ĐTGM Lefebvre phong chức Giám Mục mà không có phép của Đức Giáo Hoàng; thứ tư, ban phép giải tội cho tòng phạm trong tội dâm dục tức điều răn thứ sáu; thứ năm trực tiếp vi phạm Ấn bí tích, nghĩa là vi phạm bí mật tòa giải tội.

Hỏi: Tất cả các tội kể trên đều có hình phạt là bị vạ tuyệt thông tự động, và chỉ có Đức Giáo Hoàng mới có thể tha, có đúng thế không thưa cha?

Đáp: Vâng, trong cả 6 trường hợp kể trên việc tha vạ tuyệt thông được dành cho Tòa Thánh. Thật thế, đây là hình phạt tuyệt thông gọi là “latae sententiae”, ai phạm một trong các tội này thì tự động và tức khắc bị dứt phép thông công, mà không cần phải có lời tuyên bố hay đưa ra hình phạt “dứt phép thông công” từ Đức Giáo Hoàng, hay từ Giám Mục, hoặc một tòa án của Giáo Hội. Vạ dứt phép thông công cũng có thể được tuyên bố cho rõ ràng hơn như đã xảy ra cho trường hợp của ĐGM Lefebvre chẳng hạn, cả khi nó không cần thiết cho các mục đích giáo luật.

Bình thường Đức Giáo Hoàng ban phép cho vị Chánh Án Toà Ân Giải Tối Cao, hiện nay là ĐHY Mauro Piacenza, quyền tha các hình phạt này. Tuy nhiên, có các tội trọng khác mà Giáo Hội coi là các “tội phạm”, và bao gồm hình phạt vạ tuyệt thông nhưng không dành cho Tòa Thánh, mà dành cho Giám Mục giáo phận. Trong mỗi giáo phận có một vị Chánh Án tối cao có quyền tha các hình phạt ấy. Cả các linh mục tuyên úy các nhà tù và các nhà thương cũng có quyền đó.

Hỏi: Thưa cha, thế còn trường hỏp phá thai thì sao?

Đáp: Trường hợp phá thai là trường hợp được biết nhiều nhất bao gồm hình phạt vạ tuyệt thông, nhưng việc giải vạ không được dành cho Tòa Thánh. Phá thai là một trường hợp đặc biệt tự động bị vạ tuyệt thông, không phải chỉ cho người mẹ đã phá thai, mà cả cho người chồng hay các người bà con đã khiến cho người mẹ phá thai, và nhân viên y tế tức các bác sĩ và y tá cộng tác tích cực vào việc phá thai.

Hỏi: Các thừa sai của Lòng Thương Xót có các quyền này không thưa cha?

Đáp: Các Thừa Sai của Lòng Thương Xót sẽ được ban cho quyền tha bất cứ hình phạt nào theo giáo luật. Từ vạ tuyệt thông dành cho Tòa Thánh, cho tới các vạ tuyệt thông khác nữa, mà thường chỉ có Giám Mục giáo phận hay Kinh Sĩ Chánh Án của giáo phận mới có quyền tha.

Hỏi: Thế nội dung của vạ tuyệt thông bao gồm những gì thưa cha?

Đáp: Hậu qủa chính của vạ tuyệt thông là cấm lãnh nhận các bí tích, bao gồm cả bí tích Hòa Giải, tức bí tích Giải Tội. Vì thế, một người bị vạ tuyệt thông không thể lãnh nhận bí tích Hòa Giải, nếu trước đó dã không được giải vạ tuyệt thông. Bình thường cha giải tội không có quyền tha vạ tuyệt thông. Vì vậy khi linh mục giải tội tiếp nhận một hối nhân và nhận thấy họ bị vạ tuyệt thông, thì không thể ban phép giải tha tội cho họ, mà phải gửi họ, tùy theo trường hợp, tới với vị Chánh Án Tòa Ân Giải Tối Cao thay thế Đúc Giáo Hoàng, hay tới linh mục Chánh Án giáo phận, để họ có thể được tha vạ tuyệt thông trước khi nhận việc xá giải bí tích. Ở đây gương mặt của các Thừa Sai Lòng Thương Xót nổi bật, vì các vị có quyền trực tiếp tha vạ tuyệt thông, rồi ban phép giải tội để khiến cho việc hòa giải của các tín hữu được dễ dàng hơn.

Hỏi: Cha nghĩ gì về sáng kiến này của ĐTC Phanxicô trong Năm Thánh Lòng Thương Xót?

Đáp: Việc tạo ra hình ảnh này của vị Thừa Sai Lòng Thương Xót là một ý tưởng rất hay đẹp của ĐTC. Một mặt nó khiến cho tín hữu suy tư về sự trầm trọng của vài tội. Nhất là tôi nghĩ tới tội phá thai, là một trong các tội phạm bị vạ tuyệt thông, là một tội chắc chắn rất thường xảy ra. Nhưng đồng thời ĐTC cũng đi gặp gỡ các tín hữu qua cử chỉ này, bằng cách khiến cho họ có thể tiếp nhận lòng thương xót của Thiên Chúa một cách dễ dàng hơn, được tỏ hiện qua Giáo Hội.

Hỏi: Đây cũng là một kiểu giúp tái khám phá ra việc xưng tội hay lãnh bí tích Hòa Giải, có đúng vậy không thưa cha?

Đáp: Vâng, đúng thế. Tôi tin tưởng rằng Năm Thánh ngoại thường này có thể giúp nhiều tín hữu tái khám phá ra vẻ đẹp của bí tích của Lòng Thương Xót, là bí tích Giải Tội. Những trường hợp mà chúng ta đã kể ra trên đây là những trường hợp đặc biệt, nhưng có biết bao tín hữu đã đánh mất đi giá trị của bí tích này, là bí tích có thể sinh ích lợi lớn lao và trợ giúp biết bao người. Vì thế, ngay từ đầu triều đại của ngài ĐTC Phanxicô đã dấn thân mời gọi tín hữu hòa giải với Thiên Chúa, và không mệt mỏi xin ơn tha thứ. Tôi cầu mong rằng một trong các hoa trái của Năm Thánh này là chính việc đưa biết bao người tới gần vẻ đẹp và niềm vui của sự Hoà Giải.

(SD 9-5-2015)

(Linh Tiến Khải, RadioVaticana 27.05.2015)

->Đọc thêm...

28.5.15

DVD2: Gặp gỡ chứng nhân LTX

->Đọc thêm...

DVD1: Gặp gỡ chứng nhân LTX

->Đọc thêm...

Bác sĩ Tín Thác khám & phát thuốc cho 400 người vùng Sông Lũy - ngày 17....

->Đọc thêm...

26.5.15

Đặc ân thánh Phao-lô và Phê-rô


Kinh thưa Cha, xin Cha giải thích thêm về Đặc Ân Thánh Phaolô và Đặc Ân Thánh Phêrô. Chân thành cám ơn Cha. Nguyễn Đ. Hùng

Đáp: Xin trả lời vắn tắt như sau:I. ÐẶC ÂN THÁNH PHAOLÔ

Ðặc ân Thánh Phaolô là đặc ân Giáo Hội căn cứ vào đoạn Thánh Kinh trong thư gửi tín hữu Corintô sau đây:
"Còn với những kẻ khác thì tôi nói - chính tôi, chứ không phải Chúa - nếu anh em nào có vợ ngoại đạo mà người này bằng lòng ở với người ấy, thì người ấy đừng rẫy vợ. Người nào có chồng ngoại đạo mà người này bằng lòng ở với người ấy, thì đừng bỏ chồng. Thật vậy, chồng ngoại được thánh hóa nhờ vợ, và vợ ngoại thì được thánh hóa nhờ chồng [...] Nếu người ngoại đạo muốn bỏ người kia, thì cứ bỏ; trong trường hợp đó, chồng hay vợ có đạo không bị luật hôn nhân ràng buộc. Thiên Chúa đã kêu gọi anh em sống bình an với nhau" (1Cor.7,12-15).
Ðặc ân này tháo gỡ những hôn phối đã cử hành giữa hai người chưa rửa tội bao giờ (dù rửa tội trong Giáo Hội Kitô Giáo khác) mà bây giờ một người trở lại đạo Công Giáo.

Giáo Luật qui định rằng:

"Hôn phối kết ước giữa hai người không rửa tội, được tháo gỡ bởi đặc ân Thánh Phaolô nhằm ích lợi đức tin của bên đã lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội, do chính sự kiện là người đã được rửa tội kết lập hôn phối mới, miễn là người không rửa tội đã đoạn tuyệt với họ."


"Hiểu là đoạn tuyệt khi người không rửa tội không muốn chung sống với người đã lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội, hay không muốn chung sống thuận hoà mà không xúc phạm đến Ðấng Tạo Hoá; đừng kể khi nào người đã được rửa tội, sau khi lãnh nhận Bí Tích đã gây ra cho bên kia một duyên cớ chính đáng để đoạn tuyệt" (GL 1143).

Sự tháo gỡ cần phải hội đủ hai điều kiện sau đây:

1. Người Tân Tòng phải được rửa tội trước khi kết hôn lần thứ hai.

2. Người vợ hay chồng ngoại đạo là người tự ý bỏ ra đi, hay ít ra là vì không thể sống thuận hòa được nên người Tân Tòng (đã rửa tội) bắt buộc phải ra đi.

Những trường hợp sau đây có thể áp dụng đặc ân Thánh Phaolô:

a) Một người Công Giáo muốn kết hôn với một người Tân Tòng Công Giáo, nhưng người Tân Tòng này trước kia đã kết hôn với một người chưa rửa tội bao giờ và hiện nay họ không còn sống chung với nhau nữa.

b) Một người Công Giáo muốn kết hôn với một người Tân Tòng (rửa tội vào một Giáo Hội Kitô Giáo không phải là Công Giáo), người Tân Tòng này trước kia đã kết hôn với một người chưa rửa tội bao giờ và hiện nay họ không còn sống chung với nhau nữa.

c) Một người tân tòng Công Giáo, trước kia đã lập gia đình với một người chưa rửa tội bao giờ, nhưng hiện nay không còn sống chung nữa, muốn kết hôn với một người Công Giáo.

d) Một người Tân Tòng Công Giáo, trước kia đã lập gia đình với một người chưa rửa tội bao giờ, nhưng hiện nay không còn sống chung nữa, muốn kết hôn với một người không phải là Công Giáo. Bình thường, người Tân Tòng Công Giáo có quyền tái hôn với một người công giáo. Tuy nhiên, khi có lý do quan trọng, Bản Quyền sở tại có thể ban cho người đã được rửa tội và hưởng đặc ân Phaolô, được phép kết hôn với một người ngoài công giáo, dù đã được rửa tội hay không, nhưng phải giữ những điều luật định về hôn phối hỗn hợp.

Bản Quyền địa phương (Ðức Giám Mục giáo phận) có thẩm quyền áp dụng đặc ân này. Tất cả các bằng chứng về việc người vợ hay chồng không rửa tội không muốn sống thuận hòa, hay bỏ ra đi phải được minh xác.

Luật qui định rằng hôn phối trước tự động được tháo gỡ khi đương sự thực hiện hôn phối lần thứ hai sau đó (xem GL 1143-1147).

II. ÐẶC ÂN THÁNH PHÊRÔ.

Khác với đặc ân Thánh Phaolô, đặc ân Thánh Phêrô không được ghi trong Bộ Giáo Luật mà được ban hành sau khi Ðức Giáo Hoàng Phaolô VI chấp thuận, do Thánh Bộ Giáo Lý Ðức Tin ngày 6 tháng 12 năm 1973 và được tu chính do tài liệu ban hành ngày 30 tháng 4 năm 2001.
Đặc ân này nhằm tháo gỡ những cặp hôn nhân hữu hiệu nhưng chưa phải là bí tích vì chỉ có một trong hai người phối ngẫu là đã rửa tội. Lý do tháo gỡ là có lợi vì đức tin cho người liên quan (“in Favor of the Faith”).
Một người có thể xin hưởng đặc ân này nếu:
a) Ít nhất một trong hai người phối ngẫu là người không được rửa tội trong suốt thời gian ràng buộc hôn phối;
b) Nếu, vào thời điểm nào đó sau khi cưới, cả hai được rửa tội, họ phải xa nhau không được ăn ở với nhau (việc vợ chồng) từ ngày chịu phép rửa tội;
c) Hai người bây giờ đã rời xa nhau và không có hy vọng phục hồi lại cuộc sống hôn nhân với nhau nữa;
d) Người xin tháo gỡ bây giờ muốn cưới một người nào rõ rệt;
e) Người đứng đơn và người phối ngẫu tương lai không có trách nhiệm gì trong việc đổ vỡ của cuộc hôn nhân trước;
f) Nếu người đứng đơn hoặc người phối ngẫu tương lai ngoài Công Giáo, họ phải hứa trên văn bản nuôi con cái họ trong đức tin Công Giáo.
Nên nhớ rằng đặc ân đức tin này chỉ được ban cho đương sự một lần. Nếu cuộc hôn phối thứ hai đổ vỡ người đứng đơn không thể xin một lần nữa.
Ngoại trừ những trường hợp được đề cập tới trong Giáo Luật (khoản 1148, 1149), các trường hợp tháo gỡ các cuộc hôn nhân không là bí tích sẽ dành cho chính Đức Thánh Cha (do đó có tên là Đặc Ân Thánh Phêrô)

->Đọc thêm...

Đức Thánh Cha kêu gọi từ bỏ lòng quyến quyến của cải


Ngài đưa ra lời cảnh giác trên đây trong bài giảng thánh lễ sáng ngày 25-5-2015 tại Nguyện đường Nhà trọ thánh Marta ở Nội thành Vatican.

Trong bài giảng, ĐTC đã diễn giải bài Tin Mừng về cuộc gặp gỡ của chàng thanh niên giàu có với Chúa Giêsu. Anh ta chăm chỉ giữ các giới răn nhưng khi Ngài mời gọi anh ta bán của cải để đi theo Ngài, thì anh ta buồn rầu bỏ đi. Trước tình trạng đó, Chúa nói: ”Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu có vào Nước Trời”.


ĐTC nhận xét rằng: ”Thế là niềm vui và hy vọng nơi chàng thanh niên giàu sang ấy tan biến, vì chàng ta không muốn từ bỏ của cải của mình. Sự quyến luyến của cải là khởi đầu mọi thứ hư hỏng, ở mọi người: hư hỏng bản thân, hư hỏng trong kinh doanh, cả thứ hư hỏng cỡ nhỏ trong thương mại, hư hỏng của những người giảm bớt cân lượng đúng đắn, hư hỏng chính trị, hư hỏng trong giáo dục.. Tại sao? Vì những người sống gắn bó với quyền lực, giàu sang của mình thì tưởng mình đang ở trên thiên đàng rồi. Họ khép kín, không có chân trời, không có hy vọng. Rốt cục họ phải rời bỏ tất cả”.

ĐTC nhắc lại một khu phố ngài đã thấy trong thập niên 1970, khu phố của những người giàu sang, họ phải xây hàng rào chung quanh để bảo vệ chống lại trộm cắp... Sống không có chân trời là một cuộc sống son sẻ, sống không có hy vọng là một cuộc sống buồn thảm. Sự quyến luyến với của cải làm cho chúng ta buồn thảm và son sẻ. Tôi nói ”quyến luyến” chứ không nói ”quản trị tốt của cải”, vì của cải là điều để mưu công ích cho mọi người. Nếu Chúa ban của cải cho một người là để họ mưu ích cho tất cả mọi người, chứ không phải cho bản thân họ mà thôi, không phải để họ khép kín của cải trong tâm hồn, để rồi trở nên hư hỏng và buồn sầu”.

ĐTC nhấn mạnh rằng: ”Của cải mà không có lòng quảng đại làm cho chúng ta tưởng mình quyền năng, như Thiên Chúa. Nhưng rốt cục chúng tước đoạt của chúng ta điều tốt đẹp nhất, là niềm hy vọng”

G. Trần Đức Anh OP
vatican

->Đọc thêm...

25.5.15

THIẾU GIA NỨC TIẾNG ĐI TU Ở SÀI GÒN KHIẾN DƯ LUẬN DẬY SÓNG


Thiếu gia nức tiếng đi tu ở Sài Gòn đã từ bỏ tất cả những địa vị, danh vong để quy uy nơi cửa phật. Với pháp danh “Thiện Duyên”. Thời gian gần đây, trên các trang mạng xã hội truyền nhau về thông tin một vị thiếu gia trẻ tuổi có khối tài sản khó có ai có thể mơ ước được. Thế nhưng, cậu thiếu gia này từ bỏ tất cả những địa vị, danh vong đó để quy uy nơi cửa phật. Với pháp danh “Thiện Duyên”, hiện vị thiếu gia này đang tu dưỡng, khổ luyện tại một ngôi chùa ở phường Bình Chiểu, quận Thủ Đức, TP Hồ Chí Minh. Từ bỏ danh vọng Rằm tháng Giêng đầu năm 2015, trong dịp đi thắp nhang tại chùa Bửu Quang, phường Bình Chiểu, quận Thủ Đức, TP Hồ Chí Minh. Đúng dịp này, chùa Bửu Quang đang diễn ra đại lễ thường niên mừng ngày Rằm tháng Giêng. Chùa có hàng trăm tăng ni, phật tử, cùng các vị đại biểu, và đông đảo bà con về dâng hương lễ phật cầu an, may mắn cho một năm mới làm ăn phát tài. Chùa Bửu Quang được biết đến với việc sách kỷ lục Guiness Việt Nam, đây là một trong những ngôi chùa đầu tiên của phật giáo nguyên thủy hệ phái Nam Tông tại nước ta.


Trong lúc thắp nhang chùa, chúng tôi tình cờ gặp được vị sư trẻ với pháp danh “Thiện Duyên” - vị thiếu gia nức tiếng đi tu ở Sài Gòn. Cuộc trò chuyện ngắn với vị sư trẻ này, chúng tôi mới biết đây là người vốn sinh ra trong một gia đình quý tộc mà cộng đồng mạng đang xôn xao. Hằng ngày, dù bận rộn với công việc nhà chùa nhưng sư “Thiện Duyên” vẫn dành chút thời gian để chia sẻ về hành trình quy y cửa phật đầy trắc trở của mình.

Bất ngờ hơn, khi chúng tôi được biết vị sư vốn không phải là một thiếu gia chán chường cuộc sống giàu sang như mọi người đồn đại. Sư cũng không phải là chàng thanh niên từng học chuyên toán, tin, Đại học Khoa học tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Kinh tế quốc dân, Đại học Quốc gia Moskva”. Vị sư “Thiện Duyên” cười nói: “Sư cũng không rõ vì sao lại có thông tin như vậy nữa. Do lâu rồi sư không dùng địa chỉ Facebook cũ nên mọi người có sự hiểu nhầm gì đó”. Nhưng với thành tích học tập và địa vị của vị sư trẻ này nói ra cũng khiến tất cả chúng ta vô cùng ngạc nhiên. đi tu, thiếu gia, giàu có,

Theo lời kể, sư có tên tục thế là Lâm Dung K . (SN 1982), trong một gia đình có cha mẹ là những thương gia lớn ở thành phố Vinh, (Nghệ An). Thủa thiếu thời, K. đã có cuộc sống sung túc. Là đứa con đầu lòng, K. đã được bố mẹ cho thừa hưởng nhiều khối tài sản lớn có giá trị trong nhà như nhà lầu, xe hơi, nhưng chưa bao giờ K. ỷ lại vào địa vị và danh vọng đó. Thời còn đi học, K. là một trong những học sinh giỏi của trường. Sau khi kết thúc thời học sinh, K lên học ở Học viện Biên phòng. Sau khi tốt nghiệp cử nhân tại Việt Nam, K. tiếp tục đi du học nước ngoài. Khi ra trường, K. được giữ lại làm việc ở nước ngoài, suy nghĩ dằn vặt mãi, cuối cùng K. quyết định từ chối trở về Việt Nam phụ giúp bố mẹ công việc kinh doanh. Để thành thạo hơn trong việc quản lý, K. sang Trung Quốc tiếp tục theo học chuyên ngành quản trị kinh doanh để tiếp quản công việc kinh doanh của gia đình. Xong khóa học, anh quay về nước phụ công việc cùng bố mẹ. Với những kiến thức mình học hỏi ở nhiều nước khác nhau, K. đã rút ra được những bài học kinh nghiệm cho việc kinh doanh và anh đã vạch ra cho mình kế hoạch cụ thể để chí hướng làm ăn, từ đó cậu ngày càng thành công trong công việc, công ty ăn nên làm ra như diều gặp gió. Kể về thời “niên thiếu” của mình, vị sư trẻ, cười bảo: “Với sư như vậy đâu phải là “đại gia”, nhưng gia đình cũng thuộc diện có của ăn của để. Thời trước, sư được đi du học nước ngoài, tu nghiệp ở các nước phát triển nên tư tưởng tương đối thoải mái. Thời nhỏ, sư có đam mê muốn được ngồi trên những chiếc xe phân khối lớn, lúc trước sư cũng thuộc tay “chơi” có số ở Vinh. Nhưng những chiếc xe của sư dùng cũng chưa đạt cấp độ gọi là siêu xe… điện thoại xịn… đều là của bố mẹ sư sắm cả. Sau này không đam mê nữa, sư nhường khối tài sản đó cho bố mẹ mình.

Kể về cuộc sống lúc trước của sư “Thiện Duyên”, nhiều lúc sư không muốn nhắc nhiều về quá khứ. Nhưng với cách trò chuyện của sư, chúng tôi cũng thấy được địa vị, danh giá của sư cũng không phải là “dạng vừa”. Sư “Thiện Duyên” còn một em trai đang du học ở Anh, cô em gái làm việc trong cơ quan Nhà nước. Ẩn mình nơi cửa phật Việc quy uy của sư “Thiện Duyên” là những trăn trở, suy tư của một chàng trai tài năng, lương thiện, bén duyên nơi cửa phật thanh tịnh. Sư “Thiện Duyên” cho biết, bản thân sinh ra trong một gia đình truyền thống Phật giáo. Lúc nhỏ, nhiều lần được bố mẹ cho theo vào cửa phật thắp nhang. Cha mẹ sư hay làm từ thiện. Ngoài việc cha mẹ sư bỏ tiền túi ra làm từ thiện, bố còn đứng ra quyên góp tiền từ các nhà hảo tâm để hỗ trợ đồng bào gặp khó khăn. Sư luôn tâm niệm rằng, việc đi du học không chỉ giúp mở mang kiến thức, mà còn để mình hiểu hơn về văn hóa, con người ở các nước phương Tây họ phát triển như thế nào, để từ đó mình biết hoàn thiện bản thân hơn. Hơn nữa, mình biết quý giá những giá trị của người Việt Nam mình. Lúc nhỏ, sư hay có thói quen độc nhiều kinh phật, những lời dạy của nhà phật. Sư “Thiện Duyên” kể, ở miền Bắc, hay miền Trung, Phật giáo Bắc Tông rất phát triển. Sau thời gian học hỏi, tìm hiểu, sư muốn vào Nam để tìm hiểu rõ hơn hệ phái Phật giáo nguyên thủy Nam Tông như thế nào. Lúc mới bắt đầu vào Nam, sư đi thăm nhiều chùa ở miền Nam để học hỏi thêm, lúc đó sư chưa có ý định vào chùa quy uy nơi cửa phật. Không hiểu sao, khi sư bước vào tổ đình Bửu Quang và may mắn được tiếp xúc với thượng tọa Thiện Minh trụ trì tại đây. Thượng tọa là người đầu tiên giảng giải cho sư những điều sâu sắc ẩn chứa bên trong Phật giáo nguyên thủy Nam Tông. Nhận thức được sự giảng dạy thấu đáo của thầy chủ trì, tự nhiên trong lòng sư muốn ở lại chùa, và cũng từ đó, sư xuống tóc quy uy tại chùa Bửu Quang, sư nghĩ đây cũng như một “duyên nợ” của sư. Chưa từng gặp phải bất cứ biến cố hay trở ngại gì trong cuộc sống để rồi xuống tóc như mọi người đồn đoán.

Phải chăng đó là sự ngộ đạo, sự bình tâm để loại bỏ được cái gọi là danh vọng, để rồi trở thành con người tục thế. Sư “Thiện Duyên” chia sẻ, quyết định vào cửa thiền của mình khổ luyện tuy cha mẹ không đồng ý, nhưng cũng không cấm cản sư làm điều này. Bố ẹm là người mộ đạo và am hiểu những quy tắc tu tập của hệ phái Phật giáo nguyên thủy Nam Tông nên muốn cho sư có những trải nghiệm. Theo lời sư, việc mình khổ luyện, tụng kinh niệm phật không chỉ giúp cho tâm hồn thanh thản, thoải mái, mà còn cầu an cho chúng sinh, cũng như phúc đức cho gia đình, người thân. Có lẽ người tục thế trả hiếu cho cha mẹ bằng những thứ hành động hay thứ khác thì với sư, đệ tử phật môn lại khác. Khi đã ngộ đạo thì việc từ bỏ thói quen sinh hoạt của một “thiếu gia” có cuộc sống sung túc trước đây là điều hết sức dễ dàng.

Từ ngày mới vào chùa đã tuân thủ nghiêm ngặt các giới luật của hệ phái, ngoài việc ăn chay, niệm phật, cầu nguyện, sư còn theo các đệ tử khác đi khất thực, phổ độ, cầu bình an, hạnh phúc cho chúng sinh. Sư Thiện Duyên cho biết: “Trong hệ phái nguyên thủy Nam Tông có nhiều quy định tu tập khác với phái khác. Dù sư đã xuống tóc quy y nhưng đây chỉ là giai đoạn trải nghiệm, thử thách tạm thời. Hết khoảng thời gian này nếu còn duyên với cửa phật mới quyết định xuất gia hay không. Sư xem đây là cơ hội để tịnh tâm. Sau này, nếu phải trở lại với cuộc sống tục thế, sư sẽ có được cái nhìn toàn vẹn hơn vì sự tu tập luôn hướng con người tìm đến giá trị nhân bản tốt đẹp của ông bà ta, nó là cơ sở hình thành cái “chân, thiện, mỹ”.

Xuất gia gieo duyên Thượng tọa Thiện Minh, trụ trì chùa Bửu Quang cho biết: “Việc sư “Thiện Duyên” xuống tóc quy y chỉ là hình thức tu gieo duyên. Do đó, Phật giáo nguyên thủy Nam Tông có quy định cho các đệ tử được phép tu gieo duyên. Nghĩa là họ được phép quy y trong khoảng thời gian nhất định, kéo dài 1-2 tháng, thậm chí một năm. Trong quá trình tịnh tâm, khổ luyện, nhận ra những giá trị cao đẹp trong triết lý nhà phật đệ tử lại hoàn tục, trở về với cuộc sống trước đây của mình. Chùa Bửu Quang không chỉ có sư Thiện Duyên, mà còn có rất nhiều đệ tử khác tham gia tu gieo duyên”.

Theo Baomoi.com

->Đọc thêm...

Lời cảm ơn của Ban tổ chức buổi Lễ ra mắt Câu lạc bộ Thanh niên Nghệ Tĩnh tại Ba Lan


Ban tổ chức buổi lễ ra mắt Câu lạc bộ Thanh niên Nghệ Tĩnh tại Ba Lan (CLBTNNTTBL) xin chân thành cảm ơn Hội đồng hương Nghệ Tĩnh, CLB bóng đá Sông Lam, Ban văn nghệ Nghệ Tĩnh tại Ba Lan và toàn thể bà con, dâu rể, thanh niên Nghệ Tĩnh cùng các cá nhân đã nhiệt tình ủng hộ về tinh thần, vật chất và đã đến tham dự lễ ra mắt CLBTNNTTBL được tổ chức vào ngày 8-5-2015 tại Hotel Groman, al. Krakowska 76, Raszyn. Buổi lễ đã thành công rất tốt đẹp.


Chúng tôi cũng mong muốn và hy vọng các tập thể, cá nhân, dâu, rể ...Nghệ Tĩnh đang sinh sống, làm việc tại Ba Lan luôn đồng hành với CLBTNNTTBL vì tình huynh đệ, đoàn kết và xây dựng CLB ngày một vững mạnh.
Trong việc tổ chức buổi lễ, nếu có gì thiếu sót đối với các tập thể, cá nhân …, chúng tôi thành thật xin lỗi và mong mọi người lượng thứ bỏ qua.
Kính chúc mọi người xứ Nghệ và toàn thể bà con cộng đồng người Việt tại Ba Lan luôn khỏe mạnh, đoàn kết và thành công!

BAN TỔ CHỨC

Ảnh: Ban chấp hành CLB Thanh niên Nghệ Tĩnh tại Ba Lan

Danh sách BCH CLB TNNTTBL:
1- Đặng Hồng Sơn (Chủ tịch)

2- Nguyễn Ngọc Tuấn

3- Lê Văn Biên

4- Đặng Sỹ Mỹ

5- Nguyễn Huy Thêm (Cha Thêm)

6- Cao Xuân Phương

7- Phạm Văn Quang

8- Phạm Túc Đạt

9- Trần Văn Thành

10- Nguyễn Huy Quý

11- Trần Bá Minh

->Đọc thêm...

Tập Cận Bình: các tôn giáo phải thoát khỏi ảnh hưởng nước ngoài


Ông Tập Cận Bình, người đứng đầu đảng cộng sản Trung quốc từ năm 2012, và là chủ tịch của Trung quốc từ năm 2013, ngày 20 tháng 5, nói rằng các tôn giáo ở Trung Quốc phải được độc lập, không ảnh hưởng nước ngoài.

“Chúng ta phải quản lý những vấn đề tôn giáo theo quy định của pháp luật và tôn trọng triệt để nguyên tắc độc lập để các nhóm tôn giáo tiếp tục không ngừng theo phương thức riêng của chúng ta,” ông nói. “Những nỗ lực tích cực nên được thực hiện để kết hợp các tôn giáo theo xã hội thuộc xã hội chủ nghĩa.”


Từ năm 1957, chính phủ Trung quốc đã tìm cách kiểm soát đạo Công giáo thông qua Hiệp hội Công giáo Trung quốc yêu nước, hiệp hội này đã tự bổ nhiệm các giám mục. Tòa Thánh đã phê duyệt một số giám mục do Hiệp hội này bổ nhiệm, nhưng đã từ chối một số khác khác.

Cùng ngày, Đức Thánh Cha Phanxicô đã kêu gọi cầu nguyện cho tự do tôn giáo ở Trung quốc, và dâng lời cầu nguyện để người Công giáo Trung quốc “sống hiệp nhất tinh thần với hòn đá tảng Phêrô mà Giáo Hội đã được xây dựng trên đá này.”



Jos. Tú Nạc, NMS

->Đọc thêm...

Thánh lễ phong Chân Phước cho Đức Tổng Giám Mục Oscar Romero


Thánh lễ tuyên phong Chân Phước cho Đức Tổng Giám mục Oscar Romero hôm thứ Bẩy 23 tháng Năm đã thu hút 250,000 người.


Thánh lễ đã diễn ra tại quảng trường Chúa Kitô Đấng Cứu Chuộc ở San Salvador, thủ đô của El Salvador, lúc 10 giờ sáng giờ địa phương. Đức Hồng Y Angelo Amato, Tổng Trưởng Bộ Phong Thánh, đã thay mặt Đức Thánh Cha cử hành thánh lễ này và đọc nghị định tuyên phong Chân Phước cho Đức Tổng Giám Mục Romero.


Trong thánh lễ còn có 7 vị Hồng Y, 90 Giám Mục và hơn 1,000 linh mục tham dự, cùng với một số nguyên thủ quốc gia, trong đó có tổng thống Ecuador và tổng thống Panama.

Các nghi lễ thực ra đã bắt đầu vào tối thứ Sáu tại quảng trường trước nhà thờ chánh tòa San Salvador với thánh lễ do Đức Hồng Y Oscar Rodriguez Maradiaga cử hành. Tiếp theo đó là đêm thắp đuốc và cầu nguyện.

Đức Tổng Giám Mục Oscar Romero sinh ngày 15/08/1917 trong một gia đình có 8 người con. Ngài được thụ phong linh mục tại Rôma vào ngày 04/04/1942.

Sau khi thụ phong linh mục cha Romero tiếp tục ở lại Roma để theo học chương trình tiến sĩ thần học. Nhưng vì cuộc nội chiến tại El Salvador và Giáo Hội tại nước này thiếu linh mục, ngài được gọi về nước.

Và trong hơn 20 năm sau đó, ngài làm cha xứ và thư ký cho Tòa giám mục San Miguel. Năm 1970, cha Oscar Romero được tấn phong giám mục và làm phụ tá cho Đức Cha Chavéz, Tổng Giám Mục San Salvador và ngày 23/02/1977, ngài được bổ nhiệm làm Tổng Giám Mục của San Salvador.

Ngày 12/03/1977, một linh mục dòng Tên, là cha Rutilio Grande – một trong những linh mục đầu tiên được ngài truyền chức và là một người can đảm đấu tranh cho những người nghèo – bị sát hại.

Chứng kiến cảnh một linh mục can đảm đấu tranh cho người nghèo bị giết hại như vậy, Ðức cha Romero đã phản ứng rất mạnh. Ngài đã ra lệnh đóng cửa trường học do Giáo Hội điều hành trong ba ngày và đình hoãn mọi thánh lễ trên toàn quốc trong tuần lễ kế tiếp, ngoại trừ một thánh lễ đặc biệt tại nhà thờ chính tòa San Salvador.

Trong bài giảng tại thánh lễ đặc biệt đó cũng như trong các thánh lễ các Chúa Nhật tiếp theo, ngài đã lên tiếng tố cáo những tội ác, bất công do giới cầm quyền gây nên.

Để phản đối việc chính phủ liên quan đến hay thinh lặng trước các vụ bắt bớ, giết hại, ngài đã không tham dự lễ nhậm chức của tân tổng thống của nước này. Ngài tuyên bố: “Giáo Hội không được đo lường bằng sự hỗ trợ của chính phủ mà bằng chính tính trung thực, tinh thần cầu nguyện theo tinh thần Tin Mừng, lòng tin tưởng, sự chân thành và công lý, nhất là khi Giáo Hội chống lại các lạm dụng”.

Một cử chỉ khác được coi là mạnh dạn là việc ngài quyết định cho mở cửa chủng viện tại trung tâm thủ đô San Salvador và ngày thứ hai Phục Sinh năm 1978 để đón tiếp bất cứ nạn nhân nào của các vụ bạo động. Hàng trăm người vô gia cư, đói rách và bị hành hung đã đến chủng viện.

Và một quyết định nữa nói lên việc ngài toàn tâm toàn lực đấu tranh cho công lý, cho người nghèo là việc ngài cho ngưng xây cất nhà thờ Chính tòa San Salvador. Ngài nói: “Khi nào chiến tranh chấm dứt, những người đói khổ được ăn uống đầy đủ và trẻ con được giáo dục, lúc đó chúng ta sẽ tiếp tục xây cất nhà thờ chính tòa”.

Chính sự cương quyết và can đảm đó, ngài đã trở thành cái gai trong mắt những người có quyền, có thế lực tại El Salvador. Ngài luôn bị đe dọa, luôn phải đối diện với nguy hiểm. Biết vậy, ngài vẫn không im lặng, hay tìm một nơi khác an toàn. Chiều ngày 24/3/1980, Đức Cha Romero cử hành Thánh lễ cầu hồn cho thân mẫu của một người bạn tại nguyện đường của một bệnh viện ở thủ đô San Salvador. Ngài bị bắn chết ngay sau bài giảng nẩy lửa của mình.

Chính phủ El Salvador ngoài những lời xin lỗi chung chung không có bất cứ cố gắng nào nhằm đưa ra ánh sáng vụ giết hại Đức Tổng Giám Mục Romero. Cho đến nay, kẻ nào đã bắn hạ ngài vẫn còn là một điều bí mật.

Thiếu tá Alvaro Rafael Saravia, người được cho là đã trực tiếp nhúng tay vào vụ sát hại Đức Tổng Giám Mục Romero đã được khéo léo dàn xếp cho di cư sang Mỹ vào giữa thập niên 1980 để chạy tội nhưng y bị bắt và bị đưa ra tòa. Trước tòa án tại California, Alvaro Rafael Saravia không nói một lời nào nhằm bác bỏ hay công nhận trách nhiệm của mình trước cáo buộc đã giết hại Đức Cha Romero. Y cũng không thèm mướn luật sư cãi lại. Tòa án tại California đã trưng ra những bằng cớ không thể phủ nhận được về vai trò trực tiếp giết hại Đức Cha Romero của ông Saravia, và vai trò ông này trong Biệt Đội Tử Thần El Salvador cũng như liên hệ giữa ông này và cố đại tá Roberto D'Aubuisson, người đã thành lập đảng ARENA. Tòa đã truyền cho ông Saravia phải đền cho thân nhân Đức Cha Romero 10 triệu Mỹ Kim.

Đại tá Roberto D'Aubuisson được báo chí El Salvador cho rằng là người đã ra lệnh cho thiếu tá Alvaro Rafael Saravia bắn chết Đức Cha Romero. Tuy nhiên, con trai ông này cũng lấy tên Roberto vừa đắc cử thị trưởng một thành phố lớn tại El Salvador, cũng có mặt trong buổi lễ phong Chân Phước và đưa ra những phát biểu như thể họ hàng nhà Aubuisson không liên can gì tới cái chết của Đức Tổng Giám Mục.

(Đặng Tự Do, VCN 23.05.2015)
conggiao.info

->Đọc thêm...