CLICK HERE FOR THOUSANDS OF FREE BLOGGER TEMPLATES »
“Hỡi anh em, ta hãy trung tín cùng Đức Chúa Trời cho đến chết ; cho đến chết, không một điều gì có thể dập tắt lòng thương mến Chúa Giêsu Kitô trong trái tim ta" (Những lời sau cùng của Chân Phước Anrê Phú Yên)

12.9.14

Đức Hồng Y Phanxico Xavier Nguyễn Văn Thuận đã viết:


“Chấm một chấm cho thẳng, chấm này nối tiếp chấm kia… đường sẽ thẳng.

Sống một phút cho tốt, phút này nối tiếp phút kia… đời sẽ thánh’’.

->Đọc thêm...

Thất Nhân Tâm


PHẦN I - NHỮNG CHUYỆN “THẤT NHÂN TÂM”
Chương I

NHỮNG CÁCH LÀM CHO NGƯỜI DỄ GHÉT. NHỮNG CÁCH DỄ GÂY THÙ CHUỐC OÁN

1. Ham cãi lộn và cãi cho thắng bất cần phải quấy.

2) Mắng như tạt nước lạnh vào mặt rằng người ta lầm.

3) Lên mặt khôn vặt là trổ tài sái mùa.

4) Lầm lỗi mà cứ ngoan cố phản đối, giành phần phải cho mình.

5) Nói như búa bổ vào mặt người ta.

6) Kích bác cho người ta chống mình ngay từ lúc đầu bằng những tiếng “Không” hằn học.

7) Chặn họng không cho người ta nói.

8) Cứ lên mặt dạy khôn người và cao ngạo với sáng kiến của mình.

9) Thi ân rồi kể công để ân biến thành oán.

10) Lúc nào cũng chủ quan, bất kể quan điểm kẻ khác.

11) Ai cũng thèm được thương hại và thèm thiện cảm. Cứ phớt lờ đi.

12) Không nghĩ kẻ khác tốt mà nghi ngờ, đố kỵ họ.

13) Làm cho người ta chán ngấy toàn bằng những lý thuyết khô khan và con số nhức óc.

14) Ỷ tiền bạc, quyền thế mà bất kể chí tiến thủ của kẻ khác.

15) Trắng nói đen, đen nói trắng làm cho chính người thân yêu nhất cũng điên đầu.



NHỮNG CÁCH DỄ GÂY THÙ CHUỐC OÁN

1. Ham cãi lộn và cãi cho thắng bất cần phải quấy.

Ông Constant viết về đời tư của Napôlêông nói lần nào chơi bida với Hoàng hậu Joséphine, Napôlêông cũng nhường cho Hoàng hậu thắng. Ta rút ra từ đó bài học quý báu này là trong những việc nhỏ nhặt nhiều khi muốn cho cuộc sống êm dịu ta phải nhịn thua. Năm xưa, tôi có hai người bạn cãi nhau thiếu điều đánh lộn về con số đo bề cao của đỉnh Everest. Trong vô số cuộc hội thảo, từ những phiên họp thông thường đến những hội nghị quan trọng, bạn biết thiếu gì người không lo tìm chân lý mà bắt bẻ từng tiếng nói nữa, biến thành cãi lộn hàng tôm hàng cá. Người ham cãi lộn và ngụy biện chẳng những không thuyết phục được ai hết mà còn tiêu hoang dũng khí, tư cách của mình. Tổng thống Lincoln khuyên một sĩ quan trẻ tuổi nọ: “Ai muốn luyện tâm hồn không bao giờ cãi vã. Tính tình sẽ thành khó chịu, tự chủ sẽ tiêu tan do những cuộc gây gổ đó”.



Tranh luận đứng đắn thì không nói gì chớ gây lộn thì đừng mong có kẻ thắng người bại. Ai cũng bảo rằng mình có lý. Kết quả chỉ gây thù chuốc oán sau khi đã đem những cặn bã của thú tính ra choảng nhau một cách dã man. Cũng có thể một bên câm họng vì bên kia “cả vú lấp miệng em”. Mà như vậy có phải bên kia thắng đâu, chỉ là đàn áp thôi. Trong thâm tâm người bị cãi đến bặt hơi, chân lý chưa sáng tỏ, chỉ có uất ức, hiềm thù. Franklin nói cãi lộn làm cho người ta ngượng, ích lợi gì, vì có bao giờ cách ấy làm cho người ta đồng ý với mình.



Theo dõi những cuộc hòa đàm thí dụ ở Bàn Môn Điếm hay Ba Lê chẳng hạn, bạn có thấy tức hộc máu không? Mà ai dám bảo hai bên không là những bậc trí thức. Trí thức nói chuyện với nhau mà còn vậy huống hồ cãi vã với người thiếu hiểu biết. Ông Adoo không vô lý khi nói: “Lý luận không bao giờ thắng một người ngu”. Đó là chưa nói trong trường hợp tự ái nổi điên lên thì học hết mấy đại học cũng có thể phát khùng và tranh biện trở thành cãi lộn hay gì gì khác hồi nào không hay.



Thượng sách là bạn tránh các cuộc cãi vã và nếu cần tranh biện thì bình tĩnh bắt tình cảm qui phục trí lý.



2) Mắng như tạt nước lạnh vào mặt rằng người ta lầm.

Thì người ta lầm thật đấy. Tôi và bạn cũng có thể lầm như họ. Không phải chỉ Roosevelt mà cả Albert Einstein đều thú nhận trong một trăm lần xét đoán đúng chừng bảy tám chục lần thôi. Ông hoàng của triết là Socrate mà mấy ngàn năm trước cũng nói có một điều mình biết chắc chắn là mình không biết gì hết. Những bộ óc lớn của nhân loại còn thật thà tự thú như vậy huống hồ chúng ta. Nói chuyện hay tranh luận với ta, người khác không cho mình lầm đâu. Lại còn không chịu ai nói mình lầm. Tại ông “Thần tự ái” trong họ muốn như vậy. Bị mắng là lầm trong đầu óc họ phải quấy lẫn lộn. Họ chỉ còn nước chồm tới cãi sao cho thắng ta thôi. Chuyện bình thường kia mà muốn đổi ý họ đã khó khăn rồi. Ta mắng họ lầm là thêm giữa họ và ta một vách ngăn nữa. Cãi mà có quyền, có ăn “thù lao” như luật sư kia còn phải lựa lời “đắc nhân tâm” ông tòa. Bạn có thấy luật sư nào muốn đốt bạc của thân chủ mình bằng cách sửa lưng hay mắng ông tòa là lầm, là ngốc không? Còn ta, muốn kẻ khác vừa theo ý ta, vừa mến ta, tại sao ta làm họ mất mặt?



Họ có danh dự của họ. Nếu ta lầm, ta thành thật nhận mình lầm. Nhớ nhận thành thật. Không thành thật lời thú nhận trở thành nói móc và như vậy còn “khai pháo” hơn nữa. Bấy giờ chỉ có thù oán chất chồng.



3) Lên mặt khôn vặt là trổ tài sái mùa.

Trượng Nhân nói với Tôn Thúc Ngao rằng có ba điều gây thù chuốc oán: Tước cao, quyền lớn, lộc nhiều. Bạn nên thêm: Tài mà không biết yểm tài nếu không chết bậy cũng sự nghiệp tan tành. Đọc Tam quốc, bạn quên sao được Dương Tu trổ tài lặt vặt làm mất mặt Tào Tháo và bị tướng này trảm đầu. Trong “Sử Ký” Tư Mã Thiên chép: “Miệng Lão Tử khuyên Khổng Tử: người quân tử nhiều lúc phải sống như đứa ngu, bỏ đi kiêu khí và đa dục thân mới yên, lo bươi móc, biếm nhã chuyện thiên hạ thì vong mạng”. Vĩ nhân như Khổng Tử mà còn cần nghe những lời như vậy huống hồ người thường hả bạn? Quả thực như Nguyễn Du nói:



“Có tài mà cậy chi tài

Chữ Tài liền với chữ Tai một vần”



Người dù có tâm luyện đến đâu cũng không thoát khỏi bệnh thường tình của con người là “bệnh tự ái”. Trong thời Nam Bắc chiến tranh (ở Mỹ), chính sách của Lincoln có nhiều điểm sai lầm, Horace Greely mỉa mai, chỉ trích kịch liệt. Lincoln “mũ nỉ che tai” có thèm sửa đâu. Cũng may cho Greely vì ở Mỹ có dân chủ kha khá. Chớ phải ở xứ lạc hậu nào thì chắc có người ngồi tù rồi. Vì biết lòng người nham hiểm, nên Lưu Huyền Đức giả ngu, giả dại lúc lọt vào tay Tào Tháo. Ngày ngày Huyền Đức làm cỏ, trồng rau. Nghe Tào Tháo nói trong thiên hạ, anh hùng chỉ có Tào Tháo và mình, Huyền Đức giả bộ hoảng hồn, đũa đang cầm trong tay bỗng rơi xuống đất, viện lý là nghe sấm nổ ngoài trời mà thất kinh. Nhờ vậy, Huyền Đức khỏi nanh vuốt của Tào Tháo. Trong cuốn Chạm trán với đời, tôi nói bạn nhiều khi không làm ác với ai hết, nội một việc ta sống thiện, ta có tài hơn người cũng có thể cho ta bị hại. Bóng tối lúc nào cũng chực chờ bủa quanh ánh sáng. Có cái hơn người mà không “thủ chi dĩ ngu” lại đem khoa trương sái mùa mà rước họa.



4) Lầm lỗi mà cứ ngoan cố phản đối, giành phần phải cho mình.

Nhờ khéo “mềm lưng” hay sao đó tôi làm lớn. Bữa nọ đậu xe chỗ cấm, bị cảnh sát phạt, tôi sừng sộ mắng lại tại sao tôi làm lớn mà cảnh sát phạt? Viên cảnh sát không ngán, cứ phạt. Bạn cùng đi xe với tôi thấy tôi vừa bị phạt vừa bị giằng co lôi thôi, trễ công việc, bước xuống xe nói phải quấy vài lời với viên cảnh sát. Ông này đổi giọng phân trần: “Nào tôi định làm khó dễ quý ông đâu. Biết quý ông có phận sự, tôi chỉ nhắc rằng ở đây không được đậu xe, quý ông nên xích lại đằng kia. Thế thôi. Tôi giận là tại ông ấy mắng tôi. Thôi được rồi. Quý ông đi đi”. Đấy! Bạn thấy không, kết quả do tôi ngoan cố, hách dịch và do bạn nhận lỗi, mềm mỏng.



Bài học lúc còn thơ trong câu ngạn ngữ pháp: “Lỗi tự thú đã được tha phân nửa”. Bài học ấy ai mà không biết, song không phải ai cũng thực hành. Thì cũng tại thấy tự ái mà người ta ai cũng ngại ngùng, khó chịu khi nhận lỗi. Ai biết thắng được khó khăn ấy, chiếm được lòng khoan dung dễ dàng. Elbert Hubbart tác giả bức Thông điệp gởi cho Garcia là một danh sĩ lỗi lạc, có lần bị một độc giả viết thư chỉ trích bằng những lời lẽ ít êm đẹp. Bạn biết ông phản ứng ra sao không? Viết thư nhận lỗi và mời độc giả lúc rảnh đến nhà ông chơi để thảo luận thêm. Đọc thư ông, độc giả ấy còn giận ông nổi không bạn? Ở nước ta mấy chục năm trước, Phan Văn Hùm làm một cử chỉ đẹp: Bị chỉ trích về một bài báo, ông làm mấy vần thơ trong đó thú nhận vốn Hán văn của ông là vốn tự học nên bị lỗi lầm. Và lời xin lỗi của ông làm cho kẻ chỉ trích ông thành bạn của ông. Không phải loài người chỉ mềm lòng khi được xin lỗi đâu bạn, từ bậc thiêng liêng đến phàm nhân đều đầu hàng trước “ma lực” của sự thú lỗi chân thành: Muốn nắm nhân tâm, tại sao bạn không dùng “mật pháp” đó?



5) Nói như búa bổ vào mặt người ta.

Bạn đọc giùm tôi ba lần câu này của Wilson: “Nếu bạn cung tay lên nói chuyện với tôi thì bạn yên trí rằng tôi cũng sẽ gởi lời lại bằng hai quả đấm”. Bạn có thấy chất triết lý thâm trầm về xử thế thấm lan dần trong tâm hồn bạn không? Thì vậy đó bạn. Mũi tên bắn vào tự ái thường dội ngược lại người bắn. Lửa đang cháy phải xịt nước chớ đừng chế xăng. Mấy ngàn năm trước, Lão tử nói: “Thiên hạ nhu nhược ư thủy, nhi công kiên cường giả mạc chi năng thắng”. Đức Giêsu thể hiện triết lý đó bằng hành động cao cả. Lúc bị quân thù bắt đánh, khạc nhố vào mặt, ngài làm thinh. Áp dụng nhu thuyết vào chính trị, Gandhi đề cao bất bạo động để trừ bạo động.



Ai cũng dễ nổi sóng. Nghe ai chọc tức, Phật cũng khó ngồi yên, điều đó đúng cho bọn côn đồ cũng đúng cho người trí thức chỉ có học vấn mà thiếu tâm luyện. Phải biết tự chủ lắm người ta mới biết dụng nhu trị cương. Người chí cực điềm đạm mới đủ can đảm mềm mỏng khi bị kẻ khác nói nặng. Họ biết rằng “ăn miếng trả miếng” không lợi gì cả. Vẫn biết có thứ giận thánh: Irasancta như trong trường hợp Đức Giêsu dùng roi đánh bọn con buôn không tôn kính đền thờ Giêsusalem. Vẫn biết như vậy. Song trong giao tế hằng ngày, ai không mềm mỏng, trăm việc bất thành đến gần trăm. Ai không có kinh nghiệm rằng trong thời qua, thiếu gì việc tại mình nóng bậy một chút mà hỏng. Ai không biết rằng muốn bắt ruồi phải dùng mật chớ không dùng giấm. Vậy mà người ta hay làm ngược lại. Người ta đó có tôi và bạn. Ta cứ tưởng rằng lý trí thắng lý trí nên ta thích lý luận, thay vì mềm mỏng thì lấy lý nhét vô óc người ta. Mà trong thực tế chính tim thắng óc, chính tình cảm bẻ gãy lý trí. Biết bao người làm nên nghiệp cả đều nhờ theo nhu đạo đức là bên ngoài mềm mỏng mà bên trong vận dụng ý chí mãnh liệt. Văn Vương bị vua Trụ bắt giam, xẻ thịt con Văn Vương là Bá Ấp Khảo làm mắm cho Văn Vương ăn. Văn Vương ăn vì nhẫn nại. Câu Tiễn lọt vào tay Ngô Phù Sai quỳ mọp, khúm núm. Trương Lương ba lần lượm dép, mấy lần chờ đón ông lão để lãnh ba quyển sách dạy an bang tế thế. Cả hai đều là những chí nhân thờ chữ Nhẫn. Socrate là bậc đại trí của nhân loại, lại bị “ông tơ bà nguyệt” trói cổ dưới tay một mụ vợ mất dạy, lấy sự hành khổ của vợ làm trường dạy mình thành thánh nhân. Thích Ca dạy lấy từ bi thế báo oán. Chúa Giêsu dạy hãy hiền lành và khiêm tốn trong lòng. Thưa bạn. Phải lắm! Nhu mới thắng Cương. Bạn không lầm đâu. Ôn tồn dịu ngọt sẽ thắng tất cả. Xin bạn thuộc lòng giùm tôi câu này của Napôlêông: “Chỉ có hai thế lực trên đời: Thanh gươm và tinh thần. Rút cục tinh thần đánh bại thanh gươm”.



6) Kích bác cho người ta chống mình ngay từ lúc đầu bằng những tiếng “Không” hằn học.

Trong cuốn “Influencing, Human Behavior”, Giáo sư Overstreet nói khi người ta đáp “không” rồi, lòng tự phụ bắt buộc người ta giữ quyết định ấy mãi và rất khó làm cho người ta đổi ý. Điều này càng đúng cho người làm lớn. Họ lỡ nói như vậy rồi. Họ tự ái, cho rằng đổi ý bị mất mặt. Biết tâm lý cố hữu ấy của con người hay không mà nhiều khi muốn dẫn dụ kẻ khác ta hớ hênh hoặc lo nói cho thỏa thích mà để họ chống đối ta ngay khi ta mới định thuyết phục họ. Ta có tự mâu thuẫn không. Ta muốn họ đồng ý với ta chớ phải ta định chứng minh cho họ thấy rằng ta học giỏi khoa lý luận đâu. Ta chọc tức kẻ khác khiến họ phản đối ta rồi thì ta đem năm bảy xe lý luận của Kant, Descartes đến đổ lên lưng họ chưa chắc phục lý ta. Ta phải thắng họ bằng con đường khác: bằng phương pháp của Socrate. Mẹ của Socrate là một bà đỡ đẻ. Trong tư tưởng Socrate bắt chước mẹ ở chỗ không “đẻ” ngay sáng kiến của mình mà giúp kẻ khác “đẻ”. Phương pháp của ông là đặt ra câu hỏi để cho đồ đệ hay đối phương đáp “Phải”, đáp “Có”. Dần dần, sau cùng họ nói ra điều Socrate muốn họ theo. Ngạn ngữ Trung Hoa nói: “Dục hành viễn, tất tự nhi”, nghĩa là đi xa phải đi từ nơi gần. Ta đừng muốn kẻ khác đồng ý trọn vẹn với ta liền. Mới quá, họ nghi ngờ. Vả lại bụng tự ái cũng cản họ làm như vậy. Biểu họ nghe mình thế này, thế nọ là tỏ ra “sứ” của họ rồi mà có ai thích ai lên mặt thầy mình bao giờ. Chỉ có cách duy nhất đế kẻ khác làm theo ý mình là mớm ý cho họ, giúp họ cưu mang sáng kiến, tự ý đề ra sáng kiến và thực hiện nó.



7) Chặn họng không cho người ta nói.

Bạn muốn dẫn dụ một người đang tức giận bạn phải không? Bạn làm cách nào?



Thế thường là chúng ta hành động như vầy: Ta lo phân bua, lý luận, dành phần phải về mình. Họ mới nói vài câu, ta cướp lời họ, kể lể tiếp, đem đủ thứ bằng chứng đổ lên đầu họ cho họ thấy rằng họ quấy. Trong cơn tan bành ở cái thế ăn thua đủ với ta, họ có thèm nghe ta nói phải quấy gì đâu. Bụng dạ họ đang như là nồi nước sôi đang cần xả hơi kia mà. Họ có lý của họ. Họ thèm bộc bạch tâm sự. Bạn đã nhớ chứ, đại gian đại ác như Tào Tháo mà cứ bảo mình làm nhân làm nghĩa. Học hành cao đến đâu là một chuyện, mà nô lệ tự ái của mình là một chuyện khác. Ta hãy ý thức điều đó để cho đối phương bày tỏ tâm can của mình. Có thể lầm lắm mà tại sao đối phương không thể có lý. Tìm chân lý phải có thái độ chân thành khiêm tốn.



Để đối phương nói chẳng những ta quý trọng quyền phát biểu cảm tưởng của họ mà còn học nơi họ những điều hay. Muốn nói một mình, thì mình nói mình nghe chứ ai cảm phục mình khi họ tức như nước sắp vỡ bờ. Ta tự phụ là khôn hơn người ư? Tự phụ chỉ làm thiên hạ ghét. Vả lại xét cho cùng như Dale Carnegie nói ta chỉ là phàm nhân. Giữa khôn và ngu chỉ hơn nhau tí chút iode trong hạch giáp trạng tuyến thôi. Bởi vậy những đại trí thức thường khiêm tốn là phải. Socrate bảo chỉ có một điều là mình không biết gì hết. Khổng Tử thì dạy biết nói biết. Không biết thì nói không biết. Trong những ngày tàn, đại triết gia Thomas DAquin nhìn đống tác phẩm khổng lồ của mình nói: “Đó là đồ rơm, đồ rơm!” Bạn phàm minh không lý gì tự phụ hả bạn.



8) Cứ lên mặt dạy khôn người và cao ngạo với sáng kiến của mình.

Lúc Wilson làm Tổng thống, có một sĩ quan ảnh hưởng mạnh nhất trên các quyết định của ông. Đó là đại tá House. Ông dùng bùa phép nào vậy? Bùa phép của ông như vầy: Khi muốn Wilson thực hiện điều gì, ông lựa cơ hội thuận tiện, nói sơ qua điều ấy. Nói sơ qua thôi, House không thuyết phục. Bạn nhớ kỹ nhé. Ông chỉ gieo giống sáng kiến nơi đầu óc Wilson. Khi Wilson đem sáng kiến bàn với ông, cho ai khác thì chắc vỗ tay reo là mình đã đề nghị như vậy. House không ngốc thế ấy, ông phớt tỉnh, chú ý nghe Wilson nói và góp thêm ý kiến để sáng kiến thành kế hoạch. Đó, “bùa phép” của House như vậy đó. Biết bao nhiêu người nằm trong cơ quan đầu não bao vây thủ lãnh mà không ảnh hưởng được thượng cấp chỉ tại không hành động như House. Không phải họ kém mưu kế mà tại họ trình bày mưu kế như bửa óc thượng cấp ra nhét túi khôn vào đó. Họ quên rằng càng làm lớn càng dễ tự cao tự đại. Đâu phải hễ ai làm lớn rồi ai cũng là một Lưu Bị thích có một Khổng Minh, một Lưu Bang thích có một Tử Phòng, một Lê Lợi thích có một Nguyễn Trãi hay một Nguyễn Huệ thích có một La Sơn Phu Tử. Mà chắc các quân sư này cũng không theo con đường nào khác hơn là con đường của House đối với Wilson. Tâm lý con người là tâm lý muôn thuở. Cái gì người ta thấy của mình thì người ta quý trọng hơn. Bạn đừng định đổi luật ấy của con người. Muốn ảnh hưởng ai đừng đốt đèn tài sáng quắc làm họ chóa mắt. Lại càng không nên coi họ như học trò, mà phải gieo giống sáng kiến cho nó trổ hoa kết quả trong lòng họ. Bạn nhớ gieo giống chứ không phải làm nghịch lại nhé.



9) Thi ân rồi kể công để ân biến thành oán.

Ân mà ban với lòng tốt kia còn có thể sinh thù để oán, huống hồ kể công để ân thành oán. Bạn ngạc nhiên ư? Bề trái của ân chua chát lắm mà đúng như vậy từ cổ chí kim.

Bà Phiếu Mẫu thấy Hàn Tín đói cho ăn cơm, Hàn Tín nói sau này có lúc tôi sẽ đền ơn bà. Nói như vậy Hàn Tín tự nghĩ phàm đại trượng phu mà ăn xin bát cơm thế này chỉ là một việc qua đường. Việc của đại trượng phu là việc cả. Nên nghiệp cả rồi sẽ thanh toán ân chớ không chịu mang ơn mãi. Bà Phiếu mẫu biết tâm lý mắng lại rằng tại thấy đói mà cứu khổ cho chớ có thèm được trả ơn đâu.



Lúc Huệ Tử làm tướng nước Lương, Trang Tử định đến thăm. Huệ Tử nghe ai sàm tấu nói: “Trang Tử đến để giành chức quốc tướng với ông”. Bạn thấy nghẹn ngào vì chua xót không?



Bạn chắc còn nhớ hài kịch “Chuyến du lịch của Perrichon” của Eugène Labiche chớ? Perrichon có đứa con gái đẹp, Armand và Daniel ngắm nghé bóng hồng ấy. Armand ba lần làm ơn cho Perrichon. Daniel thì được Perrichon thi ân. Thế mà oái oăm thay, Perrichon không gả con gái cho Armand mà lại gả cho Daniel thụ ân mình. Não nề không bạn, Armand thi ân mà vô tình làm Perrichon tự ái. Perrichon cưỡi ngựa té, Armand cứu là làm cho ông thấy rằng ông cưỡi ngựa dở. Ông bị kiện thưa, Armand cứu là làm cho ông thấy là ông sai lầm. Ông bị thách đánh gươm, Armand cứu là làm cho ông thấy rằng ông hèn. Kẻ làm cho mình thấy “dở”, “lầm” và “hèn” thì mình ghét. Perrichon nghĩ như vậy, và đã ghét mà còn chọn làm rể à?



Daniel giả bộ té xuống hố để Perrichon vớt lên là tạo cơ hội cho ông này tỏ ra hiệp sĩ, anh hùng. Chàng chiếm được cảm tình của Perrichon, và chàng trai nào mình thích thì gả con gái cho: Perrichon cho vậy là phải.



Viết đến đây tôi phải cứng bút lại trên tay. Tôi không còn biết nói sao với bạn. Tình đời như vậy đó. Trong Lục Vân Tiên, bạn thấy Kiều Nguyệt Nga đáp lại tiếng gọi con tim chàng họ Lục vì “Chữ ân lại buộc chữ tình lây dây”. Trong thực tế nhiều trường hợp xảy ra như vầy: Chàng A theo đuổi nàng B. Thật tình thi ân cho nàng, có thể sau cùng bị nàng trách là tạo cơ hội cho nàng xài lớn, thà để nàng túng thiếu hay hơn. Rồi trong khi chàng C cũng đeo đuổi nàng mà đểu giả. Viện lý là nghèo không lo cho nàng được gì, nàng thấy vậy thương, lấy của chàng A nuôi chàng C, trong lúc chàng C lạm dụng tình mù quáng của nàng để cầm chân nàng mà dòm ngó những giai nhân khác, giàu có, học vấn cao hơn.



Ân đẻ oán là vậy. Còn quên ân thì trong đời sao kể xiết. Đức Giêsu chữa 10 người khỏi bệnh hủi. Chỉ có một người sau khi lành bệnh trở lại cảm ơn Ngài. Chua xót nhất là người ấy không phải là người đồng hướng với Ngài. Biết bao cha mẹ “Nuôi con như biển hồ lai láng” về già kêu trời không thấu vì con trai sợ vợ, con gái theo chồng bỏ cha mẹ cô đơn, nghèo túng.



Tôi chưa nói với bạn vô số chính trị gia lúc sinh tiền ngồi trên chóp bu quyền lực làm không biết bao nhiêu công, ngã lăn ra chết có khi bị coi như một tội nhân ghê tởm.



“Ân” “nghĩa”, thưa bạn ban bố với lòng quảng đại còn như vậy huống hồ thi ân rồi kể công. Thi ân đã chạm tự ái người ta, kể công làm cho tự ái càng tan nát thêm. Ân do đó thành oán cay oán đắng.



Người xưa bảo: “Thi ân mặc niệm còn thụ ân mạc vong”. Tại vì làm ơn hãnh diện nên nhớ mà thụ ân tự ái nên quên. Biết chân lý ấy, khi làm ơn cho ai bạn làm vì đức bác ái và chuẩn bị lòng bao dung thì mới khỏi nghẹn ngào vì lòng vong ơn bội nghĩa muôn thuở của con người.



10) Lúc nào cũng chủ quan, bất kể quan điểm kẻ khác.

Muốn dẫn đạo người mà cứ khư khư chủ quan, bất cần đếm xỉa đến quan điểm kẻ khác là muốn việc phi lý. Tôi làm bậy, bạn có quyền mắng tôi. Song bạn đừng quên tôi có lý của tôi. Ngồi ăn trong một nhà hàng sang trọng, bạn thấy từ ngoài cửa dìu nhau vào một cặp uyên ương. Nàng đẹp lộng lẫy, còn chàng trai nhỏ con làm bạn tưởng đâu thứ người ở gốc lác gốc đưng gì mới lên. Bạn chê thầm nàng lọt tròng té nổ. Bạn có biết đâu nàng mê chàng không vì diện tướng bên ngoài mà vì chàng tài cao, ruộng đất cò bay thẳng cánh hay có khi vì lỡ kẹt “cái gì đó” mà trở thành duyên phận. Chuyện đời đa diện mà mình ngó vừa bằng cặp kính màu chủ quan vừa nhìn chỉ một phía nào thôi thì sao khỏi lầm được. Ta thường hay mắc cái tật đòi ai cũng nghĩ, cũng thích, cũng làm như mình. Tật thật kỳ cục. Ta là ta còn thiên hạ là thiên hạ. Bạn là trí thức, tôi là một gái kém học. Bạn trách tôi sao không mê bằng cấp của bạn lại đi mê kẻ giàu nhưng ít học. Bạn có thấy bạn vô lý không?



Tôi thi rớt đã oán ghét học hành rồi lại thêm mặc cảm học dở. Tôi thấy giữa bạn và tôi chênh lệch với nhau về tinh thần, tôi không thích. Bạn có giá trị tinh thần thế nào mặc kệ bạn. Còn tôi, tôi mê ai đáp đúng đòi hỏi của tôi. Bạn khinh bỉ tôi ư? Tùy bạn. Mà tôi tưởng chuyện đời vô số như vậy. Mỗi người có quan niệm sống, quan điểm lý luận riêng. Bạn đừng bắt bọ hung làm chim phượng hoàng hoặc ngược lại. Muốn chinh phục ai hay ít ra đừng tạo họ thành thù, bạn hãy dẹp cặp kính màu chủ quan đi, tập đặt mình vào địa vị kẻ khác. Xử thế như vậy bạn sẽ bớt bực tức, thấy đời đẹp hơn và có thể “đắc nhân tâm” hơn.



11) Ai cũng thèm được thương hại và thèm thiện cảm. Cứ phớt lờ đi.

Nhiều đứa trẻ chạy chơi đụng u đầu, tét mặt chạy về mẹ vừa khóc hu hu vừa kể lể. Nó cần được mẹ nó vuốt ve nghe nó phân bua rằng nó không làm cái gì hết, không lỗi gì ráo, tại người này, vật nọ làm đầu nó mọc sừng và mặt nó rướm máu như vậy. Bạn chỉ tưởng có con nít mới thèm khát thương hại và thiện cảm như vậy sao? Người lớn cũng y như vậy, thưa bạn. Tôi quen bà chủ một nhà hàng nọ. Cả chục lần gặp tôi bà đều cầm lại kể chuyện làm ăn của bà. Bà to con, tiếng rổn rảng nói thao thao bất tuyệt. Nhìn bà, tôi thầm cảm ơn ông tơ cho tôi khỏi cùng bà kết duyên. Ớn bà quá. Bà nói nào bà buôn bán lỗ, bà bị phạt thuế, bà bị gian lận. Bà lôi cả chuyện con dâu, thằng rể bất hiếu bất thảo ra buộc tôi nghe. Tôi lóng tai nghe thì bà cho là vạn hạnh lắm. Bà bảo rót thêm nước trà cho tôi uống để ngồi lâu nghe bà than thân trách phận. Mới đầu tôi bực, mà suy nghĩ lại thì không phải chỉ một mình bà thấy đói khát bộc bạch tâm sự. Chính Lincoln trong thời làm Tổng thống đã nhiều lần mời một ông bạn già ở một tỉnh xa đến không phải để bàn quốc sự gì hết mà để tâm sự. Người có nỗi u ẩn ưa gặp người tri kỷ để bày tỏ. Nói ra cho tâm hồn vơi đi bớt trầm luân. Còn nói chi những người bị chỉ trích, bị tố cáo. Họ làm sao ăn ngon ngủ yên. Họ chịu không nổi cảnh cô độc. Sông sầu biển thảm trong họ thúc đẩy họ tìm người biết nghe họ để họ phân trần, phân bua.



Ngay những người chỉ trích ta, mỉa mai ta nặng nề nữa, thưa bạn, cũng có kẻ hối hận thú lỗi giao hảo lại với ta nếu ta chịu khó gặp họ, xin lỗi hay chấp nhận lý phải của họ. Bạn đừng tưởng chỉ thường nhân mới cần người hiểu mình. Đọc “Phúc âm thư”, bạn không thấy chúa Giêsu tỏ ra thích cách riêng môn đồ độc thân là thánh Gioan, kẻ thường gần gũi tâm sự với ngài sao. Vậy muốn nắm lòng người, bạn phải đáp thành thực lòng thèm khát thương hại và thiện cảm của kẻ khác.



12) Không nghĩ kẻ khác tốt mà nghi ngờ, đố kỵ họ.

Trước hết, tôi đồng ý với bạn trong xã hội có ác nhân. Có nhiều con quái vật không tòa án khám đường nào trị nổi đâu. Cũng có những bụng dạ lai quỷ coi luân lý như sọt rác và chuyên môn bịp. Bạn phải đề phòng những hạng người đó. Không thể lạc quan với họ được đâu. Nhưng chắc tôi nói điều này bạn không cãi: Đó là nhiều tên đại ác còn chút lương tâm ít ra đối với một giới nhỏ hẹp nào đó. Gian ác đầy đầu mà còn chút tia sáng ấy thì đa số loài người ai làm cái gì cũng hay nghĩ đến được một cái gì cao cả đó. Pierpont Morgan chí lý khi nhận xét rằng con người hành động thường bởi hai nguyên do: Nguyên do “chìm” tức một ẩn ý nào đó và nguyên do “nổi” là lý tưởng chân, thiện, mỹ, v.v...



Có thể khi hành động người ta nhắm nguyên do thứ nhất. Đó là nguyên do chính. Song dù biết vậy ta không cần nghĩ đến chi mà để ý nguyên do gọi là cao cả, tốt đẹp. Ta nhấn mạnh nguyên do này để kích thích họ. Ta thường có thói quen tấn công ngay mặt mà ít khêu gợi kẻ khác làm cho một việc tốt nhờ đó việc xấu không xảy ra. Nhiều nhà giáo dục cấm con trẻ mê ăn háo uống mà ít nhà giáo dục cho trẻ thấy ăn uống chừng mực đáng khen, có lợi.



Chơi với một người bạn có nhiều tính tốt mà lọt vài tật xấu, ta hay dựa vào tật xấu ấy để nghi ngờ, đố kỵ. Xét cho kỹ thì ta cũng có thể như bạn ta. Song đối với “thằng tôi” của mình nếu ta khoan dung bao nhiêu thì đối với kẻ khác ta nghiêm khắc bấy nhiêu. Thái độ ấy thường làm cho kẻ đã xấu trở thành xấu hơn và bạn trỏ thành thù. Ta nên theo lời khuyên của Dale Carnegie mà xử đối một cách khác, xây dựng hơn, đó là gợi ở kẻ khác tình cảm cao thượng để họ nương theo đó mà hành động tốt, mà từ thù thành bạn.



13) Làm cho người ta chán ngấy toàn bằng những lý thuyết khô khan và con số nhức óc.

Nhìn hai thớt voi đứng sừng sựng trên mui xe hiệu Chrysler ai không tin rằng loại mui xe ấy chắc. Người bán máy lạnh muốn cho người mua tin rằng máy chạy êm, đánh một que diêm xòe lửa, trong khi máy chạy vẫn nghe diêm quẹt cháy.



Nhiều nhà buôn khỏi sạt nghiệp nhờ biết lợi dụng con chuột hoạt họa Mickey để quảng cáo hàng. Các phương pháp trên đây chính truyền thanh và truyền hình đã làm, tức là đập vào thính giác, thị giác cùng óc tưởng tượng con người. Trong nhiều trường hợp muốn dẫn dụ ai, người ta dùng toàn lý thuyết và con số sẽ khó thành công bằng vận dụng âm thanh, hình ảnh. Ngay những người rất quen về đời sống tinh thần cũng lười suy nghĩ nhất là ở thời đại có đủ thứ chuyện làm cho người ta mệt như ở thời đại chúng ta. Nếu không nghe radio mà bắt bạn mỗi ngày đọc một xấp tin tức thì tôi không tin bạn ngày nào cũng đọc siêng năng. Nếu không xem truyền hình mà bắt bạn nghe thuật lại “Phim viễn du” thì chắc bạn ngáp dài. Vậy trong thuật dẫn đạo, bạn tác động trên trí hiểu kẻ khác mà đừng quên kích thích óc tưởng tượng của họ nữa.



14) Ỷ tiền bạc, quyền thế mà bất kể chí tiến thủ của kẻ khác.

Trong việc điều khiển người, vẫn biết “tiền” và “quyền” là hai yếu tố huyết mạch, song trong nhiều trường hợp ngoài hai yếu tố ấy còn có một động lực khác đó là chí tiến thủ. Lãnh đạo mà biết chọc cho khí ấy tức lên thì sẽ được nhiều hiệu năng ngoài sức tưởng tượng.

Roosevelt vừa thắng quân Y Pha Nho ở Cuba về, được bầu làm Thống đốc. Có kẻ nhao nhao lên phản đối, bảo rằng ông là kẻ ngụ cư, chỉ là tay võ biền không xứng làm Thống đốc. Ông nghe vậy thối chí, định rút lui. Platt nổi giận thách ông một câu: “Anh hùng núi San Juan mà nhát như thỏ vậy à?” Roosevelt bị chọc tức khí cương quyết đấu tranh và từ cái đà đó ông tiến vô tòa Bạch ốc. Tên ông ngày nay còn là tấm bia trong bao triệu người dân Mỹ. Ai trong mình cũng có động lực ẩn tàng núp dưới hình thức danh dự hay thể thống. Chọc ngay động lực thì “người hùng” của họ xuất hiện. Harvey Firestone nói tiền bạc không đủ nắm người tâm huyết, phải tạo cơ hội để họ chứng minh giá trị của họ. Nhờ bí quyết này mà hồi làm Thống đốc Nữu ước, AI Smith thúc đẩy được Lawes làm Giám đốc khám đường Sing Sing. Lawes biết không ai ngồi ghế Giám đốc đó mà thọ hết nên từ chối. AI Smith không năn nỉ, không mua chuộc, không gây áp lực. Một người như ông hành động khác, ông nói nghiêm trang với Lawes rằng: “Tại vì ghế đó chông gai, nên tôi mới cần một người như ông”. Lawes thấy mình hăng lên, muốn “thí nghiệm” khả năng. Kết quả là Lawes làm Giám đốc khám Sing Sing lâu nhất và nổi danh về các phương pháp cải huấn tù nhân. Bạn thấy không, hiệu quả của lá bùa tức khí.

15) Trắng nói đen, đen nói trắng làm cho chính người thân yêu nhất cũng điên đầu.

Nếu bạn muốn ai cũng phản đối mình, thì đây là cách chót, rất thần hiệu: Lường gạt. Ngày xưa Voltaire bảo nói dóc, nói dóc mãi, sau cùng còn lại một cái gì. Tôi không biết “cái gì” của ông già Voltaire là cái gì, song tôi biết “cái gì” đó là người nói dối không còn ai tín nhiệm nữa.

Nhìn người nói dối, bạn không còn biết dựa vào đâu để nói chuyện. Họ có một cuốn “tự điển” riêng trong đó ngôn ngữ không theo nghĩa điển chế thông thường. Họ vận dụng đủ thứ mánh khóe để ngụy trang sự thật. Lưỡi búa lường gạt không tha ai, kể cả người yêu của họ. Nếu nói dối là một lỗi biệt lập nghĩa là thỉnh thoảng vì lý do nào đó mà nói dối thì còn sửa được, còn tha thứ được.

Còn nói dối do bản tính quỷ quyệt tự nhiên, nói dối từ trong đường gân ống máu thì thôi, không sao chịu nổi và không dễ bị hoán cải.

Hòa bình nhân loại bị hăm dọa đời này sang đời kia cũng tại ngôn ngữ trong các hòa ước đổi trắng thay đen.

Biết bao lương tâm bị con mắt Cain, tức lòng hối hận giày vò chỉ tại phản lại đức thành thật.

Đa số gia đình tan vỡ tại đâu, nếu không do giả dối.

Có thể ai cũng giả dối ít nhiều song chắc chắn bất cứ ai cũng quý mến người thành thực.


Trong “thập điều” của Công giáo có điều thứ 8 cũng giống một trong ngũ giới của Phật giáo là “cấm vọng ngữ”. Sự kiện ấy chứng minh rằng đức thành thật vô cùng quý báu và tối cần cho con người.


Gandhi lúc còn thơ ấu nói dối, mẹ buồn. Để cam kết với mẹ rằng không nói dối nữa, ông cầm cục than lửa trong lòng bàn tay đến khi cục than lửa nguội, về sau, trong thời gian tranh đấu, có lần ông nói vết thương trong lòng bàn tay ông là hình ảnh của mẹ ông và nó như “thần hộ mệnh” gìn giữ ông luôn trong vòng thành thật.


Gương ấy được mệnh danh là “Lương Tâm Nhân Loại”, có làm bạn cảm động không? Khi bị tra tấn, Đức Giêsu nói với quân dữ: “Nếu tôi nói thật, sao quý ông đánh khảo tôi?” Và cả đời Người hễ mở miệng ra giảng là bắt đầu bằng mấy tiếng “Quả thực, quả thực tôi nói cùng anh chị em...”


Vua Lỗ bảo Nhạc Chính Tử đem cái đỉnh giả nộp cho nước Tề. Nhạc Chính Tử bảo sao không đem đỉnh thật, vua Lỗ nói quý đỉnh ấy quá. Nhạc Chính Tử tâu: “Nếu nhà vua quý đỉnh ấy thế nào thì tôi quý chữ Tín của tôi thế đó”.


Lúc còn nhỏ có lần Washington chặt phá cây quý của cha ông trồng. Cha biết được giận dữ, ông khoanh tay lại thành thực xin lỗi cha. Abraham Lincoln nói ta có thể gạt nhiều người một lần, gạt một người mãi mãi nhưng không thể gạt hết mọi người. Mặt nạ của giả dối tuy đa dạng song rất bở, còn lòng chân thành nhiều khi xem ra thua thiệt mà rất bền vì nó là nền tảng của giá trị con người.

Hoàng Xuân Việt
cantho

->Đọc thêm...

9.9.14

TÔI LÀ AI ?


Đề kiểm tra học phần Văn Học Châu Á của tôi chỉ vỏn vẹn ba từ “Bạn là ai?”. Đó là một băn khoăn và cũng là vấn đề mà giới trẻ ngày nay cần quan tâm. Khi con người trưởng thành, sẽ có rất nhiều thắc mắc được đặt ra. Trong số đó, có những câu hỏi hết sức nan giải: Bạn là ai? Trả lời câu hỏi “Tôi là ai”, một câu hỏi tưởng chừng dễ, nhưng để tìm ra một phương án trả lời đúng đắn và khôn ngoan lại là một vấn đề khác, rất khó. Và khó có thể thỏa mãn được người đã đặt ra câu hỏi đó. Để làm sáng tỏ được vấn đề này, cần phải có một sự trải nghiệm không những quá khứ, mà ngay cả hiện tại và tương lai.

“Tôi là ai” liên quan đến một phạm trù triết học nói về con người, sự thắc mắc ở đây cũng là sự tự lý giải tự nhiên và xã hội, trong đó có con người. Trả lời câu hỏi đó, chúng ta lại phải đặt ra hàng loạt câu hỏi khác bao quanh nó, và nhiệm vụ của ta là phải trả lời hết những câu hỏi đó. Hiện tại ta đang làm gì? Quan niệm sống của ta ra sao? Mục đích sống của bản thân như thế nào? Và lý tưởng của ta là gì trong cuộc sống hiện đại này?…

Tôi là một chỉnh thể vừa độc lập, vừa phụ thuộc vào thế giới bên ngoài. Bản thân không ngừng phát triển, cả về tri thức lẫn ngoại hình, tiếp tục trau dồi những cái mới, cái tiến bộ để bắt kịp thời đại. Sinh tồn trong xã hội ngày nay không phải dễ, đất chật người đông, cơ hội việc làm khó khăn, từ đó đòi hỏi có những con người thật sự tài năng. Vậy tôi nằm ở phần trăm thứ bao nhiêu trong cơ hội đó? Thật nhỏ nhoi và mong manh! Gắn liền với hiện thực đó, cần có quan niệm sống lành mạnh và phù hợp. Sống không chỉ lợi cho bản thân, mà chữ nhân phải được đặt ở vị trí cao hơn cả. Sống không lợi dụng, không sống giả dối, đặc biệt là giả dối với chính bản thân mình, điều đó thật đáng kinh tởm. Điều quan trọng là phải biết tự thân vận động, không “há miệng chờ sung”, sống là phải biết phấn đấu không ngừng. Xã hội ngày nay có rất nhiều tấm gương vươn lên hoàn cảnh để phát triển, tự hoàn thiện chính mình. Đó là những con người không lành lặn, nhưng vẫn chiếm lĩnh cả tri thức và cuộc sống.

Đặt ra những quan niệm sống như thế, thì cần có mục đích đúng đắn và phù hợp với cả quan niệm của xã hội. Người ta nên sống vì hai mục đích lớn và quan trọng,thứ nhất vì bản thân: có thể đem lại sự thành công cả về vật chất tiền của và cả tinh thần, không ai trong xã hội này sống mà không nhờ của cải vật chất, dù đó là thứ bé nhỏ như thế nào. Thứ đến vì những người xung quanh, trong đó có gia đình, bạn bè và người thân; đem lại sự hãnh diện, sự tự hào và cả niềm vui cho những người xung quanh, góp phần làm cho xã hội ngày một phát triển và tươi đẹp hơn. Muốn được như thế, đặc biệt đối với một người “quân tử”, cần có một lý tưởng cao đẹp trong thời đại mới này, không phải làm việc được người đời biết đến vì điều lạ, nhưng phải do chính năng lực, tài năng và bản lĩnh của bản thân, đó mới chính là điều làm cho con người thấy thỏa mãn.

Khi đề cập đến “Tôi là ai?” thì cái “bản ngã” xuất hiện liền kề, những vấn đề nêu trên chỉ là ý kiến một chiều trong một cái tôi, nhưng trong xã hội hiện tại, có những cái xã hội đã làm được, nhưng bên cạnh đó, cũng có những điều chưa làm tròn nhiệm vụ. Xã hội đâu đó vẫn còn những bất công; chúng ta góp phần làm cho xã hội xanh, sạch và đẹp nhưng bên cạnh đó vẫn còn tràn lan sự ô nhiễm môi trường; rồi ngay cả số vụ tai nạn giao thông không ngừng tăng, thậm chí ngay trong tháng an toàn giao thông… Đó là những cái tuy nhỏ nhưng rất cụ thể cho một xã hội chưa hoàn thiện. Chính vì thế, là những người trẻ, một bộ phận làm nên xã hội, là những hạt giống tương lai của đất nước, hãy ra sức để xây dựng một xã hội văn minh, giàu đẹp.

Tôi – liên quan đến tất cả những gì tác động đến con người, thuộc về thế giới xung quanh ta. Từ đây, cái tôi cũng không còn đơn lẻ, nó đi đến cái ta để hòa nhập. Con người với những mối tương giao rộng lớn, từ cái riêng đi đến cái chung. Theo quan niệm văn học cổ, con người là một bộ phận của vũ trụ, con người phải luôn tồn tại trong mối quan hệ tương quan mật thiết với vũ trụ, không có sự tách rời con người thành một cái tôi độc lập như văn học hiện đại. Hay chúng ta có thể bắt gặp trong văn học, phạm trù cái đẹp thuộc về cái tôi khép kín, lạc lõng như một ốc đảo, hay cái tôi cực đoan cự tuyệt giá trị cao quý mà “cái ta” thừa nhận. Phạm trù cái tôi thuyết minh cho sự tiến bộ, đồng thời xác định cá tính sáng tạo trong văn học. Từ hai ví dụ trên, chúng ta thấy được cái tôi và cái ta hòa hợp, nhưng đôi lúc cũng đấu tranh với nhau, từ đó, chúng ta thấy rõ trong bản thân một con người, đôi khi cũng có những suy nghĩ, việc làm trái ngược, đó cũng là điều thường tình, không thể từ đó mà đánh giá con người được.

Đã là một cá thể trong xã hội, cần làm cho xã hội thấy được mình đang tồn tại, không đơn thuần chỉ tồn tại bình thường, nhưng luôn lấp lánh như những vì sao, chứ không chỉ là một hạt cát bình thường như bao hạt cát khác trên sa mạc. Cần khẳng định bản thân trong xã hội, cần có chính kiến trong mối tương giao giữa các cá nhân với nhau; trong công việc cần có sự quyết đoán, cần có một định hướng đúng đắn cho tương lai. Chính vì thế, cần tạo ra những mối quan hệ tốt trong xã hội. Phải biết xác định hướng đi cho bản thân, biết nắm bắt cơ hội, có cái nhìn xa rộng, bao quát hơn để không phải thụt lùi với thời đại. Sống không phải là một cuộc du ngoạn, mà là một cuộc tìm hiểu và kiếm tìm. Chính vì thế, là một cá nhân, con người cần xác định mình trong thế giới này, trong cuộc sống này. Hãy biết định vị cái cá nhân trong cái chung rộng lớn của cả vũ trụ, từ đó khẳng định bản thân và hướng đi đúng đắn.

Hy vọng sau khi đọc xong, các bạn ít nhiều hiểu được mình là ai trong thế giới này, đặc biệt biết đưa ra quan niệm sống đúng đắn cho bản thân, nhằm trở thành người hữu ích cho xã hội, mang lại niềm vui cho mọi người xung quanh. Chúc các bạn may mắn và thành công!
Lê Vũ (Lưu Hành)
Gp. LongXuyên

->Đọc thêm...

7.9.14

Là linh mục hay Làm linh mục?


Cha Gioan Nguyễn Vũ Việt, một tân linh mục Việt Nam ở hải ngoại trong thánh lễ tạ ơn ngày 19/5/2013 đã minh nhiên với cộng đoàn rằng: “tôi muốn là linh mục hơn là làm linh mục”. Chắc hẳn ngài muốn sống căn tính linh mục chứ không phải làm những việc của linh mục như một công chức thi hành bổn phận. Tuy nhiên hạn từ “làm” trong tiếng Việt lại mang nhiều nghĩa ở nhiều ngữ cảnh khác nhau, chẳng hạn như hạn từ “làm người” thì phong phú hơn rất nhiều.
Nhân dịp khai giảng năm học mới, cùng với một số thầy cô trong Ban Giáo Dục Kitô giáo của giáo phận đi thăm vài cơ sở giáo dục như là nhà trẻ, nhà lưu trú…có vị nữ tu bề trên một cộng đoàn kể với tôi một chuyện “thật như bịa” như sau: Vừa qua con đi dự thánh lễ tạ ơn một cha mới thuộc Hội Dòng Gioan Boscô ở Pleiku. Cha giảng Lễ là nghĩa phụ của tân linh mục đã nói với người con thiêng liêng rằng: “Hôm nay xin được có đôi lời với tân chức trong tình thân “cha-con”, vì mai này hai chúng ta dần dà thành anh em trong tình huynh đệ linh mục thì có cái gì đó ngần ngại khi muốn tỏ bày “kiểu thằng ruột ngựa”. Hôm nay cha đã là linh mục thì xin cha lưu ý kẻo bị cám dỗ làm ba điều này:

1. Làm tiền: Dâng Lễ, cử hành các bí tích…vì tiền. Vì nhu cầu xây dựng cơ sở vật chất hay tổ chức các sinh hoạt… nên lao mình vào việc kiếm tiền.

2. Làm biếng: Làm linh mục rồi nên không thèm dạy giáo lý nữa, chưa kể dần dà sinh ra làm biếng ngồi tòa giải tội theo lịch kỳ. Nếu không được hàng ngày thì phải hàng tuần chứ. Một tuần phải có một buổi nào đó được ấn định để bà con đến lãnh nhận ơn hòa giải. Xin đừng đợi đến dịp Lễ trọng như Chầu lượt, Giáng Sinh hay Phục Sinh mới mời anh em linh mục chung quanh đến “oánh trận” một buổi rồi sau đó hỉ hả cụng ly mừng chiến công. Bàn phím, màn hình vi tính… rất dễ cám dỗ chúng ta có cớ để mà làm biếng thăm viếng giáo dân, chăm nom người già, kẻ liệt…

3. Làm tàng: Đã làm linh mục rồi thì rất dễ bị cám dỗ “làm cha” thiên hạ. Linh mục, tuổi đời chưa đến bốn hay năm mươi mà lại nạt nộ quát tháo trẻ em lẫn người cao tuổi, la mắng to tiếng với giáo lý viên lẫn cả với quý vị hội đồng giáo xứ… không là chuyện thi thoảng hay là họa hiếm mà như ngược lại. Chắc chắn điểm thi môn “đạo đức nhân bản” của các ngài không một ai dưới trung bình mà rất có thể thảy đều đạt điềm gần tuyệt đối, thế nhưng điểm thực hành ở mức nào thì cần khiêm tốn lắng nghe nhận định của bà con giáo dân và của các tu sĩ nam nữ đã từng cộng tác.

Sau khi kể chuyện xong vị bề trên ấy hỏi tôi rằng cha có làm ba cái điều kia không. Tôi thành thực trả lời là “khi ít khi nhiều, khi nào cũng có” và không làm cái này cũng có làm cái kia. Thế là bà soeur cười hể hả.

Thiết tưởng rằng đã dùng lời “để lật, để nhổ, để hủy để phá” cần phải dùng cả lời “để xây và để trồng” thì sẽ sinh hiệu quả hơn như lời đã phán với ngôn sứ Giêrêmia (x. Gr 1,10). Mạo muội xin góp thêm ba “cái làm” theo chiều kích trồng và xây như sau:
1. Làm chứng (x. Mc 1,22): Đức Phaolô VI và Đức Gioan Phaolô II thường nhấn mạnh rằng ngày nay người ta thích nghe theo (nghe và sống theo) các chứng nhân hơn là các nhà giảng thuyết. Nếu sở dĩ người ta nghe theo các nhà giảng thuyết vì trước hết họ đã là những chứng nhân (đã sống điều mình rao giảng). Trước khi được truyền chức linh mục, các tiến chức được Hội Thánh căn dặn: “Khi suy gẫm luật Chúa, các con hãy chú tâm tin điều các con đọc, dạy điều các con tin và thi hành điều các con dạy” (x. Nghi thức phong chức linh mục). Chắc hẳn không một linh mục nào muốn hứng lấy lời của Chúa Kitô khi Người nói về một số lãnh đạo Do Thái giáo thời bấy giờ: “Các kinh sư và các người Pharisiêu ngồi trên tòa ông Môsê mà giảng dạy. Vậy những gì họ nói thì anh em hãy làm, hãy giữ; nhưng đừng theo hành động của họ mà làm, vì họ nói mà không làm. Họ bó những gành nặng mà chất lên vai người ta, nhưng chính họ lại không buồn động ngón tay vào” (Mt 23,2-4).

2. Làm gương (x. Ga 13,1-15): Dĩ nhiên gương ở đây phải là gương sáng chứ không phải là gương mù gương tối. Nói đến gương sáng thì chúng ta dễ liên tưởng đến hành vi yêu thương phục vụ trong khiểm hạ và tự hủy của Chúa Giêsu đêm tiệc ly khi cúi xuống rửa chân cho các môn đồ. Xin đừng quên việc rửa chân là việc của các người hầu, người nô lệ gần tương tự như các cung nữ các công công phục dịch đức vua, hoàng hậu… trong các cung đình. Nếu lỡ hầu hạ, phục dịch chủ mình không cẩn thận, có chút gì sơ suất thì phải nhanh chóng tự vả mặt thú lỗi: “nô tài đáng chết, nô tài đáng chết”. Gương muốn được sạch và sáng thì phải được rửa, được lau chùi liên tục.

3. Làm liên lỉ (x. Ga 5,1-47): Hai từ liên lỉ không chỉ có nội hàm là sự chuyên chăm mà còn bao hàm cả cái tâm, cái lòng của người thi hành công việc. Tuy nhiên hàng linh mục cần phải làm liên lĩ việc gì? “Anh em hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy” (Lc 22,19). Ở đây không muốn nói đến việc dâng thánh lễ theo kiểu “làm Lễ”, nhưng muốn nhấn mạnh đến việc sống Bí Tích Thánh Thể. Rất có thể có đó và còn đó chuyện “làm tiền” cả khi “làm Lễ”, nhưng đã sống bí tích Thánh Thể thì không thể có chuyện đó được. Hãy làm liên lỉ việc này là dùng chính con người, xác thân của mình để sống tình liên đới với tha nhân, sẵn sàng gánh lấy trách nhiệm của đồng loại, nhất là trong những yếu đuối, tội lỗi của họ. Tự nguyện “bị nộp” vì nhau là nghĩa cử yêu thương tỏ tình liên đới sâu xa. Hãy dùng chính máu thịt của mình để giúp nhau được thanh sạch và được sống và sống dồi dào. Trong thánh lễ thì các tư tế đọc bằng lời, nhưng mong sao trong cuộc sống các ngài có thể nói bằng hành động: “Này là Mình Ta… Này là Máu Ta…”
Trong chuyện trồng trọt thì việc cuốc đất, lật cỏ là việc phải làm nhưng nếu chỉ chăm chăm làm cỏ mà quên trồng cây thì rồi cỏ lại mọc um tùm. Hy vọng rằng nếu nỗ lực làm ba “cái làm” theo chiều kích tích cực thì khi cây đã vươn cành, lá đã xum xuê thì cỏ dại sẽ vì thiếu ánh sáng mà héo úa dần đi.

Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

gxphucuong

->Đọc thêm...

3.9.14

Linh mục chánh xứ là ai?


Linh mục Chánh xứ (parochus ) là mục tử chính của giáo xứ đã được Đức Giám Mục địa phận cắt cử coi một hay nhiều giáo xứ để chu toàn công việc mục vụ cho cộng đoàn dưới quyền Đức Giám Mục địa phận tức là thông phần tác vụ của Chúa Kitô đã trao cho Đức Giám Mục để thực hiện các nhiệm vụ: giáo huấn, thánh hóa, hướng dẫn cộng đoàn với sự cộng tác của các Linh mục hay phó tế và giáo dân trợ giúp chiếu theo luật (Can 519).
Định nghĩa mô tả rõ ràng Linh mục Chánh xứ là cộng tác viên của Đức Giám Mục. Nói mạnh như Hiến chế Lumen gentium: Linh mục là dụng cụ của Đức Giám Mục trong việc phục vụ dân Chúa (số 28).
Vì rằng Đức Giám Mục (Đức Cha Chính) là mục tử, là chủ chiên toàn địa phận, giáo xứ là phần của địa phận do Ngài phân chia và trao cho Linh mục Chánh xứ phụ giúp Ngài.

Do đó, một nguyên tắc rất hợp lý: chỉ có Đức Giám Mục địa phận (Đức Cha Chính) là chủ của Giáo xứ và có quyền tự do bổ nhiệm Linh mục phục vụ tại giáo xứ (Linh mục Chánh xứ, Can 157, 523; Linh mục quản xứ, Can 539; Linh mục phụ tá xứ, Can 547).
Theo truyền thống trong Giáo Hội và Giáo luật cũ nói tới:

- Giáo xứ bất khả chuyển dịch (paroeciae inamovibiles) thì cũng nói tới Linh mục bất khả chuyển dịch (parochos inamovibiles) tức là tại chức ở Giáo xứ đó mãn đời.
- Giáo xứ khả chuyển dịch (paroeciae amovibiles) thì cũng nói tới Linh mục khả chuyển dịch (parochos amovibiles) nghĩa là tại chức Linh mục Chánh xứ trong một thời gian.
- Công đồng Vatican II đã dạy: bãi bỏ việc phân biệt các Linh mục Chánh xứ cố định (parochos inamovibiles) và Linh mục Chánh xứ khả dịch (parochos amovibiles) (Sắc lệnh Christus Dominus số 31).
Thay vào đó, Công đồng Vatican II dạy: “Trong Giáo xứ của mình, Linh mục Chánh xứ còn được quyền tại chức lâu bền như ích lợi của các linh hồn đòi hỏi (idem số 31) như vậy là duy trì được sự công bằng tự nhiên.
Điều 522 Bộ Giáo luật hiện hành quy định: Linh mục Chánh xứ phải hưởng quyền lợi bền vững và vì vậy phải được bổ nhiệm cho một thời gian vô hạn định (parochus stabilitate gaudeat oportet ideoque ad tempus indefinitum nominetur) tức là khi vị Linh mục đã được lên chức Linh mục Chánh xứ thì chức danh Chánh xứ là vô hạn định. Thí dụ: Ở xứ A, làm Chánh xứ, đi xứ B, xứ X vẫn làm Chánh xứ.

Tuy nhiên, chức danh Chánh xứ được miễn chức do:
- Chính Linh mục Chánh xứ đó xin từ chức.
- Đến 75 tuổi, Giáo luật đề nghị Linh mục Chánh xứ làm đơn từ chức.
- Trong địa phận mà Đức Giám Mục bổ nhiệm Linh mục Chánh xứ trong một thời gian và được Hội đồng Giám mục chấp nhận bằng một sắc lệnh (Can 522).
- Hoặc bị bãi chức khi có lý do quan trọng và phải giữ đúng thể thức luật định (Can 193,1).
Giáo luật dành cho Đức Giám Mục địa phận tự do bổ nhiệm Linh mục Chánh xứ (Can 523), nhưng Giám luật “cầm tay” Đức Giám Mục địa phận một phần đối với Linh mục Chánh xứ: Tính bền vững của Linh mục Chánh xứ, 75 tuổi mới hưu, muốn bãi chức Linh mục Chánh xứ phải theo đúng thể thức luật định (Can 193, 194).
Còn Đức Giám quản địa phận (Administrator)
Linh mục Giám quản địa phận hoặc Giám mục Giám quản địa phận hoặc Giám quản Tông tòa cũng phải theo luật quy định sau đây:
“Nếu địa phận trống ngôi hoặc bị cản trở được một năm thì Giám quản địa phận mới có quyền bổ nhiệm Linh mục Chánh xứ” (Can 525,2).
a) Việc bổ nhiệm Linh mục Chánh xứ
Để bổ nhiệm thành sự (valide): phải là người có chức Linh mục (Can 521,1).
Để bổ nhiệm hợp pháp (licite), Linh mục phải có:
- Kiến thức giáo thuyết lành mạnh vượt trội.
- Chín chắn, trưởng thành.
- Nhiệt thành với các linh hồn và các nhân đức.
- Có các đức tính mà luật chung, luật riêng đòi phải có để phục vụ giáo xứ (Can 521,2).
- Hội đủ một số khả năng cần thiết (do Đức Giám Mục đưa ra và có thể khảo hạch) (Can 521,3).

b) Cách thức nhập xứ
Linh mục được bổ nhiệm Chánh xứ chỉ được quyền và phải thi hành quyền từ giây phút sau khi nhận xứ (Can 527,1). Trước đó, Ngài không được nhúng tay vào các việc trong xứ. Xen mình vào trước khi nhận xứ là bất hợp pháp (tham chiếu Can 382,1), và có thể bị phạt (Can 1384).
Đấng bản quyền địa phương hoặc Linh mục được ủy làm đại diện sẽ chủ tọa lễ nhận xứ theo cách thức của Luật riêng và thói quen hợp pháp. Đấng bản quyền địa phương có thể chuẩn lễ nghi nhận xứ khi có lý do chính đáng, và thay vào bằng một thông báo cho giáo xứ biết ơn chuẩn đó (Can 527,2).
Đấng bản quyền địa phương ấn định thời gian nhận xứ. Linh mục không đi nhận xứ trong thời gian đó khi không có lý do chính đáng, Ngài có thể công bố giáo xứ trống ngôi (Can 527,3) và bổ nhiệm người khác.
Lễ nghi tựu chức theo luật và thói quen như sau:
- Tập họp trước nhà thờ giáo xứ.
- Một Linh mục đọc sắc bổ nhiệm.
- Đấng bản quyền địa phương hoặc đại diện và Linh mục chính xứ đi vào nhà thờ, mọi người cùng chào.
- Đứng trước bàn thờ chính, Linh mục chính xứ tuyên xưng Đức Tin chiếu theo luật (Can 833,5).
- Cả hai cùng lên bàn thờ chính trong khi ban hát hát Antiphon về Thánh bổn mạng nhà thờ, rồi Cha xứ đọc lời nguyện.
- Linh mục Chánh xứ nhận chìa khóa nhà tạm (mở và đóng).
- Hát “Deus adjutorium”, Linh mục chính xứ đi tới ngồi tòa giải tội, lên tòa giảng, chào giáo dân.
- Đấng bản quyền địa phương hoặc vị đại diện tuyên bố: Linh mục Chính xứ đã tựu chức.
- Vào nhà mặc áo, Linh mục Chính xứ nhận các sổ sách.

c) Chức vụ Linh mục Chính xứ
Rao giảng Lời Chúa:
- Giảng lễ Chúa Nhật, lễ buộc…
- Dạy giáo lý cho thiếu nhi, thanh niên, người lớn, tân tòng, hôn nhân… để giúp giáo dân hiểu và sống Lời Chúa.
Thánh hóa (các lễ nghi dành riêng cho Linh mục Chính xứ):
- Rửa tội
- Thêm sức cho người lâm cơn nguy tử (luật cũng mở rộng cho tất cả những Linh mục khác gặp trường hợp này, Can 883,3).
- Ban của ăn đàng, xức dầu bệnh nhân và ban phép lành Tòa Thánh.
- Chứng hôn và làm phép Hôn phối.
- Cử hành lễ nghi an táng.
- Làm phép giếng Rửa tội trong mùa Phục sinh.
- Chủ sự rước kiệu ngoài nhà thờ và ban phép lành trọng thể ngoài nhà thờ.
- Cử hành Thánh lễ trọng thể các Chúa Nhật và các lễ buộc (Can 530).

GHI CHÚ: Giáo luật dành cho Linh mục Chánh xứ có những trách vụ và quyền hạn rõ rệt, trong khi đó Linh mục Phụ tá được hiểu là người phụ giúp cho linh mục chính xứ trong sứ vụ coi sóc đoàn chiên Chúa. Hiều được rõ lý do, thì sẽ có sự hài hòa giữa Cha xứ và Cha phó.
Hướng dẫn dân Chúa:
- Như mục tử biết và chăm sóc từng “con chiên” (tín hữu và người lương trong xứ). Quản lý tài sản của nhà thờ, nhà xứ…
Gìn giữ nơi Thánh (nhà thờ, nhà nguyện, nghĩa trang) chỉ được cử hành những gì liên quan tới thờ phượng, đạo đức. Cấm bất cứ điều gì không phù hợp với sự thánh hiến của nơi Thánh. Nhưng Đấng bản quyền có thể cho phép từng lần một dùng vào việc khác, miễn là không nghịch với sự thánh thiện của nơi ấy (Can 1210).
Ai dám phạm đến của Thánh, động sản hay bất động sản, thì bị vạ thích đáng (Can 1376). Không có phép mà dám bán, nhượng tài sản của Giáo Hội thì bị vạ phạt tương xứng (Can 1377). (Xem thêm: Đời sống cộng đoàn; Can 275,1; 280. Can 542; 543. Y phục Giáo sỹ: Can 284; Can cũ 138, 1)
d) Quyền của Linh mục Chính xứ
Đức Cha Chánh quản trị Địa phận với quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp chiếu theo luật (Can 391,1), Linh mục chính xứ là cộng tác viên của Ngài, không thể lập luật riêng cho giáo xứ mình, không thể ra án phạt và khấu trừ tội.
Linh mục Chính xứ tự ý ra vạ phạt, không thành sự vì không có quyền. Người bị vạ phạt không mắc vạ, coi chừng người ra vạ lại mắc vì “bất cứ ai lạm dụng chức vụ trong Giáo Hội thì bị vạ tương xứng” (Can 1381,1).
Linh mục Chính xứ lãnh quyền do luật chung, luật riêng (Can 89) và những nố Đức Giám Mục Địa phận ủy cho:
Quyền miễn chuẩn
1. Miễn chuẩn từng trường hợp một khỏi ăn chay, kiêng thịt, dự lễ Chúa Nhật và lễ buộc, kiêng việc xác khi có lý do chính đáng do luật chung ban cho và quy luật của Đức Giám Mục Địa phận hướng dẫn (Can 1245).
Ban phép chuẩn chung kiêng việc xác… là thuộc quyền Đức Giám Mục Địa phận (Can 87,1). Năng quyền thập niên 70 ban phép cho tất cả Linh mục nào đã nhận Giáo phận hoặc giáo vụ được tha làm việc xác cho giáo hữu (tha cách chung và thường xuyên, nhưng không vĩnh viễn) trừ các lễ Phục sinh, Hiện xuống, Giáng Sinh (số 18) còn giá trị.
2. Miễn chuẩn lời khấn tư (lời khấn không có Bề trên hợp pháp nhân danh Giáo Hội chấp nhận) miễn là không phạm đến quyền lợi của người khác (Can 1196,1).
3. Miễn chuẩn ngăn trở hôn nhân trong trường hợp nguy tử và trường hợp hôn lễ đã sẵn sàng mà không dễ dàng chạy đến Đấng bản quyền địa phương (Can 1079,2).
Quyền giảng và Giải tội
- Có quyền ưng thuận hoặc từ chối Linh mục hoặc phó tế giảng tại nhà thờ mình coi sóc (xem Can 764: Linh mục thủ từ, Quản đường cũng có quyền như vậy).
- Có quyền giải tội trong Giáo xứ của mình (Can 968,1) (ở đây nói tới quyền do chức vụ, có tính đương nhiên, khác với ủy quyền, cho phép). Không có quyền từ chối Linh mục khác đã lãnh quyền giải tội ngồi tòa trên phần đất của mình vì chi có Đấng bản quyền địa phương mới có quyền từ chối (Can 967,2) (tới nhà dòng thì theo luật chung của Giáo Hội và hiến pháp nhà dòng).
Quyền ân bổng
- Hưởng trợ cấp của Tòa Giám mục (Can 281,1274).
- Được xin hưởng trợ cấp xã hội (Quỹ an ninh xã hội, nếu có) (Can 281,2). Bổng lễ và các bổng của tác vụ thánh khác theo mức độ của Tòa Giám mục ấn định (Can 952, 1 và 2).
- Của dâng cúng các dịp lễ. Dù Linh mục khác chu toàn nhiệm vụ nào trong giáo xứ thì các của dâng cúng nhận được trong dịp đó cũng phải bỏ vào quỹ nhà xứ trừ khi ý muốn người dâng tự ý tặng chủ lễ. Vấn đề này, sẽ theo qui luật Địa phận như một phần thù lao cho chủ lễ, một phần bỏ vào quỹ nhà xứ (Can 531).
e) Các nhiệm vụ của Linh mục Chính xứ
Các nhiệm vụ này phát xuất từ 3 chức vụ:
- Rao giảng Lời Chúa.
- Cử hành các Bí tích, Á bí tích (thánh hóa).
- Hướng dẫn dân Chúa.

Xin kể ra đây mấy điểm:
1/ Không được từ chối ban Bí tích:
Thừa tác viên thánh không được khước từ ban Bí tích cho thụ nhận xin chịu trong lúc thuận tiện khi họ đã sẵn sàng và không bị luật cấm chịu (Can 843,1).
2/ Chọn giờ thuận tiện:
Phải liệu giải tội cho tín hữu khi họ xin một cách hợp lý và phải định giờ giấc thuận lợi cho họ (Can 986,2).
Thuận lợi cho giáo dân hay Linh mục? Giáo luật trả lời: thuận lợi cho giáo dân.
3/ Thánh lễ và rước lễ:
Linh mục Chính xứ phải liệu để phép Thánh Thể rất Thánh trở thành trung tâm của cộng đoàn tín hữu giáo xứ. Cố gắng cử hành các bí tích nhất là bí tích Thánh Thể và giải tội thật sốt sắng để nuôi lòng đạo đức giáo dân. Làm sao cho giáo dân siêng năng cầu nguyện ở gia đình và ở nhà thờ, biết tham dự phụng vụ một cách có ý thức, linh động và hiệu quả (xem Can 528,2).
Về việc rước lễ, luật dạy: bất cứ ai đã rửa tội mà không bị luật cấm đều có thể và phải rước lễ (Can 912).
Luật cấm người chưa chịu phép rửa tội, trẻ con dưới 7 tuổi, người bị bệnh tâm thần nặng, người bị vạ tuyệt thông và cấm chế mà án đã công bố và người cố tình sống công khai trong tình trạng tội nặng (trọng) (Can 97, 99, 914, 915).
Rước lễ là quyền của tín hữu, Linh mục chủ lễ hoặc cha sở không có quyền định cho rước lễ trong Thánh lễ nào tùy ý. Khi thời giờ không cho phép, chủ lễ phải trình bày lý do “không cho tín hữu rước lễ” để mọi người vui vẻ, thông cảm. Chủ lễ hoặc cha sở chỉ có quyền từ chối những người bị lề luật cấm mà thôi.
4/ Chỉ lễ cho giáo dân
Sau khi nhận chức Linh mục Chánh xứ phải chỉ lễ cho dân của ngài trong các Chúa Nhật và các lễ buộc của địa phận. Khi bị ngăn trở hợp pháp, ngài phải nhờ Linh mục khác chỉ lễ thay hoặc sẽ chỉ vào ngày khác. Buộc chỉ một lễ dầu làm nhiều lễ trong ngày đó. Coi sóc nhiều xứ cũng chỉ buộc chỉ một lễ cho tất cả các dân các xứ của ngài (Can 534). Chưa chu toàn thì phải làm sớm hết sức đủ số lễ phải chỉ cho dân (Can 534,3).
Tại nước ta, Thánh bộ Phúc âm hóa (rao giảng Tin Mừng) dạy Linh mục Chánh xứ chỉ lễ cho dân trong các ngày lễ: Hiển Linh, Thánh cả Giuse, Phục sinh, Thăng Thiên, Hiện Xuống, Mình Máu Chúa Kitô, Thánh Phêrô và Phaolô, Đức Mẹ hồn xác lên trời, các Thánh nam nữ, Đức Mẹ vô nhiễm nguyên tội và Giáng Sinh.
5. Cư trú tại Giáo xứ
Linh mục Chánh xứ phải cư trú tại nhà xứ gần nhà thờ. Nhưng trong trường hợp riêng, vì lý do chính đáng, Đấng bản quyền địa phương có thể cho phép Ngài cư ngụ nơi khác, nhất là trong nhà tập thể Linh mục, miễn là có thể chu toàn nhiệm vụ đối với giáo xứ cách đúng luật và thích hợp (Can 543,1).
6/ Được vắng mặt trong các trường hợp
- Nghỉ hè (nghỉ phép thường niên) 1 tháng. - Đi tĩnh tâm thường niên. - Vắng mặt vì lý do quan trọng khác.
Trong bất cứ trường hợp nào, vắng mặt trên một tuần, phải báo cho Đấng bản quyền địa phương biết (Can 533,2) để Đức Giám Mục địa phận cắt cử Linh mục tạm quản, nếu chưa có quy định của địa phận về vấn đề này (xem Can 533,3) (có thể nhờ một Linh mục quen biết, hoặc Linh mục Phụ tá xứ tạm quản và trình Đấng bản quyền địa phương biết).
7/ Giữ sổ sách nhà xứ
Mỗi giáo xứ phải có sổ sách riêng, gồm có sổ rửa tội, hôn phối, sổ tử và các sổ khác chiếu theo quy định của Hội đồng Giám mục hoặc của Đức Giám Mục địa phận. Linh mục Chính xứ ghi sổ kỹ lưỡng và cất giữ cẩn thận (Can 535,1). Luật lưu ý ghi thêm vào sổ rửa tội:
- Thêm sức
- Hôn nhân với các tình trạng…
- Dưỡng tử (nếu có)
- Chức thánh đã lãnh nhận (Can 535,2).

8/ Giữ ấn tín và văn khố
Mỗi giáo xứ phải có “con dấu”. Các giấy chứng nhận được cấp chiếu theo luật Giáo Hội và tất cả văn kiện có tầm quan trọng theo luật định, phải được Linh mục Chánh xứ hoặc vị thừa ủy ký tên và đóng dấu (Can 535,3).
Theo luật nước ta “con dấu tròn” dành cho các cơ quan nhà nước, các giáo xứ không thể sử dụng con dấu tròn như trước nữa. Vấn đề này cần có chỉ thị của Hội đồng Giám mục hoặc Đức Giám Mục địa phận để có hình thức con dấu chung và hợp pháp.
9/ Mỗi giáo xứ cần có văn khố
để lưu trữ các sổ sách của giáo xứ và công văn của Địa phận, và các văn kiện khác, đừng để lọt vào tay người “vô phận sự” các giấy tờ trên. Đức Giám Mục địa phận có quyền đòi xem xét văn khố xem có tổ chức cẩn thận, chu đáo không (Can 535,4). Cũng phải giữ sách vở, sổ sách khác của giáo xứ cẩn thận (Can 535,5).
“Văn khố” của giáo xứ có thể là một vài tủ sách làm bằng gỗ rất bền vững, kín đáo, tránh được dán xâm nhập, mối mọt đục khoét, tránh mưa gió làm ẩm ướt, có khóa cẩn thận.


Tác giả: Lm Fx Nguyễn hùng Oánh

->Đọc thêm...

31.8.14

Vai Trò Tu Sĩ Trong Xã Hội Hôm Nay


1. Đời Sống Thánh Hiến trong Mầu nhiệm Giáo Hội và trong xã hội

* Dấn thân trọn vẹn vào Nước Trời

Giáo Hội như một chiếc xe đang hướng đi về Nước Trời. Đường còn xa, mưa gió và bão tố vẫn không ngừng quăng quật; con đường thì gập ghềnh sỏi đá; xung quanh đầy những thế lực trần gian đe dọa. Đó là một cuộc hành trình hiểm nguy, bấp bênh đến độ những người bình thường, với sự khôn ngoan của một đầu óc thế gian, sẽ chẳng dại gì lao vào cuộc.

Giáo dân là những người có trách nhiệm chất hàng lên xe (lòng tận tụy ấy chỉ có thể có được khi nhận ra trên xe “còn có người”, nghĩa là là nhận ra chứng tá của tu sĩ); giáo sĩ là những người có nhiệm vụ lôi kéo vào điều khiển chiếc xe (cũng thế, người giáo sĩ mà không thấy có người trên xe thì cũng khó lòng dồn sức mạnh của mình để kéo một cỗ xe không); còn tu sĩ là những người leo hẳn lên xe, dấn thân trọn vẹn vào “cỗ xe gian nguy của Nước Trời”, dám đánh đổi cuộc đời mình vào mầu nhiệm Nước Trời. Trên cỗ xe ấy, người tu sĩ chăm sóc cho mọi thành phần, vẫn có khả năng vui đùa đầy lạc quan; vẫn có khả năng thể hiện tình nghĩa, an ủi và làm vơi đi những nhọc nhằn trên hành trình về Nước Trời. . . .

* Đấu tranh cho Nước Trời trong đời sống xã hội

Cuộc sống xã hội Việt Nam hôm nay đầy những vấn đề : kinh tế suy thoái, quốc nạn tham nhũng, khoảng cách giầu nghèo quá cách biệt, bất công và những khiếu kiện đất đai lan rộng khắp nơi, vấn đề ô nhiễm môi trường và vấn đề an toàn thực phẩm đã đến lúc báo động đỏ… tình trạng giáo dục tụt hậu quá xa so với thế giới, đạo đức xã hội xuống cấp trầm trọng, phẩm giá con người bi coi thường, nhân cách con người bị phá sản, gian dối trong mọi lãnh vực, giới trẻ mất định hướng …

Nếu ví cuộc sống xã hội như hai đứa trẻ chơi game trên vi tính, thì tình hình sẽ là : trong khi người ta giành nhau để đạt được những điểm cao trên màn hình, thì người tu sĩ lại giống như những đứa trẻ vui chơi không phải vì số điểm, mà là vì niềm vui cùng chơi với nhau. Cách nhìn của người tu sĩ giống như, trong đời sống gia đình, khi tổng kết cuối năm, người ta không đánh giá thành quả của năm qua bằng những thành công cụ thể (xây nhà, thi đậu, trúng mánh…), nhưng nhận ra niềm vui được sống thêm một năm và “dầy thêm nghĩa tình” trong đời sống gia đình.

Cuộc đấu tranh chống thế lực của “trần gian” không phải chỉ là phá đổ cái xấu, nhưng sâu xa hơn, là gieo mầm cái tốt. Có thể nói, cuộc đấu tranh của tu sĩ giống như cuộc “thi tuyển” nhiều hơn là cuộc chiến tranh. Người tu sĩ trong xã hội có thể bị coi như một kẻ “thả mồi bắt bóng”, hơi giống như một “gã khờ” trong cuộc sống hôm nay, hơi giống như “thằng bờm” đối với phú ông…

Người tu sĩ sống trong xã hội trần thế có đầy những quy luật cạnh tranh khốc liệt của trần thế, nhưng không rơi vào qui luật “giang hồ” của cuộc đấu tranh, mà lại tha thiết “đi tìm kiếm Nước Thiên Chúa trước”.

2. Nhìn về cuộc sống từ quan điểm Nước Trời

* Nước Trời khác với thế gian trong mức độ phẩm chất

Ba mức độ quy luật của cuộc sống:

- Thế giới mạnh được yếu thua: thế giới của sinh vật là thế giới của sức mạnh, của răng nhọn và móng vuốt.

- Thế giới thuận mua vừa bán: con người ta muốn vươn tới một thế giới công bằng hơn, thể hiện một sự trao đổi sòng phẳng thuận mua vừa bán. Nhưng thật ra, thế giới dù có văn minh đến đâu cũng không thể vượt qua được tính chất “cá lớn nuốt cá bé” vẫn ngấm ngầm chia phối sâu xa.

- Thế giới tặng không và lãnh nhận với lòng tri ân: Nước Trời là thế giới của tình nghĩa, nơi đó con người được Thiên Chúa ban tặng một cách nhưng-không (Tám Mối Phúc). Người tu sĩ là người sống mầu nhiệm Nước Trời trong lòng thế giới, nghĩa là sống Tám Mối Phúc, nghĩa là sống trong sự lãnh nhận với lòng tri ân và trao tặng nhưng-không.

* Nước Trời khác với thế gian trong khía cạnh phương pháp

Trình thuật Cám Dỗ trong Tin Mừng cho chúng ta thấy rõ những khía cảnh của cám dỗ muốn sống theo kiểu thế gian, giải quyết cuộc đời theo kiểu thế gian :

- Cám dỗ của bánh mì: chinh phục người ta bằng lợi lộc

- Cám dỗ của sự lạ: chinh phục người ta bằng cách khống chế trí khôn

- Cám dỗ của quyền lực: chinh phục người khác bằng quyền lực thống trị.

+ Cái gì là cứu cánh thì cũng là nguyên lý và cái gì là nguyên lý thì cũng là cứu cánh. Nếu Nước Trời được xây dựng bằng nguyên lý lợi lộc vật chất, nguyên lý tri thức khôn ngoan hoặc nguyên lý quản trị thì sẽ không thể đạt đến cứu cánh là Nước Yêu Thương được.

3. Tu sĩ Việt Nam trong xã hội hôm nay

* Sống sung mãn nguyên lý của Nước Trời

- Sống sự công chính mới: không phải là sống theo luật như một đòi buộc bên ngoài, nhưng là tự nguyện đón nhận Thánh Ý Chúa (vượt trên luật). Khi đó, trọng tâm làm nên ý nghĩa cuộc đời người Kitô hữu không còn dựa vào bất cứ một luật lệ vô ngã nào, những là dựa vào mối tương quan ngôi vị. Đây quả thật là một cuộc phiêu lưu; cuộc phiêu lưu chỉ có thể có tình yêu và lòng tin tưởng như điểm tựa duy nhất. Mẫu gương cao đẹp nhất là cung cách của Mẹ Maria và thánh Giuse.

- Sống niềm tin trong tự do và tự nguyện : Chỉ khi tự do và tự nguyện, người ta mới có thể đi vào thế giới nghĩa tình. Trong thế giới ấy, nghĩa tình của ta với Chúa được thăng tiến dần dần theo “quy luật” đắp đổi, theo kiểu “bánh ít cho đi, bánh quy cho lại”.

- Sống tâm tình tri ân và dám dâng tặng chính bản thân : Khi không còn giản lược tương giao vào sự vật, người sống sự công chính mới sẽ nhận ra trong mọi tình tiết của đời sống đức Tin, một sự trao đổi bản thân cho nhau, một sự trao đổi chính tình nghĩa; và khi đó, người tu sĩ sẽ được thôi thúc sống lòng tri ân.

* Trở nên dấu chỉ Nước Trời

- Khám phá những hạt men Nước Trời đang ẩn khuất trong cuộc sống hôm nay, ngay trong gia đình, ngay trong cộng đoàn, ngay trong lớp học….

- Trân trọng và tin tưởng vào sức mạnh của men Nước Trời hơn tất cả những sức mạnh của thế gian. Hạt men Nước Trời trong cuộc sống thật bé bỏng, bé bỏng như hạt cải, nhưng người tu sĩ lại nhận ra tất được sức mạnh cứu độ của Hạt Men Nước Trời.

- Góp phần vun trồng, chăm bón, và nếu cần, phải dám hy sinh chính bản thân để làm chứng cho sự hiện diện của Nước Trời trong xã hội hôm nay.

Kết

- Hiên ngang với ngọn cờ của người tu sĩ: Hiến Chương Nước Trời - Tám Mối Phúc. Không phải người tu sĩ luôn luôn là những người sống trọn tám mối phúc, nhưng vẫn phải luôn luôn là những người giương cao ngọn cờ.

* Gợi ý thảo luận

1. Bạn có nhận ra được sự hiện diện của Nước Trời trong xã hội hôm nay không? Thử chia sẻ kinh nghiệm của bạn.

2. Bạn có xác tín sự chiến thắng của Nước Trời trong xã hội hôm nay trong mọi lựa chọn của mình?

3. Bạn có dám làm chứng cho Nước Trời đến độ dám lao cả bản thân mình vào cuộc?

Nguyễn Trọng Viễn, O.P.

(Nguồn: Đa Minh Việt Nam)

->Đọc thêm...

ĐIỀU CON NGƯỜI CẦN NHẤT


1. Đó là một buổi tối rất bình yên, cả nhà tôi đang cùng xem bộ phim truyền hình yêu thích thì chuông điện thoại reo. Mẹ nhấc máy. Chăm chú lắng nghe, nói “Vậy à, vậy à, ừ…”. Rồi đặt máy. Tôi thoáng thấy mẹ làm một việc rất lạ nữa – rút “giắc” cắm điện thoại. Rồi mẹ lại cùng bố con tôi xem phim. Đó là đêm cháy chợ Đồng Xuân. Bạn hàng hốt hoảng báo cho mẹ biết là lửa đã cháy đến sạp vải của nhà chúng tôi. Sau đó là những năm vay mượn, đầu tắt mặt tối, gây dựng lại từ đầu. Có lần tôi hỏi mẹ về tối hôm đó, mẹ trả lời êm ả: “Mẹ không muốn bố cuống lên rồi lao đến đó, nhỡ có làm sao…”. Cả cơ nghiệp lao đao, nhưng trong giây phút đó, mẹ chỉ nghĩ đến bố tôi.

2. Chị tôi dành dụm vốn liếng định mua một mảnh đất ở ngoại thành. Hẹn được với người ta mang tiền đến đặt cọc, chị vội vã gọi taxi. Dọc đường, chị bắt gặp một đoàn nam phụ lão ấu hớt hơ hớt hải bồng một cô bé bị trâu húc vẫy xe xin đi nhờ lên Hà Nội cấp cứu. Chị tôi lập tức bảo anh lái xe quay xe, đưa cô bé con, người mẹ, và cả chị thẳng về Hà Nội. Mẹ cô bé tê liệt vì sợ hãi, chỉ biết ôm con khóc ròng. Một mình chị lo toan cho cô bé vào phòng cấp cứu, nhập viện, thậm chí đóng luôn cả tiền viện phí khi biết người mẹ không có nổi 100 nghìn trong túi… Khi chắc chắn là cô bé an toàn, chị mới trở về nhà. Không bao giờ nhắc đến chuyến xe ấy tốn kém bao nhiêu, tiền viện phí thế nào, hay buồn vì mảnh đất ưng ý kia không kịp đặt cọc đã qua tay người khác. Và cứ đến Tết, nhà chị lại có thêm những người khách từ quê ra.

3. Cha tôi là một người thành đạt, cha rất yêu công việc, đi sớm về khuya, mất ăn mất ngủ. Còn mẹ tôi, trong mắt mọi người, là một phụ nữ thật bình thường với những lo toan giản dị. Nhưng có lần cha nói với tôi rằng dù cha rất yêu thích công việc, nhưng cha không cần nó, cũng như cha cũng chẳng cần lắm nhà cửa, tiền bạc. Tất cả những gì cha cần là mẹ, có mẹ là cha có tất cả, kể cả những thứ rất quý giá, như là… chúng tôi.
Đôi khi bạn phải ngạc nhiên về những người mà bạn yêu quý. Sự an nhiên nơi tâm hồn họ. Những quyết định đơn giản mà quyết liệt. Sự bình thản của họ trước những thứ tưởng chừng rất quan trọng, nhưng lại không thật sự quan trọng. Cái cách mà họ tha thiết với con người. Giản đơn, nhưng mãnh liệt.

Nhưng hiểu được họ, bạn sẽ hiểu được niềm vui của thuỷ thủ đoàn khi nhìn thấy đất liền, của khách lữ hành khi nhìn thấy làng mạc, của nhà du hành vũ trụ qua khung cửa tàu nhìn thấy Trái Đất, của Robinson khi có được Thứ Sáu, nụ cười âu yếm của bất kỳ ai khi thấy một em bé sơ sinh. Cả việc tại sao, con người cứ mải mê tìm kiếm những nền văn minh ngoài Trái Đất… Và nỗi đau đớn khôn nguôi trào ra thành nước mắt và tiếng thét khi con người vì thiên tai, vì chiến tranh, vì bệnh tật, mà phải mất nhau trong cõi nhân gian…

Liệu bạn có nhận thấy, điều mà con người cần nhất trên thế gian này không phải danh vọng, không phải tiền bạc, không phải nhà cửa, không phải đất đai…

Bạn có nhận ra không, điều mà Con Người cần nhất chính là Con Người…

Ngô Thị Phú Bình (gocsuyngam.com)

->Đọc thêm...

Năm Ngôn Ngữ Tình Yêu


Trong đề tài Năm Ngôn Ngữ Tình Yêu, tiến sĩ tâm lý Gary Chapman có khám phá ra được điều thú vị này: Mỗi người đều có những ước muốn và cách thể hiện tình yêu khác nhau.

Vậy nên, khi chúng ta hiểu được điều bí ẩn đó, và biết sử dụng đúng ngôn ngữ của tình yêu của mỗi người, thì bạn sẽ mở được trái tim của người bạn yêu thương và làm cho họ tràn ngập hạnh phúc.

Tình yêu của bạn sẽ ngày càng bền chặt khi cả hai đều cảm thấy mình được quan tâm và chia sẻ.

Và 5 cách biểu đạt tình yêu cơ bản đó là:

1. Lời Khẳng Định (Word of Affirmation).

2. Thời Gian Chất Lượng (Quality Time).

3. Quà Tặng (Gift).

4. Hành Động Phục Vụ (Act of service).

5. Và Cử Chỉ Trìu Mến (Physical touch).

Thực ra, có lẽ ai trong chúng ta cũng có cả 5 ngôn ngữ này, vì nó đều là những cách quan trọng để bày tỏ tình yêu.

Tuy nhiên, nếu có cơ hội làm bài trắc nghiệm, bạn sẽ khám phá ra rằng mỗi người trong chúng ta đều có một ngôn ngữ tình yêu cơ bản, hay nói khác đi là điều bạn cảm thấy được yêu thương nhất trong năm điều trên chính là ngôn ngữ yêu thương của bạn.

Bên cạnh đó, việc biết được ngôn ngữ tình yêu của người phối ngẫu mình là gì cũng rất quan trọng, vì nó giúp cho chúng ta hiểu được cách làm thế nào để họ luôn cảm thấy được yêu thương.

Ngôn ngữ đầu tiên này là:

1. Lời Khẳng Định:

“Lời Khẳng Định” (Words of Affirmation). “Lời Khẳng Định” là những lời nói chân thành để khẳng định giá trị công việc mà người yêu hay người phối ngẫu đang thực hiện.

“Lời Khẳng Định” là sự bày tỏ tấm lòng biết ơn của ta về những gì mà người vợ hay chồng đang làm.

Tiến sĩ Gary Chapman trình bày như sau:

“Mark Twain có lần nói “Tôi có thể sống được hai tháng nhờ vào một lời khen.” Nếu chúng ta hiểu Twain theo nghĩa đen, thì sáu lời khen mỗi năm sẽ giữ cho bể chứa tình cảm yêu thương của ông ta ở mức hoạt đông tốt.

Người phối ngẫu của bạn chắc hẳn cần nhiều hơn”

Có một câu chuyện nói về sức mạnh của sự động viên như sau:

Một đàn ếch đi ngang qua một khu rừng và hai con ếch bị rơi xuống một cái hố. Khi thấy cái hố quá sâu những con ếch còn lại bèn nói với hai con ếch kia rằng chúng sẽ phải chết.

Hai con ếch mặc kệ những lời bình luận và cố hết sức nhảy ra khỏi cái hố. Đàn ếch nhao nhao bảo chúng đừng nhảy vô ích, hãy chấp nhận cái chết không thể tránh khỏi.

Cuối cùng, một con ếch nghe theo lời của đàn ếch. Nó gục xuống chết vì kiệt sức và tuyệt vọng. Con ếch còn lại vẫn dồn hết sức lực cuối cùng tiếp tục nhảy lên. Đàn ếch trên bờ lại ầm ĩ la lên bảo nó hãy nằm yên chờ chết.

Con ếch nọ lại càng nhảy mạnh hơn nữa. Và thật kỳ diệu, cuối cùng nó cũng thoát ra khỏi cái hố sâu ấy.

Đàn ếch xúm lại:

“Không nghe chúng tôi nói gì à?”

Chúng cứ hỏi mãi trong sự ngạc nhiên, lúng túng của con ếch nọ.

Cuối cùng sự thật cũng được một con ếch già hé lộ rằng: Con ếch vừa thoát khỏi cái hố kia bị điếc và nó cứ nghĩ là những con ếch khác hò reo đang cổ vũ cho nó, và chính điều đó đã làm nên một sức mạnh kỳ diệu giúp cho nó tìm được sự sống mong manh trong cái chết.

Một cách biểu lộ tình cảm yêu thương, ấy là dùng những lời nói để động viên, gây dựng đối với người xung quanh.

Sa-lô-môn, tác giả của những tuyệt tác cổ tiếng Hebrew chứa đựng đầy sự khôn ngoan, đã viết: “Sống chết ở nơi quyền của lưỡi”. Nhiều cặp vợ chồng chưa bao giờ học biết sức mạnh lớn lao của việc nói những lời khẳng định lẫn nhau.

Sa-lô-môn lưu ý thêm: “Sự buồn rầu ở nơi lòng người làm cho nao sờn, nhưng một lời nói lành khiến lòng vui vẻ”.

“Lời khen, hoặc lời cảm ơn, là những cách truyền thông cho tình yêu thật mạnh mẽ. Cách phát biểu hay nhất là qua những lời khẳng định đơn giản, thẳng thắn như: “Trông anh thật nổi trong bộ đồ đó”, hay “Chà! Em mặc áo đó rất đẹp!”, hay “Em hẳn là đầu bếp giỏi nhất thế giới về món bột chiên này.

Anh thích món bột chiên này lắm”, hoặc như “Em thực tình cám ơn anh đã rửa chén tối nay” hay như “Em thật cảm ơn anh đã mang rác ra giúp em”.

“Không khí gia đình, tình cảm hôn nhân sẽ ra sao nếu vợ chồng thường xuyên được nghe những lời khẳng định như vậy.”

Chắc chăn ai trong chúng ta cũng muốn được nghe những lời khích lệ, gây dựng, động viên mỗi ngày. Đắc biệt trong đời sống vợ chồng thì những câu nói như “Anh yêu em” hay “Anh giỏi thật đấy” “Bộ quần áo này mẹ mặc rất đẹp”…là những câu nói luôn bày tỏ sức mạnh yêu thương.

Và nếu như khi nghe những lời yêu thương âu yếm đó, bạn luôn cảm thấy hạnh phúc hơn những điều khác mọi người làm cho bạn thì đây chắc chắn là ngôn ngữ tình yêu của bạn.

2. Thời gian chất lượng

Trong các khóa hôn nhân, khi chúng tôi hỏi các cặp vợ chồng rằng, các bạn có thường ở bên nhau không, thì họ thường ngạc nhiên và trả lời rất quả quyết rằng: Chúng tôi luôn bên cạnh nhau mà. Ấy thế mà khi bàn đến vấn đề thế nào là việc giành thời gian có chất lượng cho nhau, thì gần như cặp vợ chồng nào cũng thiếu.

Nhiều khi chúng ta dễ ngộ nhận rằng, chỉ cần sống chung trong một mái nhà, cùng nhau làm một việc gì đó, cùng ở trong một căn phòng là đã giành thời gian cho nhau rồi. Thật ra, theo tiến sĩ Gary Chapman, thì “ngôn ngữ tình yêu” này đò hỏi nhiều hơn thế.

Đó là lúc bạn giành thời gian để bày tỏ tình yêu đối với người bạn đời của mình, bằng cách chuyện trò, tâm sự và chia sẻ cùng nhau. Giành thời gian để lắng nghe và bày tỏ cảm xúc cùng nhau là điều các cặp đang yêu thường làm rất tốt, nhưng phần lớn khi đã thành vợ chồng thì chúng ta lại dễ cho qua việc này.

Ví dụ như khi cùng ở trong phòng khách, mà người chồng vừa xem ti vi vừa nói chuyện cùng vợ thì anh ta đang chỉ truyền thông tin chứ không truyền tình yêu trong đó. Trong ngôn ngữ của người Trung Hoa thì chứ “Lắng Nghe” được ghép lại bởi năm chữ khác nhau, bao gồm: Tai, Bạn, Mắt, Sự Tập Trung và Tấm Lòng.

Việc giành thời gian để ngồi lại chuyện trò, chia sẻ cùng nhau là cách chúng ta bày tỏ quan tâm, tình cảm yêu thương, trìu mến giành cho người bạn đời của mình. Và đặc biết nó luôn có ý nghĩa rất quan trong đối với cuộc sống tình cảm của những người trong nhóm này.

3. Hành động phục vụ

Có ai đó đã nói: anh yêu em nhưng công việc nhà là của em đấy nhé. Thật buồn cười khi chúng ta không muốn biến tình yêu của mình thành hành động. Trong xã hội ngày nay, khi áp lực công việc tại công sở quá nhiều, thì phần lớn chúng ta trở về nhà đều đã mệt nhoài.
Tuy nhiên, việc chia sẻ gánh nặng công việc cùng nhau là một cách thể hiện tình cảm rất hữu hiệu. Những công việc tường chừng nhỏ nhặt như quét dọn, rửa chén, sửa chữa đồ đạc, giặt giũ hay nấu ăn đôi khi lại là cách bạn có thể bày tỏ tình yêu đối với nhóm người này.

Khi ngôn ngữ yêu thương của một ai đó là hạnh đồng phục vụ, thì người đó cũng luôn có xu hướng phục vụ người khác, và muốn được ai đó phục vụ lại. Sự quan tâm, chăm sóc có thể được thể hiện bằng nhiều cách khác nhau trong cuộc sống, chứ không nhất thiết chỉ là “làm việc nhà” hay phục vụ một điều gì đó.

Tuy nhiên, đây thực sự là cách giúp cho nhóm người này bày tỏ và cảm nhận được tình yêu thương.

4. Quà tặng

Có một điều rất thú vị là đối với một số người, thì tình yêu luôn đi liền với quà tặng. Việc tặng quà là cách họ bày tỏ tình yêu và sự quan tâm với ai đó, nên cũng vậy, họ coi việc được yêu thương trong khi nhận được một món quà.

Có thể ai trong chúng ta cũng muốn được tặng quà, nhưng nếu bạn có ngôn ngữ này, thì chắc chắn không gì làm bạn cảm thấy hạnh phúc hơn là nhận được quà từ ai đó. Và nếu như người thân của chúng ta ai đó cũng có ngôn ngữ này, thì xin đừng quên những dịp kỷ niệm liên quan đến họ và hãy nhớ mua một món quà gì đó.

Ngôn ngữ quà tặng không đòi hỏi giá trị vật chất trong món quà, đôi khi chỉ là một bông hoa, hay một chiếc vé đi xem phim, một chiếc áo len khi trời vào đông….tất cả những gì họ nhận được từ bạn, sẽ luôn là thông điệp hữu hiệu nhất về tình yêu của bạn giành cho họ.

Và chắc chắn, họ sẽ luôn giữ gìn cẩn thận những gì đã được tặng, họ cũng là người luôn vui thích mua quà tặng cho người khác nữa.

5. Cử chỉ yêu thương

Mọi đứa trẻ đều thích được ôm ấp vuốt ve, vậy nên cách tốt để bày tỏ tình yêu với con cái là hãy giành cho chúng thật nhiều cái ôm, hôn.

Tuy nhiên, có nhiều người lớn vẫn luôn yêu thích điều này. Với những người có ngôn ngữ tình yêu là cử chỉ âu yếm, vuốt ve thì họ sẽ luôn cần những nụ hôn, những cái ôm, hôn của người bạn đời. Sự đụng chạm về mặt thể chất luôn có tác dụng về mặt tâm lý đối với họ.

Họ cảm nhận được yêu thương, được che chở qua những nụ hôn và vòng tay ôm ấp. Họ trân trọng và được phấn chấn rất nhiều từ những hành động này. Cử chỉ yêu thương trong hôn nhân không luôn có nghĩa là quan hệ chăn gối.

Vì nếu chúng ta nghĩ đến ôm hôn là nghĩ đến “quan hệ” thì có lẽ hôn nhân của chúng ta hoặc sẽ rất “bận rộn” hoặc sẽ rất “khô khan”.

Vì có nhiều người trong chúng ta không có nhu cầu chăn gối thường xuyên, nhưng có lẽ ai trong chúng ta cũng cần những cái ôm của người bạn đời giành cho mình mỗi ngày.

Bạn thân mến, có ai đó đã nói rằng: trong yêu thương mọi vật đều lớn lên. Hãy cố gắng để khám phá ra ngôn ngữ yêu thương của bạn và những người xung quanh, đặc biệt là người bạn đời bạn.

Khi chúng ta hiểu điều mình muốn và điều người khác muốn thì chắc chắn chúng ta sẽ mở được cánh cửa hạnh phúc của nhau. Đối với những người có ngôn ngữ yêu thương là sự phục vụ thì có lẽ đối với họ: Con đường dẫn đến trái tim thường phải đi qua dạ dày.

Nhưng đối với những người có ngôn ngữ yêu thương là thời gian chất lượng thì lại dễ phàn nàn: Vợ tôi tất bật trong bếp suốt cả ngày, trong khi với tôi ăn uống thật đơn giản. Tôi chỉ muốn cô ấy đi bộ trò chuyện cùng mình mà cũng khó.

Khi yêu một ai đó, chúng ta luôn muốn làm cho họ cảm thấy hạnh phúc. Đó là điều rất tự nhiên, nhưng không phải ai cũng được công nhận về những gì mình đã làm, bởi đơn giản có lẽ là chúng ta đã không chịu tìm hiểu hiểu ngôn ngữ yêu thương của họ là gì.

Để khoang tinh yêu được đầy tràn, chúng ta phải tìm cách khám phá ra ngôn ngữ tình yêu của nhau. Tình yêu luôn đi kèm với hành động để chứng minh nó. Và bất kỳ ai trong chúng ta đều có thể làm một điều gì đó mang lại hạnh phúc cho người mình yêu trong ngày hôm nay.

Thân ái

Hải & Hằng – CGTV Hôn Nhân Gia Đình

->Đọc thêm...

Độc thân một con đường sống - FULL (Đọc Truyện Đêm Khuya)

->Đọc thêm...

26.8.14

Giáo Hội là một dân tộc được xây dựng trên đức tin


Giáo Hội mà Chúa Giêsu có ý khai sinh là một dân tộc không dựa trên huyết thống nữa mà dựa trên đức tin, nghĩa là dựa trên tương quan với chính Người, một tương quan của tình yêu thương và sự tin tưởng.

Đức Thánh Cha Phanxicô đã khẳng định như trên với hàng chục ngàn tín hữu và du khách hành hương trong buổi đọc kinh Truyền Tin trưa Chúa Nhật 24-8-2014 tại quảng trường thánh Phêrô.

Trong bài huấn dụ Đức Thánh Cha đã quảng diễn ý nghĩa bài Phúc Âm theo thánh Mátthêu chương 16 kể lại biến cố Chúa Giêsu hỏi các môn đệ cho biết người ta nói Người là ai, và đối với các ông Chúa là ai. Đại diện cho Nhóm Mười Hai ông Phêrô nói: ”Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”. Và Chúa Giêsu gọi ông là ”có phước” vì lòng tin mà Thiên Chúa Cha đã ban cho ông, và Ngài nói với ông: ”Con là Phêrô nghĩa là Đá Tảng, và trên tảng đá này Thầy sẽ xây Giáo Hội của Thầy”.

Chúng ta hãy dừng lại một chút trên điểm này, trên sư kiện Chúa Giêsu gán cho Simon tên gọi mới này: Phêrô trong tiếng nói của Chúa Giêsu là ”Kêpha”, có nghĩa là ”đá tảng”. Trong Thánh Kinh từ ”đá tảng” được quy chiếu về Thiên Chúa. Chúa Giêsu gán cho Simon tên gọi này không phải vì các đức tính hay công nghiệp loài người của ông, mà vì lòng tin tinh tuyền và vững chắc của ông, lòng tin đến từ trên cao.

Chúa Giêsu cảm nhận trong tim Người một niềm vui lớn lao, bởi vì Người nhận ra nơi ông Simon bàn tay của Thiên Chúa Cha và hoạt động của Chúa Thánh Thần. Người nhận ra rằng Thiên Chúa Cha đã ban cho ông Simon một đức tin ”có thể tin cậy được”, trên đó Chúa Giêsu có thể xây dựng Giáo Hội Người, nghĩa là cộng đoàn của Người. Đức Thánh Cha giải thích điểm này như sau:

Chúa Giêsu có trong tâm trí ý muốn khai sinh ra Giáo Hội ”của Người”, một dân tộc không xậy dựng trên huyết thống, nhưng trên đức tin, nghĩa là trên tương quan với chính Người, một tương quan của tình yêu thương và sự tin tưởng. Như thế để bắt đầu Giáo Hội của Người Chúa Giêsu đã cần tìm ra nơi các môn đệ một đức tin ”có thể tin cậy đươc”. Và đó là điều Người phải kiểm thực tại thời điểm này của lộ trình.

Đức Thánh Cha nói tiếp trong bài huấn dụ: Chúa đã có trong trí hình ảnh của vịệc xây dựng, hình ảnh của một cộng đoàn như một ngôi nhà. Chính vì thế khi nghe lời tuyên xưng đức tin thẳng thắn của ông Simon, Người gọi ông là ”đá tảng”, và bầy tỏ ý định xây dựng Giáo Hội của Người trên đức tin ấy.

Anh chị em thân mến, điều đã xảy ra một cách duy nhất nơi thánh Phêrô, cũng xảy ra nơi mọi tín hữu kitô có niềm tin chín chắn và chân thành nơi Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống. Phúc Âm hôm nay cũng gọi hỏi từng người trong chúng ta. Đức Thánh Cha nói thêm:

Nếu Chúa tìm thấy trong con tim chúng ta một đức tin, tôi không nói là toàn vẹn, nhưng chân thành, tinh tuyền, thì khi đó Người cũng thấy nơi chúng ta các viện đá sống động để xây dựng cộng đoàn của Người. Đá tảng của cộng đoàn này là Chúa Kitô, viên đá góc duy nhất. Về phần mình, thánh Phêrô là đá tảng, vì là nền tảng hữu hình sự hiệp nhất của Giáo Hội. Nhưng mỗi một tín hữu đã được rửa tội đều được mời gọi cống hiến cho Chúa Giêsu niềm tin nghèo nàn, nhưng chân thành của họ, để Người có thể tiếp tục xây dựng Giáo Hội của Người ngày hôm nay trên mọi phần đất của thế giới này.

Cả ngày nay nữa ”người ta” nghĩ rằng Chúa Giêsu là một ngôn sứ lớn, một bậc thầy của sự khôn ngoan, một mẫu gương của sự công chính... Và cả ngày nay Chúa Giêsu cũng hỏi các môn đệ Người: “Còn các con, các con nói Thầy là ai?” Chúng ta sẽ trả lời như thế nào? Hãy nghĩ tới điều đó. Nhưng nhất là hãy cầu xin Thiên Chúa Cha, để qua lời bầu cử của Đức Trinh Nữ Maria, cầu nguyện để xin Chúa ban cho chúng ta ơn trả lời với con tim chân thành:
“Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”.

Tiếp đến Đức Thánh Cha đã đọc kinh Truyền Tin và ban phép lành tòa thánh cho mọi người.

Sau Kinh Truyền Tin Đức Thánh Cha đã mời gọi mọi người cầu nguyện cho hòa bình tại Ucraina. Ngài nói: Tôi đặc biệt nghĩ tới vùng đất Ucraina yêu dấu, mà ngày hôm nay là lễ quốc khánh, tới tất cả các con cái và những người khao khát hòa bình và an ninh, bị đe dọa bới một tình trạng căng thắng và xung khắc không lắng dịu, gây ra biết bao nhiêu đau khổ cho thường dân. Chúng ta hãy phó thác cho Chúa Giêsu và Mẹ Maria toàn quốc gia này, và hiệp ý cầu nguyện cho mọi nạn nhân, gia đình họ và cho những người đang đau khổ.

Đức Thánh Cha đã chào nhiều nhóm hiện diện đến từ Tây Ban Nha, Chile, Pháp. Ngài cũng chào đặc biệt các tân đại chủng sinh trường Bắc Mỹ về Roma để học thần học, trong đó có một thày gốc Việt Nam. Ngài cũng chào 600 bạn trẻ giáo phận Bergamo cùng Đức Giám Mục sở tại hành hương đi bộ từ Roma tới Assisi. Đức Thánh Cha cầu chúc các bạn trẻ trở về nhà sống làm chứng cho vẻ đẹp của đức tin kitô.

Linh Tiến Khải

vatican

->Đọc thêm...