CLICK HERE FOR THOUSANDS OF FREE BLOGGER TEMPLATES »
“Hỡi anh em, ta hãy trung tín cùng Đức Chúa Trời cho đến chết ; cho đến chết, không một điều gì có thể dập tắt lòng thương mến Chúa Giêsu Kitô trong trái tim ta" (Những lời sau cùng của Chân Phước Anrê Phú Yên)

22.4.14

DVD1: Gặp gỡ chứng nhân LTX

->Đọc thêm...

Thông Điệp Phục Sinh Urbi et Orbi 2014 của Đức Thánh Cha Phanxicô


Anh chị em thân mến, Chúc Mừng Phục Sinh!

Giáo Hội trên khắp thế giới vang vọng thông điệp của thiên thần cho những người phụ nữ: “Tôi biết các bà tìm Ðức Giêsu, Ðấng bị đóng đinh. Người không có ở đây, vì Người đã chỗi dậy... Các bà đến mà xem chỗ Người đã nằm” (Mt 28:5-6)

Đây là đỉnh cao của Tin Mừng, đó là Tin Vui tuyệt hảo: Chúa Giêsu, Đấng bị đóng đinh, đã sống lại! Biến cố này là cơ sở của niềm tin và hy vọng của chúng ta. Nếu Chúa Kitô không sống lại,

Kitô giáo sẽ mất đi chính ý nghĩa của nó; toàn bộ sứ mệnh của Giáo Hội sẽ mất hết xung động, đây là điểm khởi đầu và tiếp tục mở ra bất tận những điều mới mẻ. Thông điệp mà các Kitô hữu mang đến cho thế giới này là: Chúa Giêsu, là tình yêu nhập thể, đã chết trên thập tự giá cho tội lỗi của chúng ta, nhưng Chúa Cha đã cho Ngài sống lại và đặt Ngài trở thành Chúa của sự sống và cái chết. Trong Chúa Giêsu, tình yêu đã chiến thắng hận thù, lòng thương xót lướt thắng tội lỗi, sự thiện hảo chiến thắng trên sự dữ, sự thật vượt lên trên dối trá, sự sống đánh bại sự chết.

Đó là lý do tại sao chúng ta nói với mọi người: “Hãy đến và xem” Trong mọi tình huống của con người, ghi dấu bởi sự yếu đuối, tội lỗi và cái chết, Tin Mừng không chỉ đơn thuần là những từ ngữ, nhưng là một chứng tá cho tình yêu vô điều kiện và trung tín: đó là chuyện để lại chính mình phía sau và gặp gỡ những người khác, gần gũi với những người bị chà đạp bởi những vấn nạn trong cuộc đời, chia sẻ với những người nghèo, đứng bên cạnh người bệnh, người già và người bị bỏ rơi. .. “Hãy đến và xem !” Tình yêu là mạnh hơn, tình yêu trao ban cuộc sống, tình yêu làm cho hy vọng nở hoa trong chốn hoang dại.

Với niềm vui chắc chắn này trong tâm hồn, hôm nay chúng con hướng về Ngài, Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh!

Xin Chúa giúp chúng con tìm kiếm Chúa và gặp thấy Chúa, để nhận ra rằng chúng con có một Cha và không phải là những trẻ mồ côi; và chúng con có thể yêu thương và tôn thờ Chúa.

Xin Chúa giúp chúng con vượt qua tai ương đói kém, ngày càng trầm trọng hơn bởi các cuộc xung đột và các lãng phí to lớn mà thường là chúng con phải chịu trách nhiệm.

Xin Chúa cho chúng con có thể bảo vệ những người dễ bị tổn thương, đặc biệt là trẻ em, phụ nữ và người cao tuổi, những người đôi khi bị khai thác và bị bỏ rơi.

Xin Chúa cho chúng con có thể chăm sóc cho anh chị em của chúng con đang gánh chịu trận dịch Ebola ở Guinea Conakry, Sierra Leone và Liberia, và có thể chăm sóc cho những người mắc rất nhiều bệnh khác nữa cũng lây lan bởi sự thờ ơ và nghèo đói cùng cực.

Xin Chúa an ủi tất cả những ai không thể mừng lễ Phục Sinh này với những người thân yêu của họ, vì họ đã bị chia lìa một cách bất công khỏi những tình thân, như nhiều người, linh mục và giáo dân, đã bị bắt cóc ở nhiều miền khác nhau trên thế giới.

Xin Chúa an ủi những người phải bỏ lại sau lưng đất nước của họ để di dân đến những nơi cho họ chút hy vọng về một tương lai tốt hơn và khả năng có thể sống trong phẩm giá và có thể tự do tuyên xưng đức tin của mình.

Chúng con xin Chúa, Lạy Chúa Giêsu, xin chấm dứt tất cả các cuộc chiến tranh và mọi xung đột, lớn nhỏ, cũ mới.

Chúng con cầu nguyện cách đặc biệt cho Syria, xin cho tất cả những người bị ảnh hưởng của cuộc xung đột có thể nhận được viện trợ nhân đạo cần thiết và không một bên nào tái sử dụng vũ lực chết người, đặc biệt là trên những người dân vô phương tự vệ, nhưng thay vào đó là mạnh dạn đàm phán cho nền hòa bình lâu dài đã được mong ngóng quá lâu!

Xin Chúa an ủi các nạn nhân của các hành vi bạo lực huynh đệ tương tàn tại Iraq và nâng đỡ hy vọng vừa loé lên từ việc nối lại các cuộc đàm phán giữa Israel và Palestine.

Chúng con xin Chúa chấm dứt các cuộc xung đột tại nước Cộng hòa Trung Phi và ngưng các cuộc tấn công khủng bố tàn bạo trong các miền tại Nigeria cũng như các hành vi bạo lực ở Nam Sudan.

Chúng con xin lòng trí con người có thể hướng đến hòa giải và hòa hợp huynh đệ tại Venezuela.

Nhờ sự Phục Sinh của Chúa, mà năm nay chúng con cử hành cùng một thời điểm với các Giáo Hội sử dụng lịch Julian, chúng con xin Chúa soi sáng và truyền cảm hứng cho những sáng kiến nhằm thúc đẩy hòa bình ở Ukraine để tất cả những người có liên quan, với sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế, sẽ đưa ra mọi nỗ lực để ngăn chặn bạo lực và vạch ra một con đường cho tương lai của đất nước trong một tinh thần đoàn kết và đối thoại.

Lạy Chúa, chúng con cầu xin cho tất cả các dân tộc trên trái đất này: Chúa là Đấng đã chiến thắng sự chết, xin ban cho chúng con sự sống của Chúa, xin ban cho chúng con bình an của Chúa!


Bài Giảng của Đức Thánh Cha Phanxicô
trong Lễ Vọng Phục Sinh 2014



Tin Mừng về sự sống lại của Chúa Giêsu Kitô bắt đầu với hành trình của những người phụ nữ đến mộ vào lúc bình minh vào ngày kế tiếp ngày Sa-bát. Họ đi đến ngôi mộ để chăm sóc cho thi hài của Chúa, nhưng họ nhận thấy ngôi mộ đã mở toang ra và trống rỗng. Một thiên thần oai vệ nói với họ: "Đừng sợ !" (Mt 28:5 ) và truyền cho họ hãy đi và nói với các môn đệ rằng "Người đã chỗi dậy từ cõi chết, và kìa Người đi Galilê trước các ông." ( câu 7). Những người phụ nữ vội vã lên đường và trên đường đi Chúa Giêsu đã gặp họ. Ngài nói: "Đừng sợ! về báo cho anh em của Thầy để họ đến Galilê. Họ sẽ được thấy Thầy ở đó" (câu 10).

Sau cái chết của Thầy, các môn đệ đã tản mác; đức tin của họ đã bị lung lay hoàn toàn, tất cả mọi thứ dường như đã kết thúc, tất cả những xác tín của họ đã sụp đổ và hy vọng của họ đã chết. Nhưng giờ đây thông điệp của những người phụ nữ, tự nó là không thể tin được, đến với họ như một tia sáng trong bóng tối. Tin tức loan đi: Chúa Giêsu đã sống lại như Ngài đã phán. Và sau đó có cả lệnh truyền của Ngài hãy đi Galilê. Những người phụ nữ đã nghe lệnh truyền này hai lần, lần đầu tiên từ thiên thần và sau đó từ chính Chúa Giêsu: "báo cho anh em của Thầy để họ đến Galilê. Họ sẽ được thấy Thầy ở đó ".

Galilê là nơi mà các tông đồ lần đầu tiên gặp Chúa, nơi mà mọi thứ bắt đầu! Trở lại đó, tức là quay trở lại nơi mà họ được kêu gọi ban đầu. Chúa Giêsu đã đi bộ dọc theo bờ hồ trong khi những ngư phủ này đang thả lưới. Ngài đã kêu gọi họ, và họ đã bỏ mọi sự mà theo Người (x. Mt 4:18-22 ).

Trở về Galilê có nghĩa là đọc lại tất cả mọi thứ trên cơ sở của thánh giá và vinh quang của thánh giá. Đọc lại tất cả mọi thứ - những lời rao giảng của Chúa, các phép lạ của Ngài, cộng đoàn mới, những phấn khích và đào tẩu, ngay cả sự phản bội - đọc lại tất cả mọi thứ bắt đầu từ cái sau cùng, dưới ánh sáng của hành động là tuyệt đỉnh của tình yêu. Đó là một khởi đầu mới.

Đối với mỗi người chúng ta cũng có một "Galilê" là nguồn gốc cuộc hành trình của chúng ta với Chúa Giêsu. "Đi đến Galilê " có nghĩa là một cái gì đó rất đẹp, nó có nghĩa là tái khám phá bí tích rửa tội của chúng ta như một suối nguồn sự sống, là kín múc năng lượng mới từ nguồn mạch đức tin và kinh nghiệm Kitô của chúng ta. Trở về Galilê trên tất cả có nghĩa là trở về với ngọn lửa mà ân sủng của Thiên Chúa đã chạm vào tôi lúc bắt đầu cuộc hành trình với Ngài. Từ ngọn lửa đó tôi có thể đốt lên ngọn lửa cho ngày hôm nay và cho mỗi ngày, và mang lại sức nóng và ánh sáng cho anh chị em của tôi. Ngọn lửa này loé lên một niềm vui khiêm nhường, một niềm vui mà u sầu và đau khổ không thể làm mất tinh thần, một niềm vui tốt lành và nhẹ nhàng.

Trong đời sống của mỗi Kitô hữu, sau phép rửa tội cũng có là một “Galilê” hiện sinh hơn: đó là kinh nghiệm của một cuộc gặp gỡ cá vị với Chúa Giêsu Kitô Đấng đã gọi tôi theo Ngài và chia sẻ sứ mệnh của Ngài. Theo nghĩa đó, trở về Galilê là lưu giữ trong trái tim tôi ký ức sống động về lời mời gọi, khi Chúa Giêsu đi ngang qua tôi, nhìn tôi chăm chú với lòng thương xót và gọi tôi theo Ngài. Nó có nghĩa là làm sống lại ký ức về thời điểm khi mắt Ngài gặp gỡ mắt tôi, thời điểm khi Ngài làm tôi nhận ra rằng Ngài yêu thương tôi.

Hôm nay, tối nay, mỗi người chúng ta có thể hỏi: Galilê của tôi là gì ? Galilê của tôi ở đâu? Tôi có nhớ nó không? Hay tôi đã quên nó rồi? Hay tôi đã đi chệch khỏi những con đường cho nên tôi đã quên nó? Lạy Chúa, xin giúp con: cho con biết Galilê của con ở đâu; vì Chúa muốn con trở lại đó gặp Chúa và để cho con được ôm ấp bởi lòng thương xót Chúa.

Tin Mừng Phục Sinh rất rõ ràng: chúng ta cần phải trở lại đó, để thấy Chúa Giêsu phục sinh, và trở thành chứng nhân phục sinh của Người. Điều này không phải là đi ngược thời gian; nó không phải là một loại hoài niệm quá khứ. Nó là trở lại với mối tình đầu của chúng ta với Chúa, để nhận được ngọn lửa mà Chúa Giêsu đã nhen nhóm trong thế giới này và mang ngọn lửa ấy đến cho tất cả mọi người, khắp cùng bờ cõi trái đất.

"Galilê của dân ngoại" (Mt 4:15; Is 08:23 ) ! Chân trời của Chúa Phục Sinh, chân trời của Giáo Hội; mong muốn mãnh liệt của cuộc gặp gỡ. .. Nào chúng ta hãy lên đường! "

J.B. Đặng Minh An dịch

->Đọc thêm...

13.4.14

NGUY CƠ CỦA TIỀN BẠC ĐỐI VỚI NHIỀU GIÁO SĨ, TU SĨ NGÀY NAY


Xưa Chúa Giêsu đã từng lưu ý các môn đệ của Người về nguy cơ của tiền bạc như sau:
“Không ai có thể làm tôi hai chủ: vì hoặc ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh chê chủ nọ. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi tiền của được. (Mt 6:24)
Hoặc nghiêm khắc hơn:
“Khốn cho các ngươi là những kẻ giàu có, vì các ngươi đã được phần an ủi của mình rồi” (Lc 6: 24)
Lời Chúa trên đây, về một phương diện, đã chỉ cho chúng ta mối hiểm nguy của lòng tham mê tiền của, chuộng giàu sang, phú quý ở trần gian này.
Nhưng thực sự có phải Chúa lên án những người giàu có – và như vậy - có nhiều tiền của là một cái tội hay sao?
Chắc chắn không phải vậy. Điều Chúa muốn nói với các môn đệ xưa và mọi người chúng ta ngày nay, là ta không được coi tiền của ở thế gian này trọng hợn phú quí giàu sang trên Nước Trời. Và nếu có may mắn được giàu có, thì hãy khôn ngoan mà biết dùng tiền của để "mua" hạnh phúc đời đời, bằng cách thực thi bác ái cách quảng đại để thương giúp, chia sẻ với những ai kém may mắn, thiếu thốn hơn mình, vì Chúa Kitô thực sự hiện diện nơi những người nghèo đói, rách rưới, cô đơn, ốm đau, bị tù đày và đang chờ chúng ta mở lòng thương cứu giúp .(Mt 25: 31-46)
Phúc Âm Thánh Luca, kể lại cho chúng ta dụ ngôn về một người giàu có bị phạt trong âm phủ trong khi người nghèo La-za-rô được lên Thiên Đàng chung vui hạnh phúc với Tổ phụ Abraham. Người giàu bị phạt không phải vì tội giàu có, mà bị phạt vì đã không thương bố thí tí gì cho người nghèo La-za-rô hàng ngày ngồi ăn xin ở cửa nhà mình. (Lc 16).
Như thế, đủ cho thấy rõ là nếu giàu có mà không có bác ái đi kèm thì sẽ trở thành ích kỷ và vô cảm (insensitive) trước sự đau khổ của biết bao người xấu số, nghèo đói, bệnh tật đang mong muốn được cưu mang, giúp đỡ vì lòng nhân đạo.
Là người tín hữu Chúa Kitô, hơn ai hết, chúng ta được mời gọi thực thi đức tin bằng đức ái, hay nói khác đi, bác ái là thước đo đức tin của mỗi người chúng ta theo lời Thánh Giacô-bê Tông Đồ dạy như sau:
“Thưa anh em, ai bảo rằng mình có đức tin mà không có hành động theo đức tin thì nào có ích gì?... Giả sử có người anh em hay chị em không có cái áo che thân và không đủ của ăn hàng ngày mà có ai trong anh em lại nói với họ: “hãy đi bình an, mặc cho ấm và ăn cho no” nhưng lại không cho họ những thứ thân xác họ đang cần, thì nào có ích gì?” (Gc 2:14-16).
Như thế, đức tin phải được thể hiện cụ thể bằng đức ái nồng nàn.
Sống trên trần gian này, không ai ngây thơ, hay thiếu thực tế mà cho rằng tiền bạc và phương tiện vật chất là không cần thiết. Ngược lại, trong giới hạn chính đáng của nó, chúng ta cần có tiền, có nhà ở, xe cộ làm phương tiện di chuyển để sống một đời sống phù hợp với nhân phẩm. Chúa không cấm chúng ta tìm tiền của, để sử dụng cho những nhu cầu chính đáng ấy của bản thân và cho gia đình.
Nhưng là người tin có Thiên Chúa, tin có hạnh phúc đời đời trên Thiên Quốc, thì ưu tiên phải là tìm kiếm Thiên Chúa và Vương Quốc hoan lạc của Người. Đó mới chính là nơi, mà người tín hữu chúng ta phải ưu tiên đầu tư tâm trí, thì giờ và tài năng để “sắm lấy những túi tiền chẳng bao giờ cũ rách, một kho tàng ở trên trời, nơi trộm cướp không bén bảng, mối mọt cũng không đục phá” (Lc 12: 33). Do đó, nếu không lo tìm kiếm sự sang giàu, phú quí của Nước Trời mà chỉ lo tìm kiếm của cải, tiền bạc chóng qua ở trần gian này, thì người ta sẽ dễ dàng đi đến chỗ tôn thờ tiền bạc, làm nô lệ cho của cải vật chất, hơn là tôn thờ Thiên Chúa là nguồn mạch của mọi giàu sang, và vinh phúc mà chính Chúa Giêsu “Người vốn giàu sang phú quí, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giầu có.” (2 Cor 8: 9)
Cả cuộc đời của Chúa Giêsu, từ khi sinh ra trong hang bò lừa, cho đến ngày chết tất tưởi không một mảnh vải che thân trên thập giá, đã dạy cho chúng ta một bài học đích đáng về sự hư vô của mọi vui thú và giàu sang trong trần thế này.
Vậy mà người ta - người có đức tin cũng như kẻ vô tín ngưỡng - vẫn nô nức nhau đi tìm tiền của bất chấp mọi nguyên tắc công bình nhân đạo và bác ái để miễn sao có được nhiều tiền thì thôi. Hãy nhìn xem những kẻ đang kiếm tiền, làm giầu bằng kỹ nghệ cờ bạc, nhất là buôn bán phụ nữ và trẻ em cho bọn người vô luân, vô đạo, môn đệ của Satan, đi tìm thú vui dâm ô vô cùng khốn nạn này ở khắp nơi trên thế giới hiện nay. Phải nói qủy satan đang thống trị bọn người môi giới để bán và mua thú vui cực kỳ nhơ bẩn và tội lỗi này; kể cả những kẻ đang khai thác kỹ nghệ sản xuất phim ảnh, sách báo khiêu dâm để đầu độc hàng triệu người lớn và trẻ em chỉ vì mục đích tìm tiền để làm giầu cách vô luân và vô đạo.
Người đời không có niềm tin thì sống như vậy, còn người tín hữu Chúa Kitô, thì sao?
Chúng ta có sống khác với những người không có đức tin hay cũng đồng lõa với họ trong việc mưu tìm tiền của và làm giầu cách phi pháp, vô đạo?
Thực tế đáng buồn đã cho thấy là, cũng vì tham tiền cách bất chánh, mà rất nhiều tín hữu đã làm những nghề hay dich vụ không phù hợp với đức tin Công giáo, như giúp người khác khai gian để lấy tiền bồi thường của bảo hiểm trong những vụ tai nạn xe cộ, hoặc buôn bán những sách báo, phim ảnh dâm ô, đồi trụy, làm hàng giả bán để kiếm tiền và làm hại người tiêu thụ. Đặc biệt là lén lút trồng cây thuốc phiện cần sa dưới nhãn hiệu “trồng và tưới cỏ”, để làm giầu cho mình và làm hại biết bao người khác.
Chắc chắn, khi làm những nghề hay dịch vụ nói trên để kiếm tiền, người ta đã quên mất địa vị và bản chất của mình là người tín hữu Chúa Kitô đòi hỏi phải tránh dịp tội cho mình và cho người khác. Tệ hại hơn nữa là có nhiều người công giáo ngày nay không có giờ để cầu nguyện, đi tĩnh tâm, tham dự Thánh lễ ngày Chúa Nhật và các ngày Lễ Trọng quanh năm, nhưng lại có dư ngày giờ để đi đến các chỗ ăn chơi, nhảy nhót hoặc chui vào các sòng bạc, casino lớn nhỏ, với hy vọng kiếm tiền cách bất lương, vô đạo, vì cờ bác là một tội lớn nghịch điều răn thứ Bảy và Mười mà người Công giáo phải tuân giữ cùng với các giới răn khác cho được ơn cứu độ.
Đó là về phía người giáo dân, còn linh mục, tu sĩ thì sao?
Thực là điều đáng buồn phải nói rằng cũng vì thích tiền, mê của cải vật chất hơn yêu mến Chúa Kitô và Phúc Âm sự Sống của Người, nên một số giáo sĩ, tu sĩ đã bất chấp luật công bằng và lương tâm để ăn cắp tiền của nhà Dòng, Nhà xứ và cả tiền của quỹ từ thiện, quỹ bảo trợ và xây cất Tu Viện, nhà thờ… để đi xây “tổ ấm” riêng, gây thiệt hại cho nhà Dòng, nhà xứ liên hệ, tạo gương mù cho giáo dân và tai tiếng cho hàng giáo sĩ nói riêng và cho Giáo Hội nói chung!
Xưa Giuđa đã bán Chúa cũng chỉ vì mê tiền của hơn yêu mến Thầy.
Chính vì hấp lực của đồng đôla, mà có người đã giả tàn tật, ngồi xe lăn để đi xin tiền; cũng như đã làm giả giấy giới thiệu của Bề Trên để xin tiền bỏ vào túi tham của mình. Lại nữa cũng với danh nghĩa xây nhà hưu dưỡng, nhà cho trẻ mồ côi, tàn tật, người ta đã quyên góp được biết bao nhiêu tiền. Nhưng cho đến nay các cơ sở này đã thành hình ở trong và ngoài nước chưa? để giúp ích cho các đối tượng được mượn danh nghĩa để đi quyên góp tiền bạc ở nhiều nơi? Hay tiền đó rút cuộc lại vào túi người đứng ra tổ chức và quyên góp mà không ai có thể biết được là bao nhiêu?
Chưa hết, còn nạn một số linh mục (Dòng và Triều) thường tổ chức mừng kỷ niệm thụ phong hay khấn Dòng để lấy tiền mừng. Theo truyền thống xưa nay trong Giáo Hội, thì người ta chỉ tổ chức mừng Ngân khánh (25 năm); Kim khánh (50 năm) và Ngọc khánh (60 năm). Việc này rất tốt và đáng duy trì để cảm tạ Chúa, đã cho mình được phục vụ Chúa và Giáo Hội lâu năm trong ơn gọi tận hiến.
Tuy nhiên đừng mượn cơ hội này để kiếm tiền như một số linh mục đã làm và chắc còn làm trong tương lai. Đó là những người mới có 1 năm, 10, 15 , 20 năm đã tổ chức mừng không phải chỉ trong Thánh lễ ở nhà xứ mà còn ra nhà hàng, restaurant để lấy tiền mừng của hàng mấy trăm người, có khi cả ngàn người được mời đến tham dự! Những người thân quen được mời đã đành, nhưng có những người không mấy quen biết cũng được mời cho đông nên người ta đã ta thán rằng “mình đâu có quen biết cha đó mà sao cũng được mời!"
Hãy đặt mình vào địa vị những người, mỗi tuần nhận được 2, 3 thiệp mừng đám cưới lại thêm thiệp mừng thụ phong của linh mục nào nữa thì họ sẽ xử trí ra sao? Và nếu họ phải đi tham dự thì lòng họ có vui khi phải chi ra những món tiền ít nhất là 50 dollars cho mỗi dịp như vậy?
Như thế, linh mục có nên mượn dịp thụ phong 1 năm 10 năm, 15 năm, 20 năm, 25 năm, 35 năm hoặc 40 năm để tổ chức linh đình tại nhà hàng với rất nhiều người được mời để kiếm tiền mừng hay không?
Đố có ai dám tổ chức và từ chối tiền mừng của người tham dự. Nếu làm được như vậy thì tha hồ tổ chức, mỗi năm một lần cũng không sao!
Sau hết, lại còn chuyện khôi hài nữa là một vài linh mục còn tổ chức sinh nhật (birthday) của mình và gửi thiệp mời giáo dân tham dự để làm gi???.
Đức Thánh Cha và các Giám mục giáo phận có ai làm chuyện lố lăng này đâu, mà sao mấy ông linh mục kia lại làm để gây phiền phức cho giáo dân và người quen bất đắc dĩ phải tham dự và có quà mừng.
Tóm lại, Linh mục và tu sĩ (những người có lời khấn Dòng) phải sống và làm gương khó nghèo của Phúc Âm cho giáo dân. Nếu cũng tham lam của cải trần gian để đi đến chỗ ăn cắp tiền (số tiền không nhỏ) của Nhà Dòng, Tu Hội hoặc giáo xứ thì còn dạy dỗ ai về đức công bằng và thuyết phục được ai sống tình thần khó nghèo của Chúa Kitô nữa?
Giàu có, tự nó, không phải là một tội phải tránh để cho được đẹp lòng Chúa. Nói khác đi, có tiền của, và nhiều phương tiện vật chất như nhà ở, xe tàu, ruộng đất v.v mà biết dùng những phương tiện này vào những mục đích tốt cho mình và cho người khác thì lại là điều đáng khen ngợi và đề cao. Nói được như vậỵ, là vì cuộc sống con người nói chung và hoạt động của Giáo Hội nói riêng, đều cần có tiền cho những nhu cầu chính đáng phải thỏa mãn như cơm ăn, áo mặc, nhà ở, thuốc men khi đau yếu, phương tiện di chuyển, xây cất và bảo trì cơ sở thờ phượng và đi rao giảng Tin Mừng. Cho nên, nếu nói không cần tiền và phương tiện vật chất, chỉ cần tinh thần thôi thì quả là không thực tế hay ảo tưởng.
Nhưng tại sao Chúa Giêsu phải nói những lời trên đây với các môn đệ khi đó và với mọi người chúng ta ngày nay?
Chắc chắn Chúa không lên án người giàu có chỉ vì ho có nhiều tiền của. Chúa cũng không dạy phải chê ghét tiền của và mọị tiện nghi vật chất như nhà ở, xe cộ, máy móc, điện thoại, và những tiện nghi của đời sống văn minh ngày nay.
Điều Chúa muốn nói và dạy chúng ta phải thực hành là không được yêu thích tiền của đến nỗi làm nô lệ cho nó, khiến quên lãng mục tiêu quan trọng hơn là tìm kiếm sự giàu sang và hạnh phúc bất diệt trên Nước Trời. Mê tiền của sẽ làm mù tối lương tâm của mọi người kể cả linh mục và tu sĩ, khiến coi việc ăn cắp, gian dối, lường gạt là vô hại cho phần rỗi của mình.
Tóm lại, mê tiền của sẽ là trở ngại lớn lao cho những ai muốn sống công bình và bác ái để chứng minh đức tin bằng việc lành cụ thể, vì đức tin mà không có việc bác ái đi kèm là đức tin chết theo lời dạy của Thánh Gia-cô-bê Tông Đồ. (Gc 2: 26 )
LM Phanxicô Xaviê Ngô tôn Huấn
Tác giả: Lm. PX. Ngô Tôn Huấn

->Đọc thêm...

11.4.14

RƯỚC CHÚA

->Đọc thêm...

2.4.14

BÌNH AN TRONG ĐỜI TU


Jos. Vinc. Ngọc Biển

Tôi có một anh bạn thân, anh ta là dự tòng và rất có thiện cảm với đạo Công Giáo của chúng ta. Mới có ý định theo đạo mà anh ta đã siêng năng đi lễ rồi. Trong cuộc trò chuyện với anh tại sân nhà thờ nọ, tôi chủ động bắt chuyện với anh, tôi hỏi anh: “anh đi lễ như vậy thì anh cảm thấy ấn tượng nhất là phần nào trong Thánh lễ?” Anh bạn trả lời: “mình ấn tượng nhất chính là các lần chào chúc bình an của linh mục với giáo dân và ngược lại”. Câu đó là: “Bình an của Chúa ở cùng anh chị em”, sau đó cộng đoàn đáp: “và ở cùng cha”. Anh bạn nói tiếp: “mình rất thích và cảm động vì lời chào chúc đó có một ý nghĩa sâu xa là cầu xin Thiên Chúa ban bình an của Người xuống trên ta”; “Sau lễ, mình ra về và hạnh phúc vì đã đón nhận được sự bình an của chính Thiên Chúa”.

Thật vậy, người được Chúa ban bình an của chính Chúa thì khác xa với sự bình an giới hạn theo lối hiểu của con người.

Qua bài viết này, tác giả muốn chia sẻ về sự bình an đích thực trong đời tu, để thấy được đâu là bình an thật và đâu là bình an giả tạo. Tuy nhiên, cũng nên làm một cuộc nhận thực về trạng thái bình an của con người trong xã hội hôm nay.

Vì thế, trước khi đi vào vấn đề trọng tâm của bài viết, xin được sơ qua về thứ bình an theo quan điểm của con người, đồng thời cũng làm toát lên sự bình an của Chúa, và, như một cách phân danh để thấy được đâu là sự khác biệt giữa bình an của người đời và bình an của Chúa trong đời tu.

1. Bình an theo lối hiểu của con người

Cuộc đời của con người luôn phải đối diện với đủ mọi khó khăn do mình gây ra, hoặc do người khác mang lại, và đôi khi cũng do thiên nhiên nữa. Rồi trong kiếp người, chúng ta luôn phải đối diện với sinh, lão, bệnh, tử... Bình an của con người lúc này chính là làm sao cuộc đời không gặp những chuyện bất trắc như ốm đau, bệnh tật, thay vào đó là có một sức khỏe tốt, một cuộc sống an nhàn bên con cháu.

Khi tham gia giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy hay đường hàng không... người ta mong được an toàn trên suốt lộ trình, không xảy ra tai nạn giao thông. Bình an ở đây chính là mong cho được đi đến nơi, về đến chốn mà không xẩy ra tai nạn.

Trong khi xây dựng các công trình, chúng ta thường thấy người ta treo những tấm panô với hàng chữ: “an toàn là trên hết”; hay “an toàn là bạn, tai nạn là thù”. Bình an trong lãnh vực này chính là mong sao cho công trình từ khởi sự cho đến hoàn thành không có điều gì cản trở hay thoát khỏi dấu vết của tại nạn.

Rồi trong cuộc sống, những trận cuồng phong bão tố, gây nên lụt lội, những trận sóng thần, những ngọn núi lửa, ô nhiễm môi trường và nguồn nước, những bệnh dịch tràn lan... Con người lo sợ thiên nhiên cướp đi mạng sống bất cứ lúc nào... Bình an trong hoàn cảnh này chính là mưa thuận gió hòa, môi trường trong lành...

Nói chung, bình an theo kiểu con người chính là mong sao được cơm no áo ấm, mạnh khỏe, được làm ăn phát đạt, được an nhàn thư thái, được may mắn, an toàn, và cuối cùng là được sống lâu...

2. Sự bình an đích thực đang mất dần trong xã hội hôm nay

Nhìn xa hơn khi vượt qua khuôn khổ đời tư hay gia đình, để mở tầm nhìn ra xã hội mà chúng ta đang sống hôm nay, hầu thấy được xã hội hiện thời là một xã hội văn minh, tiến bộ, nhưng là thứ văn minh của sự chết.

Trên thực tế đã chúng minh cho chúng ta thấy rất rõ. Nhiều người rất giàu, có quyền hành, địa vị cao, ấy vậy mà vẫn không thấy niềm vui và hạnh phúc đâu cả, mà chỉ thấy buồn phiền và lo lắng. Họ có thể là những người bất an khi trong nhà có quá nhiều tiền. Họ có thể là những người không vui khi ngày nào cũng phải lo củng cố địa vị và nơm nớp lo sợ bị truất phế, “mất ghế”.

Trong khi đó, hình ảnh của những người nghèo cũng không khỏi khắc khoải, lo âu đối chọi với cuộc sống lay lắt qua ngày.

Có những người chỉ mong có được gói mì tôm đáng giá 2.000 đồng để ăn cho đỡ đói cũng không ra; hay lại có những người bị con cái đánh và đuổi ra khỏi nhà để sống vật vờ nơi gầm cầu, xó chợ đây đó chỉ vì: “tại sao ông bà không nghe lời tôi”; “ông bà không làm theo ý của tôi...”. Một sự ngược đời, làm đảo lộn đạo đức gia phong đang diễn ra không ít trong thời buổi kinh tế thị trường hôm nay...

Có những bạn trẻ lại bị chính những người tưởng chừng như “má ấp môi kề” yêu thương đùm bọc sẽ là những người chung lưng đấu cật để cùng nhau xây dựng tổ ấm. Nhưng thực tế, nhiều người đã vỡ mộng. Đây đó, chúng ta thấy có những nhát dao chí tử để kết liễu cuộc đời của người yêu. Bên cạnh đó, chúng ta cũng thấy không ít những đôi tình nhân vì yêu nhau quá, nên không ngần ngại tìm đến cái chết để kết liễu cuộc đời khi bị áp lực phản đối của gia đình, công việc hay học hành.

Lại có những hạng người làm ăn rất an nhàn, đồng lương quá hậu hĩnh, nhưng họ lại là những người dính vào vòng lao lý khá nhanh, bởi vì họ chính là những: gái mại dâm, trùm ma túy, tướng cờ bạc...

Khía cạnh chính trị, chúng ta không lấy làm lạ khi nhận thấy đây đó người ta thanh trừng nhau để đảm bảo an ninh. Hiện tượng mới đây của Triều Tiên là một điển hình.

Giữa nước này với nước nọ cũng không ngừng “khoe tên lửa đầu đạn hạt nhân” nhằm võ sĩ dương oai với các nước khác. Mới đây nhất, Mỹ và Hàn tập trận để dằn mặt Triều Tiên. Rồi cũng có những nhà lãnh đạo, luôn miệng nhân danh chiến tranh để xây dựng hòa bình, nhưng khi người ta khởi phát chiến tranh thì lại là lúc người ta cảm thấy hòa bình đang dần xa và biến mất. Điều này không bao giờ có thể có được, bởi vì tự trong tâm, nó đã có mầm mống hủy diệt thì làm sao có được bình an? Cũng như làm sao có được cây mọc lên tươi tốt khi cái gốc của nó đã thối hoặc mục nát?

Cuối cùng, trong đời sống thường ngày, chúng ta thấy ngày càng xuất hiện nhiều căn bệnh mới mà hiện nay chưa có thuốc đặc trị... khiến cho con người không khỏi hoang mang...

Như thế, thế giới và con người ngày hôm nay luôn nơm nớp những sợ hãi, lo âu, thất vọng, bi đát và chán trường.

Đứng trước thực trạng đó, là người sống đời thánh hiến, chúng ta được mời gọi đi vào mối tương quan bình an của Chúa và với Chúa. Bởi vì, bình an ta có được là khởi đi từ Người.

3. Bình an của Đức Giêsu

Bình an của Đức Giêsu chính là sự bình an nội tâm. Bình an này không phải là thứ bình an hào nhoáng bên ngoài, cũng không được phủ lên nó một sự thành đạt, quyền bính hay danh dự ngoại tại... Bình an này cũng không phải không có ốm đau, bệnh tật... Bình an của Đức Giêsu chính là bình an ngay trong những thiếu thốn, thử thách, mất mát, bệnh tật và cả cái chết... tức là bình an ngay trong những điều tưởng chừng như mâu thuẫn: “Trong khi người Do Thái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ, còn người Hi Lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một Đấng Kitô bị đóng đinh, điều mà người Do Thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ” (1 Cr 1,22-23). Nhận được bình an của Chúa, người thụ hưởng sẽ cảm thấy: “tâm bất biến giữ dòng đời vạn biến”.

Thật thế, Đức Giêsu không nói: “chúc các con bình an”; hay: “các con ở lại bình an”, không! Ngài không nói như vậy. Nhưng trước khi từ biệt các môn đệ để lên đường chịu khổ nạn, Ngài nói: “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không như thế gian ban tặng” (Ga 14, 27). Rồi sau khi phục sinh, Ngài cũng trao ban chính bình an đó cho các môn đệ.

Bình an của Đức Giêsu chính là bình an sâu thẳm bên trong tâm hồn. Vì thế, bình an này không dừng lại ở bên ngoài, mà còn đi xa hơn để tiến tới tận căn là cõi lòng, tâm hồn người lãnh nhận.

Nếu Đức Giêsu trao ban cho các môn đệ bình an, rồi chuẩn bị lên đường chịu chết, thì người đón nhận nó cũng phải hướng đến cuộc khổ nạn của chính mình khi đón nhận sự bình an từ Chúa. Chúng ta đừng trở nên giống Phêrô, một Phêrô mới tuyên tín: “Thầy là Ðấng Kitô của Thiên Chúa" (Lc 9, 21), rồi sau khi nghe thấy Đức Giêsu loan báo sẽ tiến lên Giêrusalem để chịu nạn chịu chết, ông đã không ngần ngại cản Thầy đừng có đi. Phêrô chưa đón nhận được bình an của Đức Giêsu thực sự, ông còn “rất đời”. Nếu ông đã có bình an của Chúa thì ông sẵn sàng đi theo Chúa, đặt bước chân của mình vào bước chân của Chúa, để cùng vui mừng, ưu sầu và lo lắng vì ơn cứu độ của con người mà Thầy mình đang thi hành. Đàng này, ông đã hiểu sai và cũng hành động sai khi cản Thầy của mình đừng có đi để chịu chết...

Như vậy, bình an mà Đức Giêsu trao ban cho các môn đệ chính là Ngài; hay nói cách khác, Ngài chính nội dung, là nguồn cội của bình an. Vì thế, Ngài ban cho các ông bình an là Ngài ban chính Ngài cho các ông. Bình an của Đức Giêsu trao ban cho các môn đệ và mong muốn các ông đón nhận cũng như sống trong cuộc đời của mình mặc cho cuộc sống um sùm, rối ren, bon chen và sô bồ, thì người môn đệ của Chúa vẫn cứ: “gạn đục khơi trong” để sống trung thành với ơn gọi, sứ mạng Chúa trao.

4. Bình an trong đời sống thánh hiến

Nói đến đời sống thánh hiến, người ta thường nói: “cha, thầy, sơ có được bình an, hạnh phúc không?” Tại sao thế? Thưa! Bởi vì đơn thuần chỉ vì chúng ta là những người đi theo Đức Giêsu cách gần gũi hơn cả. Mà gần Chúa thì không lẽ gì không có bình an. Không lẽ gì lại là một “ông thánh, bà thánh buồn!”. “Thánh mà như vậy thì là một vị thánh đáng buồn”. Khi nói về tâm hồn của những người có Chúa, tức là có bình an của Chúa, đức Hồng Y Fx. Nguyễn Văn Thuận nói: “... Càng gian truân con càng vui tươi như Gioan và Phêrô bị đánh đập ở hội đường ‘ra về vui vẻ vì được xứng đáng chịu sỉ nhục vì danh Chúa’; như Phaolô: ‘Tôi tràn đầy vui tươi giữa những thử thách của tôi’" (ĐHV 536).

Nếu không có bình an, chúng ta cần xem lại mục đích đời tu của mình đặt ở đâu? Có bị sai đường trệch lối không?

Quả thật, nếu nói hạnh phúc là điều cần thiết, thì bình an là điều không thể thiếu trong tân hồn của người hạnh phúc. Chính Đức Giêsu đã thấy được tầm quan trọng của nó, nên đã trao ban bình an của người cho các môn đệ trước lúc từ biệt các ông để chịu chết và ngay sau khi phục sinh.

Nếu trong xã hội, con người không có bình an thì sẽ trở thành hỗn loạn và xã hội, gia đình sẽ bị rối beng. Con người sẽ cắn xé nhau vì miếng cơm manh áo, hay nói đúng hơn vì cái bụng.

Trong đời tu cũng thế, nếu không có sự bình an, cá nhân sẽ cảm thấy nặng nề, mệt mỏi và nhiều lúc so đo tính toán thiệt hơn... Nhất là người không có bình an thì sẽ cảm thấy cô đơn ngay trong lòng cộng đoàn, sẽ cảm thấy bất hạnh khi lựa chọn con đường đi tu, sẽ mất niềm hy vọng vào tương lai mai hậu. Như thế thì còn đâu hình ảnh một “Cộng đoàn: nơi tha thứ, chốn an vui?”.

Không có bình an, đời tu sẽ đặt để những mục đích của cuộc đời lung tung và làm đảo lộn giá trị.

Trong xã hội văn minh tiến bộ như hiện nay, nó đã đem lại cho con người nhiều thành quả tích cực trong đời sống. Tuy nhiên, nó cũng không ngừng phân rẽ hay nói đúng hơn, nó đang thách đố chúng ta về “niềm vui và hạnh phúc thật”. Nếu một người có bình an của Chúa thực sự, thì họ: “Thành công, cảm ơn Chúa; thất bại, cũng cảm ơn Chúa, vui tươi mãi... Chính là lúc đó Chúa muốn thử xem ta làm vì Chúa hay vì ý riêng ta. Vui vẻ, can đảm lúc thất bại khó khăn hơn hân hoan lúc xuôi may; hạng anh hùng này ta đếm được đầu ngón tay (x. ĐHV 537).

Là người sống đời thánh hiến, chúng ta lựa chọn đời sống độc thân, dâng hiến cuộc đời cho Chúa, từ bỏ mọi sự, ngay cả tình cảm chính đáng là tình yêu đôi lứa, để đi theo Chúa, sống độc thân vì Nước Trời là để thể hiện một điều gì đó vượt lên trên những thực tại của trần gian.

Khi lựa chọn đời tu như thế, chúng ta được mời gọi đến với con người, không phân biệt địa vị giai cấp... không hẳn là để chữa trị những căn bệnh thể lý, hay thay đổi đời sống hoặc có hoài bão làm thay đổi những diễn biến của thiên nhiên, ổn định hòa bình thế giới, hay cục diện của cuộc đời họ..., Không! Chúng ta được mời gọi đến để trở nên những biểu tượng tinh thần cho những biến cố này. Trở thành biểu tượng của niềm hy vọng cho con người vì một ngày mai tươi sáng hơn. Trở thành “niềm vui của Tin Mừng”.

Chúng ta được mời gọi trở nên những người thầy khôn ngoan, dẫn đường chỉ lối cho người ta thấy được đâu là hạnh phúc và niềm vui thực sự, đâu chỉ là tạm bợ chóng qua... Và, chúng ta sẽ trở thành những người: “Ðức Kitô là Ðấng Thánh, hãy tôn Người làm Chúa ngự trị trong lòng anh em. Hãy luôn luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của anh em " (1Pr 3,15).

Khi trở thành những người hướng dẫn như thế, chúng ta sẽ đem yêu thương, thứ tha, an hòa vào những nơi tranh chấp, để loại trừ hận thù, nghi nan và thất vọng. Đem niềm vui, cậy trông vào những nơi tối tăm, để loại trừ ưu sầu và thất vọng.

Làm được điều đó, chúng ta sẽ cảm thấy hạnh phúc và bình an, đồng thời nhiều người cũng được an bình.

Đã đến lúc, chúng ta nên ngồi lại để hồi tâm xem mình đã có bình an hay chưa?

Nếu có rồi thì tạ ơn Chúa và tiếp tục hân hoan tiến bước trên con đường đó. Nếu chưa, ta xem tại đâu? Tại ta đi sai đường hay tại ta chưa có tâm tu?

Chúng ta có thực sự lựa chọn đời tu vì mục đích là làm vinh danh Chúa và cứu rỗi các linh hồn không, hay chỉ vì những mục đích “rẻ tiền” như danh vọng, hình thức, hòa nhoáng bề ngoài, hoặc mong đạt được chức vị và cố gắng thế thủ hay như một nghề để trục lợi cho cá nhân?.

Để kết thúc bài viết, xin được mượn lời của thánh Phaolô để cầu chúc cho chúng ta và cũng mong cho chính mình được ơn bình an đích thực của Chúa: “Ước gì ơn bình an của Ðức Kitô điều khiển tâm hồn anh em, vì trong một thân thể duy nhất, anh em đã được kêu gọi đến hưởng ơn bình an đó. Bởi vậy, anh em hãy hết dạ tri ân” (Cl 3, 15).
vietcatholic

->Đọc thêm...

Vấn đề đào tạo Linh Mục ở Việt Nam


Mở đầu Sắc Lệnh Optatam Totius, Công Đồng Vatican II khẳng định: “Việc đào tạo linh mục là việc vô cùng quan trọng... Vì tính cách duy nhất của chức linh mục Công Giáo, nên việc đào tạo linh mục là cần thiết cho tất cả các linh mục dòng cũng như triều, thuộc bất cứ lễ chế nào” (OT số 1). Chính vì thế, công cuộc đào tạo con người, đào tạo linh mục và đời sống thánh hiến là mối quan tâm hàng đầu của Giáo Hội. Để có thể thực hiện tốt sứ vụ đào tạo nhân sự cho Giáo Hội trong bối cảnh hiện nay, chúng ta cần nhìn lại triết lý giáo dục và những nguy cơ có thể xảy ra trong việc huấn luyện con người.

1. Vấn đề giáo dục ở trong Nước

Nhà văn Nguyên Ngọc cảnh báo tình trạng khủng hoảng giáo dục ở Việt Nam như sau:

“Giáo dục của chúng ta hiện nay đang có vấn đề trong cả hệ thống của nó, hầu như tất cả các lãnh vực của nó đều có vấn đề, cái hỏng của nó có tính chất hệ thống chứ không phải cục bộ”.[1]

Ông đề cập tới cái “lỗi hệ thống”, một thứ lỗi nền tảng nhất, sâu xa nhất và nguy hại nhất. Theo các nhà giáo dục chân chính, nguyên nhân cuộc khủng hoảng giáo dục ở nước ta là do “triết lý giáo dục” vừa lạc hậu, vừa mất định hướng.[2] Giáo dục của chúng ta không chỉ là “lạc hậu” mà còn “lạc đường”. Đó là một điều tồi tệ nhất và đáng lo ngại nhất! Nếu lạc hậu mà còn đúng đường thì còn ít nguy hại hơn là lạc đường, vì lạc đường là hết cách cứu chữa nếu không có đổi hướng. Bởi vì, giáo dục chỉ là “nhồi nhét kiến thức” mà ít chú trọng đến việc giáo dục con người, không huấn luyện họ trở thành những người tốt, trưởng thành, có đạo đức và có chuyên môn. Phải có sự chuyển hướng và canh tân giáo dục thực sự cách triệt để và tận căn thì mới hy vọng rằng tương lai đất nước ta được sáng sủa hơn.

2. Việc đào tạo ở trong Giáo Hội

Trong công việc đào tạo linh mục – tu sỹ nam nữ của Giáo Hội, chúng ta cũng được cảnh báo về hiện tượng “nín thở qua sông” của ứng sinh; hay mô hình đào tào linh mục – tu sỹ thiếu tính thống nhất và tính toàn vẹn, đã đưa công cuộc đào tạo này rơi vào tình trạng một chiều như duy tri thức, duy tu đức, duy luân lý, hay duy kỹ năng và duy hiệu quả…

Kiểu huấn luyện một chiều thường quá chú trọng đến một phương diện mà lãng quên các phương diện khác. Chẳng hạn, lối huấn luyện duy tu đức là khuynh hướng giảm thiểu một cách nền tảng con người và toàn bộ chương trình đào tạo chỉ trong yếu tố tu đức, tâm linh mà thôi, trong khi đó lại lãng quên những yếu tố khác về nhân bản, tri thức và mục vụ; lối huấn luyện này ít quan tâm tới các vấn đề của con người, như sự trưởng thành tâm sinh lý, tình cảm, tính dục và tương quan liên vị... của ứng sinh. Họ được huấn luyện để trở thành những con người trong trắng như “những thiên thần” vậy, mà không hề biết nhiều về những thực tại “con người”!

Hoặc lối giáo dục duy tri thức là kiểu giáo dục chỉ lo lắng trau dồi tri thức, nhồi nhét kiến thức. Đào tạo chỉ tập trung vào “cái đầu” nhưng lãng quên toàn bộ con người. Đó là “những con mọt sách” hay những người có “đầu to mà đít nhỏ”, thiếu sự quân bình trong nhân cách v.v...

Ngược lại, lối giáo dục duy kỹ năng hay duy hiệu quả là lối huấn luyện chỉ tập trung trang bị cho các thụ huấn sinh những kỹ năng sống, kỹ năng thi hành sứ vụ hay làm việc và đánh giá họ theo chỉ tiêu chuẩn hiệu quả công việc, trong khi đó lại lãng quên huấn luyện căn tính và nhân cách của họ trước. Phải tập trung huấn luyện và hình thành nơi ứng sinh “căn tính tốt” trước khi “làm việc tốt”. Cần tránh lối huấn luyện chạy theo chức năng và vai trò mà lãng quên việc huấn luyện căn tính. Vì như cha ông ta nói: “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”. Phải “là” linh mục trước khi “làm” linh mục. Cần huấn luyện có căn tính tốt trước khi thi hành sứ vụ.

Cần phải có những nỗ lực canh tân kịp thời để chương trình huấn luyện phải giúp các ứng sinh thực sự được biến đổi toàn vẹn, trở thành những con người tốt, kitô hữu trưởng thành và những linh mục – tu sỹ thánh thiện để có thể đáp ứng cho những đòi hỏi của sứ vụ loan báo Tin Mừng trong bối cảnh của thế giới hôm nay.

Để thực hiện được việc canh tân đào tạo tại các Chủng Viện và Dòng Tu, trước hết chúng ta cần tránh lối đào tạo theo một mô hình một chiều, thiếu tính thống nhất và thiếu tính toàn vẹn. Cha Cencini nói tới những sự thiếu hụt có thể xảy ra trong đào tạo:[3]

Trước hết, đó là nguy cơ mô hình huấn luyện mơ hồ, nghĩa là không xác định được mục đâu là mô hình nền tảng và chính yếu để toàn bộ chương trình huấn luyện dựa vào đó làm mô mẫu và chuẩn mực. Nguy cơ thứ hai là mục tiêu huấn luyện thiếu rõ ràng. Việc huấn luyện không có mục tiêu. Nhà huấn luyện và người thụ huấn không biết sẽ phát xuất từ đâu và sẽ đi về đâu; huấn luyện để làm gì v.v... Ở đây, các mục tiêu huấn luyện không được xác định.

Một nguy cơ khác có thể xảy ra là lẫn lộn các giai đoạn huấn luyện. Trong huấn luyện thời gian tính rất quan trọng. Tiến trình huấn luyện phải được thực hiện theo từng gian đoạn như giai đoạn đầu, giai đoạn giữa và giai đoạn cuối. Mỗi giai đoạn có một sự đặc trưng riêng. Vì thế, chúng ta cần phải quan tâm và đảm bảo tính phù hợp của nó theo từng giai đoạn. Tránh lẫn lộn giao đoạn hoặc đốt cháy giai đoạn để việc huấn luyện có hiệu quả hơn.

Cuối cùng là phương pháp huấn luyện nghèo nàn. Cần loại bỏ phương pháp huấn luyện cổ điển lỗi thời. Đó là phương pháp theo kiểu:

“Trước tiên là huấn luyện tri thức, rồi huấn luyện mục vụ và nếu còn thời gian thì huấn luyện trưởng thành nhân bản. Vì thế, các giáo sư thì quan tâm đến hoạt động trí tuệ; các nhà huấn luyện quan tâm đến thực hành; các nhà linh hướng thì chăm lo phần hồn; các nhà tâm lý quan tâm đến bệnh lý; và chẳng ai quan tâm đến con người”.[4]

Việc huấn luyện linh mục và tu sỹ ngày hôm nay đòi hỏi phải là việc huấn luyện mang tính toàn vẹn về các phương diện khác nhau và quân bình cách chính đáng từng phương diện. Các thụ huấn sinh phải được huấn luyện trưởng thành và toàn nhập các phương diện tâm lý, tình cảm, tính dục, cảm xúc, ơn gọi, tính liên vị, tương quan, các đức tính nhân bản, tri thức, tu đức, mục vụ v.v... để có thể sống và làm chứng cách hiệu quả cho Tin Mừng giữa một thế giới đầy thách đố và cám dỗ như ngày hôm nay.

Tạm kết

Tương lai của Giáo Hội tùy thuộc rất nhiều vào công cuộc đào tạo nhân sự. Vì thế, hơn lúc nào hết, các Chủng Viện và các Dòng Tu cần có những nỗ lực cụ thể nhằm canh tân cách đúng đắn và triệt để công cuộc đào tạo linh mục và tu sỹ theo những đòi hỏi của Giáo Hội hiện nay, ngõ hầu việc đào tạo này mang lại nhiều hoa quả tốt đẹp cho sứ vụ loan báo Tin Mừng của Giáo Hội trong thế hiện hôm nay.

[1] Nguyên Ngọc, “Giáo dục ở nước ta hiện nay, đi ra bằng con đường nào?”, trong Những vấn đề giáo dục hiện nay…, 261-263.

[2] Cf. Gm. Nguyễn Thái Hợp, Tôn Giáo Giáo Dục. Một cách tiếp cận, CLB Phaolô Nguyễn Văn Bình 2009, 11-24.

[3] A. Cencini, Tâm Tình Chúa Con, NXB Tôn Giáo, 154.

[4] A. Cencini và A. Manenti, (Lm. Nguyễn Ngọc Kính, ofm chuyển ngữ), Tâm lý và huấn luyện cơ cấu và năng động, Nxb Phương Đông, HCM 2011, 191.



LM. Petrus Nguyễn Văn Hương
vietcatholic

->Đọc thêm...

29.3.14

Ơn Gọi Linh Mục Và Tu Sĩ, Những Điều Cần Quan Tâm


Thiên Chúa là nguồn gốc của mọi ơn gọi. Ơn gọi căn bản mà Thiên Chúa ban cho con người là ơn gọi làm con Chúa. Chúa còn ban cho Giáo Hội những ơn gọi linh mục và tu sĩ để theo sát Đức Kitô hơn và phục vụ dân Chúa. Đây là ơn gọi mà trong hoàn cảnh hiện nay có những điều cần quan tâm đến.

Lm. Giuse Lê Anh Tuấn - Đại Chủng Viện Xuân Lộc

1. Khơi mầm, nuôi dưỡng, phát triển, củng cố ơn gọi linh mục, tu sĩ

Nhìn vào Giáo Hội Việt Nam hôm nay, ai cũng phải nhìn nhận rẳng ơn gọi linh mục, tu sĩ vẫn còn rất phong phú. Nhưng phải nói ngay rằng, sự phong phú này khó có thể kéo dài trong tương lai, khi mà mỗi gia đình chỉ có 1 hoặc 2 con, hoặc khi xã hội bị tục hoá nặng nề… Riêng trong hiện tại, sự phong phú ơn gọi linh mục, tu sĩ chắc chắn không phải tự nhiên mà có, nhưng là kết quả của nhiều yếu tố tích cực như bầu khí gia đình đạo đức, môi trường xã hội tương đối còn lễ giáo. Ngoài ra, còn có yếu tố khách quan là sự kính trọng mà xã hội dành cho giới linh mục, tu sĩ. Tuy nhiên, khi gia đình mất đi bầu khí đạo đức, hoặc khi lễ giáo của môi trường xã hội bị suy giảm, hay khi linh mục, tu sĩ không còn được xã hội kính trọng, thì còn nảy sinh nhiều ơn gọi hay không? Do đó, ơn gọi linh mục, tu sĩ vẫn cần được quan tâm khơi dậy. Nhưng khơi dậy thế nào?

Ơn gọi linh mục, tu sĩ có thể nảy mầm trong các thanh thiếu niên, nhưng sẽ bị “thui chột” mau chóng, nếu không được nuôi dưỡng, chăm sóc, củng cố. Có nhiều yếu tố gây “thui chột” ơn gọi như : các gương xấu về sự ích kỷ, ngại hy sinh, đua đòi, hưởng thụ, sự vô cảm, những lời dèm pha, dè bỉu việc đi tu, những hình ảnh thiếu đạo đức và những điều nghịch đức tin trong đời thường nơi sách vở, báo chí, phim ảnh, internet... Vì thế, cần phải quan tâm nuôi dưỡng ơn gọi khi vừa chớm nở. Nhưng bằng cách nào ?

Ơn gọi linh mục, tu sĩ được nuôi dưỡng thì mới hy vọng tồn tại, nhưng tồn tại mà không phát triển thì không thể sinh hoa kết trái. Thậm chí, tồn tại mà không phát triển, sẽ đặt người ta vào tình trạng khó xử cho Bề Trên: “bỏ thì thương, vương thì tội !”. Cho tiến tới (chịu chức, khấn dòng…) thì Bề Trên không yên lương tâm. Cho lui (chuyển hướng) thì không đủ yếu tố. Không lẽ cứ cho đứng tại chỗ… Phải làm sao đây?

Ơn gọi linh mục, tu sĩ phát triển là điều đáng mong ước đối với Giáo Hội và với mọi người. Nhưng khi chúng ta tìm cách gia tăng số lượng ơn gọi cần đi đôi với nỗ lực phát triển, củng cố phẩm chất tương xứng. Vậy, phải làm thế nào để để khơi dậy, nuôi dưỡng, phát triển và củng cố ơn gọi linh mục, tu sĩ ?

2. Các thành phần Dân Chúa góp phần khơi dậy, nuôi dưỡng ơn gọi.

Trước tiên, những người trực tiếp có thể thực hiện là các bậc cha mẹ, các thầy cô giáo, các giáo lý viên và các linh mục, là những người có thể lắng nghe, đối thoại, phân định, đồng hành liên lỉ mỗi ngày với những người được giao cho mình, để giúp họ nhận ra tiếng Chúa mời gọi, ngay trong những điều bình thường mỗi ngày, chứ không phải chỉ trong những biến cố lớn đánh động lương tâm họ.

Các bậc cha mẹ cần tạo bầu khí gia đình đạo đức theo hai chiều, chiều dọc và chiều ngang. Chiều dọc là việc thờ phượng Chúa, thể hiện qua việc gia đình đều đặn tham dự phụng vụ cách sốt sắng, nhất là thánh lễ Chúa Nhật và bí tích giao hoà, kiên tâm học hỏi Lời Chúa, siêng năng đọc kinh gia đình và tích cực sống đạo. Chiều ngang là quan tâm tới nhau, yêu thương nhau, quảng đại hy sinh cho nhau, khích lệ nhau làm việc lành, và biết liên đới với mọi người.

Các thầy cô giáo khi đứng lớp, truyền đạt kiến thức phổ thông cho học sinh, cần nhắm đào tạo những con người thấm nhuần lễ giáo, nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, để làm nên một môi trường xã hội lành mạnh. Việc này phải được bắt đầu từ các giáo viên công giáo, rồi từ các giáo viên công giáo, lan ra các giáo viên khác. Bên cạnh đó, người động viên các thầy cô giáo theo định hướng đạo đức vẫn là các linh mục.

Các giáo lý viên không chỉ lo lắng dạy giáo lý cho các thiếu nhi và thiếu niên, mà còn cần lưu tâm dạy cho họ nhân bản và đạo đức nữa. Hơn nữa, các giáo lý viên khi dạy giáo lý để chuẩn bị cho các thiếu nhi và thiếu niên lãnh nhận các bí tích, cũng không quên khơi dậy ơn gọi nơi các em. Quả thế, các giờ giáo lý, các cuộc gặp gỡ huấn luyện, cầu nguyện phụng vụ, hành hương, là những cơ hội quý báu để giáo lý viên khơi dậy nơi những người trẻ, ý thức mình thuộc về Giáo Hội và trách nhiệm đáp lại ơn gọi linh mục và đời sống thánh hiến[1].

Các linh mục, chủ chăn các linh hồn phải đích thân tham dự vào việc khơi dậy, nuôi dưỡng, phát triển, củng cố ơn gọi linh mục, tu sĩ, trong mọi nơi, mọi lúc, bằng mọi cách, dưới nhiều hình thức, đặc biệt là gương sáng về một đời phục vụ bình an, hạnh phúc, thanh thoát, cũng như về tình hiệp thông huynh đệ linh mục và về tương quan thuận thảo, trong sáng với các tu sĩ nam nữ. Chính các ngài có thể khơi dậy ơn gọi bằng những gặp gỡ, tiếp xúc, gợi ý hướng thượng cho các thiếu nhi và thiếu niên. Các ngài còn góp phần nuôi dưỡng, bảo vệ ơn gọi linh mục, tu sĩ bằng cách lưu tâm không để cho các em tiếp xúc hoặc bị ảnh hưởng xấu bởi những yếu tố gây “thui chột” ơn gọi. Đồng thời, để phát triển ơn gọi linh mục, tu sĩ, các ngài sẵn sàng cung cấp những điều kiện thuận lợi để phát triển về đạo đức, nhân bản, tri thức, mục vụ, tông đồ cho các người đang trong hành trình ơn gọi. Các ngài cũng không quên thúc đẩy, nhắc nhở các bậc cha mẹ ý thức chu toàn bổn phận của họ đối với con cái. Các ngài góp ý cho các thầy, cô giáo để họ biết quan tâm đào tạo học sinh phát triển toàn diện, đúng đắn. Và các ngài cần tạo điều kiện thuận lợi cho các giáo lý viên thi hành chức năng của họ.

3. Những phương thế có thể thực hiện để phát triển và củng cố ơn gọi.

a. Cầu nguyện

Ơn gọi vào sứ vụ linh mục và đời sống thánh hiến là thành quả của lời cầu nguyện tha thiết dâng lên ‘Chủ mùa gặt’, như Chúa Giêsu đã dạy chúng ta : “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít. Các con hãy cầu xin Chủ mùa gặt sai nhiều thợ gặt đến trong ruộng của Người” (Mt 9, 36-38). Theo thói quen chúng ta thường tập trung vào ngày quốc tế cầu nguyện cho ơn gọi, nhưng làm như thế là chưa đủ. Trong các giáo xứ, các gia đình, các nhóm lo cho ơn gọi, phải luôn luôn dâng lên Chúa lời cầu nguyện cho có nhiều ơn gọi, như Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI khẳng định : “Mỗi ơn gọi đặc thù đều nảy sinh từ sáng kiến của Thiên Chúa, là hồng ân tình thương của Chúa ! Chính Chúa đi ‘bước đầu’ chứ không phải vì sự tốt lành riêng nào nơi chúng ta, đúng hơn đó là do sự hiện diện của chính tình thương Chúa được ‘đổ xuống trong tâm hồn chúng ta nhờ Thánh Linh’ (Rm 5, 5). Trong mọi thời đại, nơi nguồn mạch ơn gọi của Chúa, đều có sáng kiến tình thương vô biên của Thiên Chúa, Đấng hoàn toàn tỏ mình ra trong Đức Giêsu Kitô....[2]”.

Chắc chắn mọi người đều có bổn phận cầu xin Chúa cho có nhiều ơn gọi linh mục, tu sĩ, như Công đồng Vatican II dạy : “Nghĩa vụ làm gia tăng ơn gọi linh mục là điều thuộc về toàn thể cộng đoàn Kitô. Cộng đoàn có nghĩa vụ chu toàn công tác này nhất là bằng đời sống Kitô hoàn hảo[3]”. Để làm theo lời dạy của Công đồng, cần phải cầu xin Chúa cho mọi người biết quan tâm lo lắng cho ơn gọi, biết lưu ý tới việc khơi mầm, nuôi dưỡng, phát triển, củng cố ơn gọi linh mục và tu sĩ, bằng việc căn bản là làm gương sáng. Cũng cần cầu xin cho các cha mẹ biết quảng đại dâng con cho Chúa. Cầu cho các gia đình biết hỗ trợ khích lệ những gia đình nào có con đi tu. Cầu cho các thầy cô giáo biết luôn hành động theo lương tâm đúng đắn, khi dạy dỗ học sinh. Và cầu cho các giáo lý viên biết giúp các thiếu nhi và thiếu niên khám phá ra ơn gọi của mình.

b. Phát triển các trung tâm ơn gọi

Một cách thức rất tốt để cổ võ và tổ chức việc mục vụ ơn gọi là phát triển các trung tâm ơn gọi (hoặc nhà ơn gọi) của giáo phận, của giáo hạt, của hội dòng. Cần quan tâm đầu tư nhân sự cho các trung tâm này. Chọn những người có ‘tâm’ và có ‘tầm’ chuyên hoạt động cho mục vụ này, để chăm lo và vun trồng ơn gọi cách thiết thực và hiệu quả. Cần có những linh mục hoặc tu sĩ với chương trình, kế hoạch, và phương tiện để “giúp cho các bạn trẻ biết sống tình bạn chân thành với Chúa, tăng trưởng lòng mến Chúa nhờ được vun trồng qua kinh nguyện cá nhân và phụng vụ, qua việc học biết cách chăm chú lắng nghe Lời Chúa một cách hiệu quả, ngày càng làm quen với Kinh Thánh ; cho các bạn trẻ thấy Lời Chúa, cầu nguyện và Thánh Thể là kho tàng quý giá giúp cho hiểu vẻ đẹp của một cuộc sống hoàn toàn dâng hiến cho Nước Thiên Chúa; dần dần giúp các bạn trẻ hiểu rằng việc sống theo thánh ý Chúa không hề hủy hoại và không phá hủy con người, nhưng giúp con người khám phá và theo đuổi sự thật sâu xa nhất về bản thân ; giúp các bạn trẻ biết sống tinh thần quảng đại và huynh đệ trong quan hệ với tha nhân, vì chỉ ra cho các bạn trẻ thấy rằng khi con người chúng ta cởi mở đối với tình yêu Thiên Chúa thì tìm được niềm vui đích thực và hoàn toàn làm cho những khát vọng của mình được mãn nguyện[4]”.

Kết luận : Ơn gọi linh mục, tu sĩ là một vấn đề cần phải được quan tâm nhiều hơn, cần phải đầu tư cho nền mục vụ ơn gọi cách thích đáng để khích lệ và nâng đỡ những người tỏ ra muốn đi vào đời sống linh mục và đời sống thánh hiến[5]. Trong hoàn cảnh hiện nay và tương lai muốn được nhiều ơn gọi có phẩm chất, những linh mục và tu sĩ nơi các trung tâm ơn gọi thường xuyên liên kết với các giáo xứ, giáo hạt, giáo phận để cùng với các bậc cha mẹ, các thầy cô giáo, các giáo lý viên và các linh mục quản xứ cổ võ cầu nguyện, khơi dậy ơn gọi, rồi có chương trình dạy dỗ để nuôi dưỡng, củng cố, hướng dẫn các người trẻ ngay từ khi ơn gọi nẩy mầm, đặc biệt chú trọng phát triển về đời sống tâm linh. Điều này sẽ làm nền tảng thuận lợi cho việc đào tạo và sống đời linh mục, tu sĩ sau này. Nhờ đó, Giáo hội có được những chứng nhân Tin Mừng tích cực góp phần thiết thực cho công cuộc tân phúc âm hóa. Trong Tông huấn Đời sống Thánh hiến ĐTC Gioan Phaolô II viết: “Chính phẩm chất thiêng liêng của đời thánh hiến mới lay chuyển được những con người thời đại này- họ cũng đang khao khát những giá trị tuyệt đối- và trở thành một lời chứng hấp dẫn”[6]
dcvxuanloc

->Đọc thêm...

26.3.14

MỤC TỬ VÀ MỤC VỤ HAY DỊCH VỤ VÀ KẺ CHĂN THUÊ?


1. Mục Tử và Mục Vụ hay Dịch Vụ và kẻ chăn thuê?

Chúa Giêsu là Mục Tử Nhân Lành, Ngài đã tín nhiệm trao cho thánh Phêrô và các Tông đồ sứ mệnh mục tử chăn dắt đoàn chiên Chúa. Đức Giáo Hoàng và các Giám mục là những người thừa kế, và khi lãnh nhận chức linh mục từ tay các ngài, chúng ta được thông dự vào sứ mệnh mục tử ấy. Điều đó minh định rằng đoàn chiên là của Chúa, chứ không phải của chúng ta và chúng ta lãnh nhận trách nhiệm chăn dắt đoàn chiên từ Giáo Hội, chứ không phải từ nơi nào khác hay tự ý chúng ta. Mọi người đều coi chúng ta là mục tử, nhưng thực tế như thế nào? Thánh Augustinô nói: “Có những mục tử chỉ muốn nghe người ta gọi mình là mục tử, mà không muốn chu toàn nhiệm vụ mục tử”[1].

Chính Chúa Giêsu nói về Ngài: “Tôi là cửa cho chiên ra vào. Mọi kẻ đến trước tôi đều là trộm cướp; nhưng chiên đã không nghe họ. Tôi là cửa. Ai qua tôi mà vào thì sẽ được cứu. Người ấy sẽ ra vào và gặp được đồng cỏ. Kẻ trộm chỉ đến để ăn trộm, giết hại và phá huỷ. Phần tôi, tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào. Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên… Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Tôi biết chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi, như Chúa Cha biết tôi, và tôi biết Chúa Cha, và tôi hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên. Tôi còn có những chiên khác không thuộc ràn này. Tôi cũng phải đưa chúng về. Chúng sẽ nghe tiếng tôi. Và sẽ chỉ có một đoàn chiên và một mục tử… Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi”[2].

Còn chúng ta? Là linh mục, chúng ta không lên thiên đàng hay xuống hỏa ngục một mình, mà còn kéo theo những người được giao phó cho chúng ta trách nhiệm chăn dắt. Trách nhiệm đó rất lớn, vì như thánh Augustinô nói, chúng ta vừa là tín hữu vừa là người đứng đầu đoàn chiên Chúa: nguyên là tín hữu thôi chúng ta đã phải trả lẽ với Thiên Chúa về đời sống mình rồi, huống chi là người đứng đầu thì còn phải trả lẽ về công việc chăn dắt của mình nữa[3]. Nhưng chúng ta chăn dắt đoàn chiên Chúa như thế nào? Cùng với Chúa Giêsu và qua Chúa Giêsu hay trèo qua lối khác? Thánh Gioan Tông đồ thánh sử mô tả: “Ai không đi qua cửa mà vào ràn chiên, nhưng trèo qua lối khác mà vào, người ấy là kẻ trộm cướp. Còn ai đi qua cửa mà vào, người ấy là mục tử. Người giữ cửa mở cho anh ta vào, và chiên nghe tiếng của anh; anh gọi tên từng con, rồi dẫn chúng ra. Khi đã cho chiên ra hết, anh ta đi trước và chiên đi theo sau, vì chúng nhận biết tiếng của anh. Chúng sẽ không theo người lạ, nhưng sẽ chạy trốn, vì chúng không nhận biết tiếng người lạ…”[4]



Là mục tử, chúng ta hết lòng phục vụ, quan tâm đến hoàn cảnh sống và sự an nguy của đàn chiên cả về đức tin lẫn cuộc sống đời thường của họ. Các linh hồn đáng cho linh mục chúng ta hy sinh cả cuộc đời cho họ, như Chúa Giêsu, “Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên”[5]. Trái lại, “người làm thuê, vì không phải là mục tử, và vì chiên không thuộc về anh, nên khi thấy sói đến, anh bỏ chiên mà chạy. Sói vồ lấy chiên và làm cho chiên tán loạn, vì anh ta là kẻ làm thuê, và không thiết gì đến chiên”[6].



Không ai trong chúng ta muốn làm kẻ chăn thuê hay kẻ trộm cướp, thực thi sứ vụ linh mục như một dịch vụ nhằm chỉ tìm lợi ích cho bản thân, còn ai sống ai chết mặc ai. Những lời sau đây của ngôn sứ Giêrêmia và Edêkiel chất vấn và cảnh tỉnh chúng ta: “Khốn thay những mục tử làm cho đàn chiên Ta thất lạc và tan tác… các ngươi đã xua đuổi và chẳng lưu tâm đến chúng”[7]; “Khốn cho các mục tử chỉ biết lo cho mình!… Sữa chiên thì các ngươi uống, len của chúng thì các ngươi mặc, con nào béo tốt thì các ngươi giết, và chẳng thèm lo chăn dắt đàn chiên. Chiên đau yếu các ngươi không làm cho mạnh; chiên bệnh tật các ngươi không chữa cho lành; chiên bị thương các ngươi không băng bó; chiên bị lạc các ngươi không đưa về; chiên bị mất các ngươi không chịu đi tìm. Các ngươi thống trị chúng một cách tàn bạo và hà khắc. Chiên của Ta tán loạn vì thiếu mục tử và biến thành mồi cho mọi dã thú, khiến chúng bị tán loạn. Chiên của Ta tản mác trên các ngọn núi, trên mọi đỉnh đồi, trên khắp mặt đất, thế mà chẳng ai chăm sóc, chẳng ai kiếm tìm”[8]; “Hỡi các mục tử chỉ biết lo cho mình mà không chăn dắt đàn chiên của Ta, đây Ta chống lại các ngươi. Ta sẽ đòi lại chiên của Ta, Ta sẽ không để các ngươi chăn dắt chiên Ta nữa…để chiên của Ta sẽ không còn làm mồi cho chúng nữa”[9].

Một cách phân biệt mục tử hay kẻ chăn thuê khác có lẽ rất thời sự mà chúng ta có thể tìm thấy trong lời biện giải của Thánh Grêgôriô Cả Giáo Hoàng: “Khi thinh lặng, người lãnh đạo phải khôn ngoan; khi nói năng phải liệu sao cho hữu ích, để khỏi nói ra điều cần giữ kín, hay không làm thinh khi cần lên tiếng. Một lời nói thiếu thận trọng lôi kéo người ta vào con đường lầm lạc; cũng vậy sự thinh lặng thiếu khôn ngoan khiến người ta tiếp tục sống trong lầm lạc đang khi lẽ ra họ có thể được soi sáng. Thật thế, nhiều khi các vị lãnh đạo không biết lo xa, sợ không được lòng người đời nên ngại không dám thẳng thắn nói ra sự thật. Họ không nhiệt thành chăm sóc đoàn chiên theo lời Đấng là sự thật, cho đúng với nhiệm vụ mục tử, mà chỉ chăn dắt như người làm thuê, vì khi ẩn mình làm thinh thì chẳng khác gì họ xa chạy cao bay khi chó sói đến… Quả vậy, đối với người mục tử, làm thinh không dám nói sự thật vì sợ hãi lại chẳng phải là quay lưng chạy trốn hay sao?”[10]



2. Chia sẻ tâm hồn mục tử với Chúa Giêsu

Linh mục chủ động đi bước trước như các tông đồ:

Phúc Âm Mathêô tường thuật: “Chiều đến, các môn đệ lại gần thưa với Chúa Giêsu: “Nơi đây hoang vắng, và đã muộn rồi, xin Thầy cho dân chúng về, để họ vào các làng mạc mua lấy thức ăn”. Đức Giê-su bảo: “Họ không cần phải đi đâu cả, chính anh em hãy cho họ ăn”[11]. Còn Marcô thì nói: “Vì bấy giờ đã khá muộn, các môn đệ đến gần Chúa Giêsu và thưa: “Ở đây hoang vắng và bây giờ đã khá muộn. Xin Thầy cho dân chúng về, để họ vào thôn xóm và làng mạc chung quanh mà mua gì ăn”. Người đáp: “Thì chính anh em hãy cho họ ăn đi!”[12]. Và Luca: “Ngày đã bắt đầu tàn, nhóm Mười Hai đến bên Đức Giê-su thưa Người rằng ‘xin Thầy cho đám đông về, để họ vào các làng mạc nông trại quanh đây, tìm chỗ trọ và kiếm thức ăn, vì nơi chúng ta đang ở đây là nơi hoang vắng’. Đức Giê-su bảo: ‘Chính anh em hãy cho họ ăn’[13].



Chúa Giêsu chủ động trước

“Ra khỏi thuyền, Đức Giê-su thấy một đám người rất đông thì chạnh lòng thương, vì họ như bầy chiên không người chăn dắt. Và Người bắt đầu dạy dỗ họ nhiều điều.Người bảo các ông: ‘Anh em có mấy chiếc bánh? Đi coi xem!’[14]. ‘Đem lại đây cho Thầy!’ Rồi sau đó, Người truyền cho dân chúng ngồi xuống cỏ[15], thành từng nhóm khoảng năm mươi người một’. Các môn đệ làm y như vậy, và bảo mọi người ngồi xuống[16]. “Ngước mắt lên, Đức Giê-su nhìn thấy đông đảo dân chúng đến với mình. Người hỏi ông Phi-líp-phê: ‘Ta mua đâu ra bánh cho họ ăn đây?’ Người nói thế là để thử ông, chứ Người đã biết mình sắp làm gì rồi[17].



Sự hợp tác với Chúa Giêsu và Kết quả

Các ông đáp: ‘Ở đây, chúng con chỉ có vỏn vẹn năm cái bánh và hai con cá!’[18]. ‘Chúng con phải đi mua tới hai trăm quan tiền bánh mà cho họ ăn sao?’[19]. Ông Phi-líp-phê đáp: ‘có mua đến hai trăm quan tiền bánh cũng chẳng đủ cho mỗi người một chút’. Ông An-rê thưa với Người: ‘Ở đây có một em bé có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá, nhưng với ngần ấy người thì thấm vào đâu![20]. Nhưng Chúa Giêsu cầm lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra, trao cho môn đệ. Và môn đệ trao cho dân chúng[21]. Người cũng chia hai con cá cho mọi người[22]… nguyên số đàn ông đã tới khoảng năm ngàn… ai muốn ăn bao nhiêu tuỳ ý[23]. Và khi ai nấy đều được ăn no nê, những mẩu bánh còn thừa, người ta thu lại được mười hai giỏ đầy. Số người ăn có tới năm ngàn đàn ông, không kể đàn bà và trẻ con[24]. Ai nấy đều ăn và được no nê. Người ta thu lại những mẩu bánh được mười hai thúng đầy, cùng với cá còn dư[25]. Khi họ đã no nê rồi, Người bảo các môn đệ: ‘Anh em thu lại những miếng thừa kẻo phí đi.’ Họ liền đi thu những miếng thừa của năm chiếc bánh lúa mạch người ta ăn còn lại, và chất đầy được mười hai thúng[26].



Kết quả là dân chúng thấy dấu lạ Chúa Giê-su làm thì nói: ‘Hẳn ông này là vị ngôn sứ, Đấng phải đến thế gian!’ Nhưng Ngài biết họ sắp đến bắt mình đem đi mà tôn làm vua, nên Ngài lại lánh mặt đi lên núi một mình[27]. Đây là mẫu gương cho anh em linh mục chúng ta khi đối diện với những cơn cám dỗ của thành công, của vinh dự, giàu sang và quyền lực.



3. Cách Linh mục cư xử với đoàn chiên

Noi gương thánh Phaolô và làm theo những lời ngài khuyên bảo: “Chúng tôi đã quý mến anh em, đến nỗi sẵn sàng hiến cho anh em, không những Tin Mừng của Thiên Chúa, mà cả mạng sống của chúng tôi nữa, vì anh em đã trở nên những người thân yêu của chúng tôi. Hẳn anh em còn nhớ nỗi khó nhọc vất vả của chúng tôi: đêm ngày chúng tôi đã làm việc để khỏi thành gánh nặng cho một người nào trong anh em, suốt thời gian chúng tôi loan báo Tin Mừng của Thiên Chúa cho anh em. Anh em làm chứng và Thiên Chúa cũng chứng giám rằng với anh em là những tín hữu, chúng tôi đã cư xử một cách thánh thiện, công minh, không chê trách được. Chúng tôi đã cư xử với mỗi người trong anh em như cha với con; chúng tôi đã khuyên nhủ, khích lệ, van nài anh em sống xứng đáng với Thiên Chúa, Đấng kêu gọi anh em vào Nước của Người và chia sẻ vinh quang với Người[28].



“Khi ở giữa anh em, chúng tôi đã không sống vô kỷ luật. Chúng tôi đã chẳng ăn bám ai, trái lại đêm ngày đã làm lụng khó nhọc vất vả, để khỏi nên gánh nặng cho người nào trong anh em. Không phải là vì chúng tôi không có quyền hưởng sự giúp đỡ, nhưng là để nêu gương cho anh em bắt chước[29]. “Điều khiến chúng tôi tự hào là lương tâm chúng tôi làm chứng rằng chúng tôi lấy sự thánh thiện và chân thành Thiên Chúa ban mà cư xử với người ta ở đời, đặc biệt là với anh em. Chúng tôi không cư xử theo lẽ khôn ngoan người đời, nhưng theo ân sủng của Thiên Chúa”[30]. “Chớ gì đừng có ai coi thường anh vì anh còn trẻ. Trái lại, anh hãy nên gương mẫu cho các tín hữu về lời ăn tiếng nói, về cách cư xử, về đức ái, đức tin và lòng trong sạch… Anh hãy thận trọng trong cách ăn nết ở và trong lời giảng dạy. Hãy kiên trì trong việc đó. Vì làm như vậy, anh sẽ cứu được chính mình, lại còn cứu được những người nghe anh giảng dạy”[31].

“Khi phục vụ Chúa, tôi đã hết lòng khiêm tốn, đã nhiều lần phải rơi lệ, đã gặp bao thử thách do những âm mưu của người Do-thái. Anh em biết tôi đã không bỏ qua một điều gì có ích cho anh em; trái lại tôi đã giảng cho anh em và dạy anh em ở nơi công cộng cũng như tại chốn tư gia. Tôi đã khuyến cáo cả người Do-thái lẫn người Hy-lạp phải trở về với Thiên Chúa, và tin vào Đức Giê-su, Chúa chúng ta. Giờ đây, bị Thần Khí trói buộc, tôi về Giê-ru-sa-lem, mà không biết những gì sẽ xảy ra cho tôi ở đó, trừ ra điều này là tôi đến thành nào thì Thánh Thần cũng khuyến cáo tôi rằng xiềng xích và gian truân đang chờ đợi tôi. Nhưng mạng sống tôi, tôi coi thật chẳng đáng giá gì, miễn sao tôi chạy hết chặng đường, chu toàn chức vụ tôi đã nhận từ Chúa Giê-su, là long trọng làm chứng cho Tin Mừng về ân sủng của Thiên Chúa. Anh em hãy ân cần lo cho chính mình và toàn thể đoàn chiên mà Thánh Thần đã đặt anh em làm người coi sóc, hãy chăn dắt Hội Thánh của Thiên Chúa, Hội Thánh Người đã mua bằng máu của chính mình”[32]. “Đừng nặng lời với cụ già, nhưng khi khuyên nhủ, hãy coi cụ như cha; hãy coi các thanh niên như anh em, các cụ bà như mẹ, các thiếu nữ như chị em, với tấm lòng hoàn toàn trong sạch. Anh hãy kính trọng các bà goá, những bà goá đích thực”[33].



Cư xử như thánh Phêrô khuyến cáo: “Cùng các bậc kỳ mục trong anh em, tôi xin có mấy lời khuyên nhủ, vì tôi cũng thuộc hàng kỳ mục, lại là chứng nhân những đau khổ của Đức Ki-tô và được dự phần vinh quang sắp tỏ hiện trong tương lai. Anh em hãy chăn dắt đoàn chiên mà Thiên Chúa đã giao phó cho anh em: lo lắng cho họ không phải vì miễn cưỡng, nhưng hoàn toàn tự nguyện như Thiên Chúa muốn, không phải vì ham hố lợi lộc thấp hèn, nhưng vì lòng nhiệt thành tận tuỵ. Đừng lấy quyền mà thống trị những người Thiên Chúa đã giao phó cho anh em, nhưng hãy nêu gương sáng cho đoàn chiên. Như thế, khi Vị Mục Tử tối cao xuất hiện, anh em sẽ được lãnh triều thiên vinh hiển không bao giờ hư nát”[34].



Sống như ĐTC Phanxicô mong muốn: “Các con đừng bao giờ mệt mỏi tỏ lòng xót thương, đừng xấu hổ khi phải ân cần với người cao tuổi. Hãy phân phát cho mọi người Lời Chúa mà chính các con đã vui mừng nhận lãnh”… “Hãy nhớ đến mẹ và bà của các con, nhớ đến giáo lý viên của các con, là những người đã thông truyền cho các con món quà đức tin ấy”… “Các con hãy chăm lo quy tụ các tín hữu trong một gia đình duy nhất… và luôn ghi nhớ mẫu gương của Người Mục tử Nhân lành, Người đến không phải để được phục vụ nhưng để phục vụ, đến tìm kiếm và cứu chữa những gì đã hư mất. Các con là mục tử, chứ không phải là công chức; là người trung gian, chứ không phải người môi giới”[35].



“Thật đau lòng khi cha nhìn thấy một linh mục hay một nữ tu lái các mẫu xe mới nhất, các con không thể làm điều này được. Một chiếc xe là cần thiết để làm rất nhiều công việc, nhưng xin vui lòng chọn một cái khiêm tốn hơn. Nếu các con thích một chiếc xe hào nhoáng, thì chỉ cần suy nghĩ đến bao nhiêu trẻ em đang chết đói trên thế giới”[36]. Ngài cũng nói rằng điện thoại thông minh mới nhất hoặc những đồ dùng thời trang không phải là con đường đưa tới hạnh phúc. Chính ngài cũng chọn sống đơn giản trong nhà khách Matta của Vatican chứ không ở trong căn hộ sang trọng dành cho các vị Giáo Hoàng. Và chiếc xe ngài đang dùng để di chuyển tại Vatican là chiếc Ford Focus, loại xe bé, rẻ tiền và ít tốn hao xăng nhất do hãng Ford Hoa Kỳ chế tạo[37].



Trong cuộc gặp các linh mục, tu sĩ và giáo dân dấn thân tại nhà thờ chính tòa thánh Rufino của giáo phận Assisi, Ngài nói về khao khát của mình là các linh mục phải biết tên của toàn bộ anh chị em giáo dân trong cộng đoàn của họ, như Chúa Giê-su biết và gọi tên từng con chiên[38]. Linh mục chứng tỏ tình yêu đối với đoàn chiên qua việc đi thăm các gia đình trong giáo xứ, biết rõ hoàn cảnh và nhu cầu của từng người, từng gia đình. Người tín hữu sẽ cảm nhận được tình thương của vị mục tử khi thấy ngài hiểu rõ gia cảnh của mình và ra tay giúp đỡ.



Ngài nhấn mạnh đến ba khía cạnh chính trong cuộc sống tâm linh của linh mục là lắng nghe Lời Chúa, đồng hành với nhau như một, và mang đức tin đến những vùng ngoại ô. Đọc Kinh Thánh thôi chưa đủ. Chúng ta cần phải lắng nghe tiếng Chúa Giêsu. Chúng ta cần phải là ăng-ten tiếp nhận đúng Lời Chúa, và cũng là ăng-ten để truyền đạt trung thực Lời Ngài. Phải quay về với cốt lõi Tin Mừng: lòng thương xót, thánh giá và lời mời gọi sống đức tin hằng ngày với niềm vui… Phải phục hồi hy vọng cho người trẻ, trợ giúp người già, cởi mở đối với tương lai, truyền bá yêu thương. Phải nghèo giữa người nghèo, bao gồm người bị loại bỏ và rao giảng hòa bình”. Về ước muốn một Giáo Hội nghèo, một Giáo Hội của người nghèo và cho người nghèo, Ngài đã mạnh mẽ tỏ rõ lập trường với một Giám mục Đức xây dựng Toà Giám mục với một phức hợp văn phòng tốn đến 45 triệu Euros.



Đức Cha James D. Conley nhận xét về ĐTC Phanxicô rằng Ngài “là một mục tử rất tốt. Ngài nhận ra tội lỗi của Kitô hữu và những thiếu sót của Giáo Hội. Ngài nhận ra tệ nạn của chúng ta và những cám dỗ của chúng ta. Ngài kêu gọi chúng ta làm cách tốt nhất cho nhân loại. Ngài kêu gọi chúng ta làm môn đệ của Chúa Giêsu Kitô và liên đới với anh chị em của chúng ta”[39]. Quả vậy, trong bài giảng Thánh Lễ Dầu ngày 28/3/2013, Ngài nói với các linh mục: “Dân chúng cám ơn chúng ta vì họ cảm thấy rằng chúng ta đã đưa vào lời cầu nguyện của mình những thực tại đời sống thường ngày của họ, những đau khổ và niềm vui, những lo âu và hy vọng của họ… họ được khích lệ để ký thác cho chúng ta tất cả những gì họ ước muốn dâng lên Thiên Chúa “Xin Cha cầu nguyện cho con, vì con có vấn đề này…”, “Xin chúc lành cho con”, “Xin cầu nguyện cho con” ”… Chớ gì dân chúng của chúng ta cảm nhận được chúng ta là những môn đệ của Chúa, cảm nhận được rằng chúng ta mang tên của họ như một tấm áo, rằng chúng ta không tìm kiếm một căn tính nào khác; và chớ gì, qua lời nói và việc làm của chúng ta, họ nhận được thứ dầu hoan lạc mà Đức Giêsu, Đấng-Được-Xức-Dầu, đã mang đến cho chúng ta”.

Tóm lại, người mục tử lý tưởng theo ĐTC Phanxicô là người gần gũi với dân chúng, là người cha, người anh em, với sự hiền dịu, kiên nhẫn và thương xót; là người yêu sự khó nghèo, khó nghèo nội tâm (như sự luôn sẵn sàng cho Chúa), khó nghèo bên ngoài (như sự giản dị trong cuộc sống); là người không tham vọng tìm địa vị cao; là người có khả năng tỉnh thức trên đoàn chiên, săn sóc canh giữ đoàn chiên hiệp nhất, chú ý các hiểm nguy có thể đe dọa đoàn chiên, làm cho niềm hy vọng của đoàn chiên lớn lên; là người có khả năng củng cố bước đi của Thiên Chúa nơi dân Người với tình yêu thương và lòng kiên nhẫn: ở đàng trước để chỉ đường, ở giữa để duy trì đoàn chiên hiệp nhất, ở đàng sau để tránh cho ai đó khỏi ở lại phía sau, và để đoàn chiên đánh hơi tìm ra con đường mới”[40].



4. Giáo Dân mong đợi gì ở linh mục?

Giáo dân Việt Nam rất quí trọng linh mục và lòng quí trọng này vừa là một lợi điểm lại vừa là một nguy cơ: Là lợi điểm vì giúp chúng ta linh mục cảm thấy mình cần thiết và có ích, ít cảm thấy bị cô đơn; là nguy cơ, vì lòng quí trọng ấy có thể làm cớ cho linh mục ỷ y mà tôn mình lên, coi thường thiên hạ, cho mình có quyền ăn trên ngồi trước, hách dịch, quan liêu. Chớ gì lòng quí trọng này được coi là một ơn riêng Chúa dành cho hàng ngũ linh mục Việt Nam, để nhờ đó chúng ta được an vui và phấn khởi trong chức vụ chứ không phải ngược lại.



Giáo dân mong đợi linh mục là người của Chúa và người cho con người: vui vẻ, cởi mở, dễ gần, thông cảm; tôn trọng phẩm giá và khả năng cộng tác như thợ bạn trong vườn nho Chúa; không làm tổn thương giáo dân, nhất là trên tòa giảng; không khó quá; không quá giáo sĩ trị, gia trưởng, phong kiến, hống hách…, vì được đề cao quá đáng là một Chúa Kitô khác, linh mục dễ bị cám dỗ tôn mình lên và trở thành khác Chúa Kitô; linh mục phải là mục tử chứ không phải công chức, phải biến Giáo xứ thành gia đình.



Giáo dân muốn linh mục nên giống Chúa Giêsu về lòng nhân ái và tinh thần phục vụ: dễ gặp, dễ gần và dễ nhờ việc thiêng liêng. Nhiều linh mục ngày nay dành nhiều thời giờ cho mình mà ít cho giáo dân. Có linh mục làm lễ sáng xong là rút lui lên lầu, suốt ngày sống với máy vi tính và các thứ máy móc khác, hoặc đi vắng không mấy khi có mặt ở nhà, mọi việc giao cho thầy xứ, dì xứ hay Ban hành giáo, nhiều người cần gặp mà không gặp được; có vị tuy gặp được, nhưng giáo dân rất sợ tính lạnh lùng và hay bẳn gắt của cha.



Ở Việt Nam, cha sở có một vị trí xã hội tốt, nói thì dân dễ nghe và người ta cũng hay nhờ thế cha sở để làm công kia việc nọ. Vì thế, cha sở cũng dễ bị cám dỗ trở thành một nhân vật ngoài đời để có thế ăn nói với người ta. Điều này có thể đưa linh mục đi ra khỏi phạm vi chức vụ chính thức của mình. Linh mục phải coi chừng với tính thích làm quan tự nhiên của mình mà quên đi rằng linh mục chính yếu là người của Chúa, phục vụ Chúa và Tin Mừng của Người. Phải theo bậc thang giá trị mà dành ưu tiên cho những việc thuộc bổn phận linh mục: làm lễ, giải tội, giảng thuyết, đi kẻ liệt, thăm viếng người nghèo khổ, ốm đau bệnh tật.



Một linh mục làm đầy đủ bổn phận của mình thì chẳng còn thời giờ rảnh rỗi bao nhiêu; mà nếu có rảnh rỗi thì cũng nên dành thời giờ để học hành, đọc sách vở thêm. Làm linh mục rồi nhưng vẫn còn phải học, phải viết bài giảng và giảng thế nào cho người ta nghe được. Thường sau khi làm linh mục rồi, ít vị còn thích tiếp tục làm việc tri thức. Vì vậy, giáo dân mong linh mục dành giờ làm việc tinh thần mỗi ngày: soạn bài giảng không dài quá, không chạy theo thời sự nhưng chú trọng vào sứ điệp lời Chúa, không khuyên lơn hời hợt nhưng mở lối cho những áp dụng đức tin thiết thực vào cuộc sống, không chiều theo thị hiếu người nghe mà chú tâm vào việc giáo dục đức tin và đem lại cho người ta một cái gì có chất lượng: giáo dân muốn thấy một bài giảng chứ không muốn nghe một bài giảng.



Giáo dân muốn linh mục có tác phong thích đáng trong cách ăn mặc, nói năng, cư xử. Ăn mặc như người ta có cái lợi là dễ hoà đồng, thoải mái, nhưng có cái bất lợi là có thể làm cho linh mục quên căn tính của mình mà không còn giữ gìn hay ít giữ gìn trong lời ăn tiếng nói và cư xử với người ta nữa. Vì vậy, tuy ăn mặc như người đời, nhưng linh mục vẫn phải giữ cho mình cái cốt cách linh mục: đơn sơ xứng đáng với con người được học hành, có chữ nghĩa và có văn hoá, không chải chuốt quá đáng mà cũng không lôi thôi, áo quần luộm thuộm, đầu tóc bù xù, nói năng bừa bãi.

Giáo dân muốn linh mục thận trọng trong vấn đề vật chất: tiền bạc, của cải, đất đai, nhà ở, đồ dùng cá nhân. Giáo dân rất để ý, họ thích những linh mục không lo làm giầu hay tìm kiếm của cải vật chất cho mình hoặc bà con họ hàng; họ nể trọng những linh mục sống đơn sơ giản dị, không xa hoa và biết sử dụng tiền bạc cách chính đáng.

Giáo dân mong muốn thấy cha sở và cha phó sống gắn bó thân tình, đồng tâm nhất trí với nhau trong công tác mục vụ và hướng dẫn cộng đoàn. Gương sống hiệp thông thân mật, kính trọng, yêu thương và nhường nhịn nhau giữa các vị mục tử là yếu tố có sức thuyết phục nhất đối với cộng đoàn dân Chúa.

Giáo dân mong linh mục bén nhạy với mọi diễn biến đổi thay của tình hình xã hội để có những kế sách và phương án uyển chuyển, thích nghi năng động và cảm thông sâu sắc những khó khăn trong việc sống đạo của người tín hữu giữa những biến động phức tạp của xã hội hôm nay.



Về những mong đợi này, ĐGH Grêgôriô Cả than phiền: “Thế giới này đầy dẫy linh mục, nhưng họa lắm mới có người hoạt động trong cánh đồng của Thiên Chúa, vì lãnh nhận chức vụ linh mục nhưng lại không chu toàn trách nhiệm của chức vụ ấy”. Ngài nói với giáo dân: “Xin anh em cầu nguyện cho chúng tôi để chúng tôi có khả năng phục vụ anh em cho xứng đáng, để chúng tôi biết dùng miệng lưỡi mà khuyên bảo, kẻo sau khi lãnh nhận nhiệm vụ rao giảng, chúng tôi bị đưa ra trước vị Thẩm Phán Công Minh vì đã thinh lặng. Thật thế, nhiều khi vì tội lỗi của người rao giảng khiến lưỡi người ấy bị tê liệt không dám sửa dạy lỗi lầm của người dưới… Sự thinh lặng của người mục tử đôi khi làm hại cho người ấy, nhưng luôn luôn làm hại cho kẻ dưới, đó là điều rất chắc chắn”.



Rồi Ngài nói tiếp với các linh mục: “Anh em thân mến, còn một điều khác làm tôi hết sức đau buồn về đời sống của các mục tử. Nhưng để lời khẳng định của tôi khỏi xúc phạm đến ai đó, tôi cũng xin tự tố cáo mình, mặc dầu do thời buổi man di đưa đẩy thúc ép tôi phải miễn cưỡng làm như thế: Chúng tôi bị lôi cuốn vào những công việc bên ngoài. Chức vụ chúng tôi đã nhận thì khác, và công việc chúng tôi làm lại khác. Chúng tôi bỏ tác vụ rao giảng, và như thế chúng tôi được gọi làm giám mục là để bị phạt vì chúng tôi chỉ hữu danh vô thực. Quả thế, những người được giao phó cho chúng tôi từ bỏ Chúa mà chúng tôi lại cứ làm thinh. Họ nằm vùi trong tội lỗi mà chúng tôi không đưa tay nâng dậy. Bao giờ chúng tôi mới sửa đuợc lỗi của người ta, nếu chúng tôi sao lãng đời sống của mình? Khi để tâm lo các việc đời, và càng hăng say làm những việc bên ngoài, thì thật sự chúng tôi càng dửng dưng với những việc bên trong… càng vướng mắc những việc bên ngoài càng sao lãng tác vụ phải hoàn tất”[41].



5. Linh mục cầu bàu cho giáo dân ngỗ nghịch:

ĐTC Phanxicô khuyên giáo dân: “Anh chị em tín hữu thân mến, anh chị em hãy ở gần bên các Linh mục của mình với lòng trìu mến và kinh nguyện, để các ngài luôn luôn là những Mục tử như lòng Chúa ước mong”[42]. Nhưng bên cạnh những chiên ngoan thì cũng có những chiên ngỗ nghịch, những sói đội lốt chiên làm cho chúng ta lắm khi cũng phải khóc[43]. Tuy vậy, chúng ta luôn phải cầu bàu cho những giáo dân ấy theo gương của Mosê: “Ông Mô-sê nghe thấy dân tụm năm tụm bảy theo thị tộc mà kêu khóc tại cửa lều của mình. Còn Đức Chúa thì bừng bừng nổi giận. Ông lấy làm khổ tâm và thưa với Đức Chúa: ‘Sao Ngài lại làm khổ tôi tớ Ngài? Tại sao con lại không đẹp lòng Ngài, khiến Ngài đặt gánh nặng tất cả dân này lên con? Có phải con đã cưu mang tất cả dân này không? Có phải con đã sinh ra nó không mà Ngài lại bảo con: ‘Hãy bồng nó vào lòng, như vú nuôi bồng trẻ thơ, mà đem vào miền đất Ta đã thề hứa với cha ông chúng? Con lấy đâu ra thịt cho cả dân này ăn, khi chúng khóc lóc đòi con ‘cho chúng tôi thịt để chúng tôi ăn? Một mình con không thể gánh cả dân này được nữa, vì nó nặng quá sức con. Nếu Ngài xử với con như vậy, thì thà giết con đi còn hơn -ấy là nếu con đẹp lòng Ngài! Đừng để con thấy mình phải khổ nữa!’[44].



“Cộng đồng không có nước, họ bèn tụ tập phản đối ông Mô-sê và ông A-ha-ron. Dân gây chuyện với ông Mô-sê, họ nói: ‘Phải chi lúc anh em chúng tôi tắt thở trước mặt Đức Chúa thì chúng tôi cũng tắt thở luôn cho rồi. Hai ông đưa đại hội của Đức Chúa vào sa mạc này để làm gì? Có phải để chúng tôi và súc vật của chúng tôi chết ở đây hay không? Hai ông đưa chúng tôi từ Ai-cập lên để làm gì? Có phải để đưa chúng tôi vào chốn độc địa này chăng? Đây không phải là nơi để gieo vãi, không vả, không nho, không lựu, không cả nước uống”[45]. “Ông Mô-sê và ông A-ha-ron rời đại hội đến cửa Lều Hội Ngộ, các ông sấp mặt xuống đất. Bấy giờ vinh quang Đức Chúa hiện ra với các ông và phán với ông Mô-sê: ‘Hãy cầm lấy cây gậy, và cùng với A-ha-ron, anh ngươi, triệu tập cộng đồng lại. Trước mặt chúng, ngươi sẽ nói với tảng đá và từ tảng đá, ngươi sẽ làm cho nước chảy ra cho chúng, và ngươi sẽ cho cộng đồng và súc vật của chúng uống”[46].



6. Linh mục mong đợi gì nơi giáo dân?

Mong có sự cộng tác tích cực từ phía Ban Hành Giáo với cha xứ, cùng bàn hỏi và tìm ra phương hướng chung hiệu quả trong việc phát triển giáo xứ để các hội đoàn cùng hiệp nhất phát triển đức tin.

Mong giáo dân cầu nguyện cho cha xứ và nâng đỡ cha xứ về tinh thần cũng như vật chất. Mong giáo dân yêu thương, tôn trọng cha xứ như người cha tinh thần mà Chúa gửi đến cho giáo xứ và giúp cha thi hành tác vụ cách tốt nhất.

Mong giáo dân tha thứ cho cha xứ về những yếu kém, thiếu sót, lỗi lầm… và góp ý cho cha xứ về những gì ngài không chuyên môn, những mặt trái mà ngài không biết…

Mong giáo dân cộng tác với cha xứ trong những công việc chung, trong việc lãnh đạo cộng đoàn, xây dựng đoàn hội, cơ sở vật chất của giáo xứ…

Mong giáo dân đoàn kết một lòng, luôn là những cánh tay cùng với cha xứ xây dựng giáo xứ, thăng tiến giáo xứ về mọi mặt. Mong giáo dân không lỗi đức bác ái: chửi bới, nói xấu, nói hành, vu cáo, kiện tụng, bôi nhọ cha xứ; coi cha như người xa lạ, rồi ác cảm, tránh mặt, không gặp, không đối thoại, không cộng tác.

Mong giáo dân không tìm cách ảnh hưởng lên cha xứ, cố gắng làm được một chức gì đó trong xứ rồi ỷ thế làm càn, mang tiếng cho cha xứ, gây gương mù cho cộng đoàn.

Mong giáo dân không vay mượn tiền bạc cũng như vật dụng của cha xứ, vì vay mượn thì dễ mà trả thì khó, sinh ra nhiều phiền phức mất lòng nhau; cũng đừng lừa dối cha xứ về tình, về tiền, về quyền.

Mong giáo dân không bè phái, cực đoan dòng họ, làm việc thì ít mà bàn mưu tính kế hại nhau, làm mất mặt, mất thể diện nhau thì nhiều, v.v…và v.v…



Con không thể liệt kê hết những mong đợi của giáo dân nơi linh mục, cũng như những mong đợi của linh mục nơi giáo dân. Xin quý Cha vui lòng đọc phần Linh mục giáo phận nên thánh qua các mối tương quan mục vụ trong cuốn sách Linh mục giáo phận như lòng mong ước của con do Nhà Sách Đức Mẹ của DCCT phát hành. Tuy nhiên, con xin nhắc lại tóm tắt lời dạy của Sắc lệnh Chức Vụ và Đời Sống Linh Mục của Công Đồng Vaticanô II: mọi tín hữu đều phải cùng nhau làm việc cho Nước Chúa, trong đó linh mục phải nhìn nhận và thăng tiến phẩm giá cùng sứ vụ của giáo dân, sẵn sàng lắng nghe giáo dân, coi trọng những ước vọng của giáo dân, nhìn nhận kinh nghiệm và chuyên môn của giáo dân trong các lãnh vực khác nhau của hoạt động nhân loại, tin tưởng vào phận vụ của giáo dân trong việc phục vụ Giáo Hội và Xã Hội, để giáo dân có đủ tự do và lãnh vực hoạt động, cũng như cơ hội thích hợp gánh vác công việc theo sáng kiến của mình. Linh mục luôn cố gắng dẫn dắt giáo dân đi đến hiệp nhất, sự thật và công ích, hòa giải những khác biệt về tâm thức và trình độ, để không ai cảm thấy mình xa lạ ở trong cộng đồng Giáo Hội. Nhưng về phần giáo dân, Công Đồng cũng mời gọi giáo dân nhận biết bổn phận đối với linh mục của mình, và bằng chia sẻ ân cần, tinh thần lẫn vật chất, kính trọng và dè dặt giữ gìn, bảo vệ, giúp đỡ, cầu nguyện, thương yêu và tận tâm cộng tác, ngõ hầu linh mục vượt qua được những khó khăn, giới hạn và yếu đuối nhân loại của mình để chu toàn sứ vụ giảng dạy, thánh hóa và điều khiển Dân Chúa cách hiệu quả.



Cuối cùng, tất cả chúng ta đều nhận lãnh sứ vụ mục tử từ Chúa Giêsu Kitô, Vị Mục Tử Tối Cao và Duy Nhất, nên dù việc thực thi và hoàn cảnh có phong phú đa dạng, thì chúng ta cũng đều phải quy hướng về Ngài. Thánh Augustinô kết thúc bài giảng về các mục tử với lời khuyên như sau: “Vậy tất cả các mục tử hãy ở trong Vị Mục Tử Duy Nhất, hãy nói lên một tiếng nói duy nhất của Vị Mục Tử đó, để đàn chiên nghe và đi theo Vị Mục Tử của mình, không phải theo người này hay kẻ kia, mà theo Một Vị Duy Nhất. Ước gì nơi Vị Mục Tử Duy Nhất này, mọi người chỉ nói một tiếng nói, chứ không nói những tiếng nói khác nhau: Thưa anh em, tôi khuyên tất cả anh em hãy nhất trí với nhau trong lời ăn tiếng nói, và đừng có sự chia rẽ giữa anh em. Ước gì tiếng nói này, một khi đã được gạn lọc khỏi mọi chia rẽ và tẩy sạch khỏi mọi tà thuyết, thì được các chiên nghe và đi theo Vị Mục Tử của mình, như Người nói ‘chiên của tôi thì nghe tiếng tôi và theo tôi”[47]. Ước gì được như vậy. Amen.



[1] Mở đầu bài giảng của thánh Augustinô về các mục tử, trong Bài đọc 2 Kinh Sách CN 24 TN.

[2] Ga 10, 7-16.28.

[3] x. Mở đầu bài giảng của thánh Augustinô về các mục tử, trong Bài đọc 2 Kinh Sách CN 24 TN.

[4] Ga 10, 1-5.

[5] Ga 10,11.

[6] Ga 10, 12-13.

[7] Gr 23,1-2.

[8] Ed 34,2-6.

[9] Ed 34,8b-10.

[10] Trích sách Quy Luật Mục Vụ của thánh Grêgôriô Cả GH – Bài đọc 2 Kinh Sách Chúa Nhật 27 TN.

[11] Mt 14, 15-16.

[12] Mc 6, 35-37a.

[13] Lc 9,12-13.

[14] Mc 6, 34.

[15] Mt 14, 18-19a.

[16] Lc 9,14b-15.

[17] Ga 6, 5-6.

[18] Mt 14, 17.

[19] Mc 6,37b.

[20] Ga 6,7-9.

[21] Mt 14, 19b.

[22] Mc 6, 41.

[23] Ga 6, 10-11.

[24] Mt 14, 20-21.

[25] Mc 6, 42-43.

[26] Ga 5,12 -13.

[27] Ga 5,14 -15.

[28] 1 Tx 2, 8-12.

[29] 2 Tx 3,7-9.

[30] 2 Cr 1, 12.

[31] 1 Tm 4, 12. 16.

[32] Cv 20, 19-25.28.

[33] 1 Tm5, 1-3.

[34] 1 Pr 5, 1-4.

[35] Trích huấn dụ lễ truyền chức linh mục đầu tiên với tư cách Giáo Hoàng, ngày 21/4/3013 tại Roma.

[36] Phát biểu khi gặp gỡ các linh mục và tu sĩ đang học tại Rôma ngày 6/7/2013.

[37] Theo thông tấn xã Reuters và Ansa.

[38] Ga 10,3.

[39] Trích bài Bình luận về các phản đối bản Tông Huấn Gaudium Evangelii của Trần Mạnh Trác12/4/2013 http://www.vietcatholic.net/News/Html/119420.htm

[40] Viết theo Nguyễn Minh Triệu sj từ Radio Vaticano – http://vietcatholic.org/News/Html/119253.htm

[41] Bài đọc 2 Kinh Sách Thứ Bảy CN 27 TN.

[42] Trích bài giảng Lễ Dầu ngày 28/3/2013.

[43] X. trường hợp thánh Phaolô ở Cv 20,31.

[44] Ds 11, 10-15.

[45] Ds 20, 2-5.

[46] Ds 20, 6-8.

[47] Trích bài giảng của thánh Augustinô về các mục tử, bài đọc 2 Kinh Sách thứ sáu tuần XXV TN.
xuanbich

->Đọc thêm...

21.3.14

Đức Thánh Cha tố giác những tư tế hư hỏng


VATICAN. Đức Thánh Cha tái lên tiếng tố giác những tư tế hư hỏng, thay vì trao bánh sự sống cho dân thánh của Chúa, thì lại cho những lương thực có thuốc độc!

ĐTC đưa ra nhận định trên đây trong bài giảng thánh lễ lúc 7 giờ sáng ngày 16-1-2014 tại nguyện đường nhà trọ thánh Marta ở Vatican. Chú giải bài đọc thứ I trong ngày và thánh vịnh đáp ca, kể lại sự thất trận của quân Israel trước quân Philistin, ĐTC nhận xét rằng dân Chúa thời ấy đã bỏ Chúa. Lúc ấy Lời Chúa ”khan hiếm”, Tư tế Elia già nua thì ”nguội lạnh” và các con cái của ông thì ”hư hỏng, làm dân chúng kinh hoàng và hành hạ họ”. Để chiến đấu chống quân Philistin, dân Israel dùng ”hòm bia giao ước” như một vật ma thuật, một điều bên ngoài. Và thế là họ bị thất trận, hòm bia giao ước bị địch quân chiếm. Không có niềm tin đích thực nơi Thiên Chúa, nơi sự hiện diện thực sự của Ngài trong cuộc sống.”

ĐTC nói: ”Đoạn Kinh Thánh này làm cho chúng ta suy nghĩ xem quan hệ của chúng ta với Thiên Chúa, với Lời Chúa như thế nào: phải chăng đó chỉ là một quan hệ hình thức, hời hợt, một quan hệ xa lạ? Lời Chúa có đi vào, có thay đổi tâm hồn chúng ta hay không, có quyền năng hay không? Nhưng tầm hồn lại khép kín đối với Lời Chúa. Điều này làm chúng ta nghĩ đến bao nhiêu thất bại trong Giáo Hội, bao nhiêu chiến bại của Dân Chúa chỉ vì họ không cảm thấy Chúa, không tìm Chúa, không để cho Chúa tìm họ! Và rồi sau khi thảm trạng xảy ra, người ta cầu nguyện: Lạy Chúa, làm sao điều ấy xảy ra được? Chúa đã làm cho chúng con bị các lân bang coi rẻ... Chúa biến chúng con thành sự nhạo cười của những dân quanh chúng con”.

Đề cập đến những gương mù, những xì căng đan trong Giáo Hội, ĐTC đặt câu hỏi: ”Chúng ta có xấu hổ không? Có bao nhiêu gương mù mà tôi không muốn nêu riêng rẽ ở đây, nhưng tất cả chúng ta đều biết, chúng ta biết chúng ở đâu. Những xì căng đan mà một số người đã bắt phải trả bao nhiêu tiền.. Thật là một ô nhục cho Giáo Hội. Chúng ta xấu hổ vì những xì căng đan, những chiến bại của các linh mục, giám mục, giáo dân? Lời Chúa trong những xì căng đan ấy thật là hiếm hoi!. Họ không có quan hệ với Thiên Chúa! Họ có một địa vị trong Giáo Hội, một địa vị quyền lực, và thoải mái. Nhưng lời Chúa thì họ không có. Họ biện minh: ”Nhưng tôi có huy chương mà! Tôi có mang thánh giá mà!.. Đúng vậy, cũng như những người Israel xưa kia mang hòm bia giao ước vậy! Nhưng mà họ không có quan hệ sinh động với Thiên Chúa và với Lời Chúa!

ĐTC nói: ”Tôi nghĩ đến Lời Chúa Giêsu nói về những kẻ gây gương mù gương xấu.. và nơi đây xì căng đan đã xảy ra: tất cả sự sa đọa của dân Chúa, cho đến sự yếu nhược, sự hư hỏng của các tư tế”.

Và ĐTC kết luận bài giảng, nghĩ đến Dân Chúa: ”Tội nghiệp dân! Tội nghiệp dân! Chúng ta không cho họ bánh sự sống để ăn; chúng ta không cho họ chân lý! Thậm chí chúng ta cho họ ăn bánh bị nhiễm độc, bao nhiêu lần! .. Chúng ta hãy cầu xin Chúa ban cho chúng ta đừng bao giờ đên Lời Chúa, Lời hằng sống, xin cho Lời Chúa đi vào tâm hồn chúng ta và không bao giờ quên dân thánh trung thành của Chúa, đang xin chúng ta bánh mạnh mẽ!” (SD 16-1-2014)

Nguồn:
http://vietvatican.net/

->Đọc thêm...

19.3.14

Nếu bây giờ tôi chết?


Chúng ta thường hay nghe nói: “Nếu ngày mai tôi chết thì tôi sẽ sử dụng ngày cuối cùng ra sao?” Rồi họ tưởng tượng ra vô số việc cần làm trong cái ngày CUỐI CÙNG thiêng liêng quý giá của họ. Việc gì họ tưởng tượng ra trông cũng có vẻ hay ho và ý nghĩa ra phết. Và rồi họ trông có vẻ được lên tinh thần, được bơm động lực, ưỡn ngực vươn vai, khí thế đằng đằng dường như sắp dời non lấp bể được chứ chẳng chơi.


Và sau đó, đâu lại vào đấy! Họ lại tiếp tục kéo dài đời họ một cách lê thê theo năm tháng sau khi ngọn lửa mới được nhen nhóm đó vụt tắt. Rồi họ chẳng bao giờ còn làm gì ý nghĩa cho cái ngày cuối cùng trọng đại đó nữa. Bởi vì, cái ngày tưởng tượng đó không có thật đối với họ, cho nên nó không đủ lực để tác động và làm một cuộc cách mạng thực sự!

Đối với tôi, đó là cách đặt vấn đề ngu ngốc nhất mà tôi từng được biết. Bởi vì cái chết thật sự sẽ như thế này:

Bạn không thấy tôi ghi cái gì cả đúng không? Bởi vì chẳng có cái gì để mà ghi vào cái chết. Sau cái chết nó là như thế đó! Đơn giản là bạn ở đây hoặc không ở đây. Không thể dự tính gì cả. Nó có thể diễn ra ngay bây giờ, hoặc lát nữa, hoặc ngày mai, hoặc ngày mốt, hoặc thời điểm nào đó, nhưng chắc chắn sẽ xảy ra! Chắc chắn 100%, không có thứ gì tuyệt đối chắc chắn như cái chết cả. Với tôi, sự “tuyệt đối chắc chắn” của cái chết là điều cho tôi nhiều cảm hứng nhất. Nó thật đặc biệt, siêu phàm, thánh thiện và là một ân sủng.
Cái chết là tuyệt đối chắc chắn!

Vậy cái mệnh đề ngu ngốc trên kia nên vứt đi, bởi vì sẽ không có “nếu” chi cả. Thứ chắc chắn xảy ra mà lại “nếu” là sao? Mệnh đề đó cho người ta quá nhiều cơ hội để thoái thác, trì hoãn. Mệnh đề đó tồn tại chỉ với một mục đích duy nhất: Tạm thời cho người ta một thoáng nhìn về thực tại khi người ta còn chìm đắm trong ảo tưởng! Nó không đủ! Bạn phải nhận thức, phải xé toạc ảo tưởng của bạn, để thấm vào máu, vào tim bạn điều này: Cái chết đang luôn luôn ở đó chờ bạn. Tôi không biết lúc nào và bạn cũng không biết lúc nào. Có thể sớm hơn 24h nữa đấy!

Có một số bậc giác ngộ và một số người có khả năng đặc biệt có thể biết chính xác thời điểm họ chết nhưng theo quan điểm của tôi thì đó lại là bi kịch của đời họ! Vì sao ư? Mỗi người sở hữu một lần chết duy nhất. Hãy để cho nó bất ngờ vì chỉ như thế nó mới là cao trào của cuộc đời.
Quan điểm cho rằng cái chết là một bi kịch

Tôi đã thấy và bạn hẳn cũng đã thấy loài người chúng ta sợ cái chết ra sao. Cái chết đã bị xem như một thứ gì đó xấu!

Chắc chắn nó phải xấu thôi! Bởi vì hầu hết loài người đã không được sống tí nào. Chưa được sống thì cái chết sẽ trở thành kẻ cướp, nó cướp đi cơ hội được trải nghiệm cuộc sống. Còn khi bạn đã trải nghiệm và hả hê, sống cách toàn vẹn thì cái chết sẽ là sự hoàn thành mỹ mãn. Và phần lớn chúng ta không được sống cho ra hồn chính vì cái bẫy thời gian trong tâm lý của chúng ta đấy thôi: Lúc nào cũng có cái ngày mai quái quỷ trong tâm trí!

Ngày mai, ngày mai, ngày mai, lại ngày mai… Làm ơn hãy nhớ: Cái chết không chơi trò giờ cao su !
Nếu bây giờ tôi chết?

Khi đặt vấn đề như thế thì chỉ còn một câu hỏi cần trả lời: Tôi đã thực sự sống chưa? Chẳng còn cơ hội nào nữa cả!

Nếu tôi đã sống ngon lành cành đào thì ngay cả bây giờ cái chết có ập tới, tôi cũng vui vẻ mãn nguyện vì mọi thứ đã xong xuôi. Tôi tự hào vì đời mình đã trải qua theo cách đó, đặc biệt! Đỉnh cao và vực sâu đều đã tới. Ngọt ngào và cay đắng đã chạm. Tình yêu và thù hận đã nếm trải. Thiên đường và địa ngục đã dạo qua… Ở giữa những trải nghiệm đó cũng đã được biết: Ở giữa đỉnh cao và vực sâu, ở giữa ngọt ngào và cay đắng, ở giữa tình yêu và thù hận, ở giữa thiên đường và địa ngục. You see?

Đã sống toàn vẹn chưa? Chỉ cần trả lời là Yes hoặc No! Và thứ gì đó sẽ đánh thức bạn một cách mạnh mẽ, như một cái tát trời giáng nếu bạn nhận thức được sâu sắc điều này: Nếu bây giờ bạn chết! Cuộc cách mạng cho đời bạn sẽ bùng phát ngay lập tức, ngay lập tức!

Mr. Bow
trietlyduongpho

->Đọc thêm...