CLICK HERE FOR THOUSANDS OF FREE BLOGGER TEMPLATES »
“Hỡi anh em, ta hãy trung tín cùng Đức Chúa Trời cho đến chết ; cho đến chết, không một điều gì có thể dập tắt lòng thương mến Chúa Giêsu Kitô trong trái tim ta" (Những lời sau cùng của Chân Phước Anrê Phú Yên)

21.12.14

Bà Bill Gate : một Bồ Tát của nhân loại


Bà là người có vai trò không thể thay thế trong cuộc đời Bill Gates
Là vợ của người đàn ông giàu nhất thế giới nhưng Melinda không mấy quan tâm đến những cửa hàng thời trang sang trọng, những loại mỹ phẩm đắt tiền hay những tác phẩm nghệ thuật danh giá. Thay vào đó, suốt ngày bà chúi mũi vào những chuyện đại loại như… chu trình sống của con muỗi.


Một người phụ nữ hơi bất thường chăng?

Ngay sau khi cưới nhau, vợ chồng Bill Gates bắt đầu làm từ thiện nhưng làm một cách dè dặt, trong đó có lần tặng máy vi tính xách tay cho các ngôi làng ở khu vực cận Sahara (Phi châu). Nhưng rồi hai người nhận ra người dân lục địa đen cần thức ăn để no bụng và thuốc men để chống lại cái chết hơn là phần mềm Windows xa xỉ.

Thế là họ tậu bao nhiêu là sách về các bệnh lây lan vì ký sinh trùng, về hệ miễn dịch, về cách phòng bệnh… “Bạn không thể nói về chuyện tài trợ cho thuốc chống sốt rét nếu như bạn không hiểu rõ chu trình sống của con muỗi. Làm từ thiện không chỉ đơn giản là ký séc chi tiền”, Melinda nói.

Tại sao lại phải nhọc công đến thế?

Melinda có thể tận hưởng một cuộc sống trong nhung lụa, dành thời gian chăm sóc con cái. “Khi cưới nhau, tôi và Bill định khi về già sẽ chia sẻ tiền bạc với người khác. Lần đầu tiên chúng tôi đến châu Phi là nhân một chuyến đi săn năm 1993.

Chúng tôi không thể nào tận hưởng thiên nhiên hoang dã vì cảnh tượng mọi người đi chân đất, phụ nữ phải vừa bế con vừa xách nước đi hàng cây số và bởi lời mời từ một bộ lạc về việc dự buổi lễ cắt âm vật phụ nữ.

Sau đó về nhà, chúng tôi tìm đọc Báo cáo về phát triển thế giới năm 1993 và không khỏi giật mình. Trẻ con đang chết hàng loạt chỉ vì căn bệnh tiêu chảy và những loại bệnh cơ bản mà trẻ con ở nước chúng tôi đã được tiêm vắc-xin.

Chúng tôi tự thấy mình phải có trách nhiệm tìm hiểu sự thật và càng tìm hiểu, chúng tôi càng thấy không thể chờ vì bệnh tật không đợi chúng tôi. Tôi đi vòng quanh thế giới để xem điều gì đang xảy ra.

Nỗi sợ hãi khi quay về quá khủng khiếp đến độ tôi không dám hy vọng. Nhưng rồi bạn thấy đó, kinh tế đang thay da đổi thịt ở các nước phát triển và tự nó cải thiện mọi chuyện. Điều đó đã vực Bill và tôi dậy”.

“Chúng ta có xem rẻ mạng sống của người Phi châu hơn mạng sống của chúng ta không? Bill và tôi cho rằng không có sinh linh nào mang giá trị hơn hay kém so với sinh linh khác. Chính sự công bằng này là lý do để quỹ từ thiện của chúng tôi hoạt động” / Melinda Gates

Quỹ từ thiện Bill & Melinda Gates (BMGF) bắt đầu hoạt động với quy mô nhỏ vào năm 1997 rồi chính thức khai trương vào năm 2000.

Vợ chồng Gates đã cam kết sẽ trao tặng hết 95% tài sản khổng lồ của mình (hiện ước tính khoảng 46 tỉ USD). Vắc-xin và tạo hệ miễn dịch cho trẻ em là mục tiêu chính của quỹ. Đến nay BMGF đã chi tổng cộng 28,8 tỉ USD.

Hồi đầu năm, BMGF đã tặng cho Liên minh Vắc-xin và miễn dịch toàn cầu (Gavi) 750 triệu USD – một trong những món quà cá nhân lớn nhất lịch sử.

Những lần tài trợ trước đó của vợ chồng Bill Gates đã giúp tiêm phòng viêm gan siêu vi B cho 43 triệu trẻ em, giúp giảm 39% tỷ lệ trẻ em bị sởi… Ngoài ra, BMGF còn chi mạnh cho các dự án khoa học nghiên cứu vắc-xin và thuốc men, trong đó phải kể đến chương trình trị giá 35 triệu USD để thử nghiệm vắc-xin chống sốt rét ở Zambia .

Hẳn nhiều người sẽ ngạc nhiên vì ông bà Gates không dành phần lớn tài sản của mình để lại cho con cái. Hiện họ đang có 3 đứa con nhỏ nhưng Melinda không tỏ ra lo lắng:

“Bất cứ lúc nào gia đình tôi nói tới chuyện tài sản, chúng tôi đều nói đến trách nhiệm phải trao tặng nó cho thế giới. Các con của chúng tôi đã có tài khoản riêng của chúng. Không phải lúc nào chúng muốn mua gì cũng được nấy mà phải đợi đến những dịp như sinh nhật mới được tặng hay đợi cho đến khi chúng tự để dành đủ tiền”.

Hiệp hội Bill & Melinda Gates đã chi bao nhiêu cho ai?

Tính đến đầu năm 2005, tỷ phú này đã cam kết số tiền 28 tỷ USD cho nhiều dự án cứu tế, từ thiện, y tế và giáo dục. Tức ông đã đem cho không đến 38% tổng tài sản của mình. 9,3 tỷ USD là tổng số tiền mà tỷ phú giàu nhất thế giới Bill Gates đã chi cho các công cuộc từ thiện cứu tế và giáo dục thông qua hiệp hội mang họ tên mình thành lập vào năm 2000

Chúng được chia ra như sau:

Sức khoẻ: 5,5 tỷ USD (gồm chiến lược sức khoẻ toàn cầu, 2,3 tỷ USD; nghiên cứu trị HIV/AIDS, bệnh lao và y tế sinh sản, 1,5 tỷ USD; các bệnh lây lan khác, 1,1 tỷ USD; nghiên cứu phát triển công nghệ y tế toàn cầu, 0,4 tỷ USD; nghiên cứu y tế, chiến dịch y tế toàn cầu…, 0,1 tỷ USD)

Giáo dục: 2,4 tỷ USD
Chương trình xây dựng thư viện toàn cầu: 0,3 tỷ USD
Những dự án đặc biệt khác: 0,6 tỷ USD
Các chương trình từ thiện ở khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương: 0,6 tỷ USD .

Melinda Gates- quyền lực mà thầm lặng

Có một người phụ nữ giản dị, nhân hậu đã chinh phục được biết bao chính khách, doanh nghiệp. Xuất thân trong một gia đình bình dân Mỹ nhưng nhờ nỗ lực cá nhân và cả nét duyên thầm, người phụ nữ này đã trở thành biểu tượng của quyền lực mềm thế giới.

Năm nay 44 tuổi, Melinda Gates luôn sát cánh cùng người chồng tỷ phú, nhà sáng lập và điều hành Microsoft trong nhiều năm qua, và bản thân bà cũng là chủ tịch quỹ tài trợ lớn nhất thế giới.

Bà là người có vai trò không thể thay thế trong cuộc đời Bill Gates, là một trong những động lực to lớn để Bill Gates lập ra quỹ Bill & Melinda Gates.

Chung sống với Bill Gates đã 14 năm nhưng Melinda luôn có một cuộc sống trầm lặng, ít khi lộ diện trước báo giới. Những cuộc phỏng vấn luôn bị từ chối, thay vào đó là những cuộc trò chuyện mỗi tuần với những người cộng sự. Người ta biết đến Melinda qua những người bạn của bà nhiều hơn.

Mối thâm tình với chiếc máy tính

Trước khi quen biết Bill Gates, nàng thiếu nữ Melinda đã mê tít máy tính. Chính tình yêu này đã thay đổi cuộc đời cô.

Khi Melinda 14 tuổi, cha cô tặng cho con gái yêu chiếc máy tính Apple II. “Tôi đã nịnh cha mẹ đặt vào phòng riêng của mình để tiện học tập nhưng thời gian đầu tôi khoái chơi game hơn”, Melinda nhớ lại.

Không lâu sau, Melinda đã nắm được ngôn ngữ lập trình cơ bản và thường xuyên trao đổi kiến thức với các cậu con trai quanh xóm. Chính việc ham thích trao đổi về máy tính đã khiến cô bé bớt đi những rụt rè tuổi dậy thì, tự tin và hòa đồng hơn hẳn. Chiếc máy tính Apple II năm sau đã được nâng cấp lên thành Apple III. Melinda thường dùng máy tính giúp cha quản lý sổ sách, kế toán.

Gia đình Melinda không giàu có. Bố cô là kỹ sư và mẹ cô là một người nội trợ điển hình. Mặc dù cha mẹ cô có cho thuê một vài gian phòng để phụ thêm nhưng việc lo cho cả 4 chị em Melinda học lên đại học quả thật không hề dễ dàng. Melinda cùng các anh chị em từ nhỏ đã phụ giúp mẹ lau bàn, dọn bếp và cắt cỏ.

Khi Melinda còn đi học, tuy không có quy định thành văn nhưng thành tích học tập luôn được cả gia đình coi trọng. Melinda luôn đặt cho mình những mục tiêu để chinh phục một cách bền bỉ và quyết tâm. Cô giáo dạy môn đại số đã nhận xét “Melinda luôn tìm ra cách học tập hiệu quả nhất!”.

Khi đó, Melinda theo học tại một trường nữ sinh Thiên Chúa giáo, cô ao ước được vào trường Notre Dame. Trong suốt quá trình học, Melinda luôn cố gắng và đã trở thành đại diện phát biểu trong lễ bế giảng.

Nhưng cũng chính Melinda là người đưa ra quyết định từ bỏ trường đại học đặc biệt này vì nơi đây coi “máy tính là sở thích nhất thời, phụ nữ không phù hợp với nghiên cứu công nghệ”.

Sau đó Melinda được nhận vào trường đại học Bắc California .. Trong 5 năm học tại đây, Melinda đã được nhận bằng cử nhân khoa học máy tính và thạc sỹ quản trị kinh doanh.

Ngay trước hôm tiến hành lễ tốt nghiệp, Melinda đã tham gia phỏng vấn vào công ty IBM. Cô nhớ lại “Tôi đã nói với người phỏng vấn là mình sẽ tham gia thi tuyển vào một công ty phần mềm nữa. Bà ấy đã mỉm cười và nói nếu tôi được công ty phần mềm đó chọn, tôi càng có nhiều cơ hội hơn”. Và Melinda đã đến nơi có nhiều cơ hội hơn – Microsoft.

Tình yêu với sếp và khát vọng chung thay đổi thế giới

Năm 1987, Melinda bắt đầu làm việc chính thức tại Microsoft. Cô phụ trách quảng bá phần mềm văn bản.

Ngay từ những ngày đầu tiên, Melinda đã thích không khí làm việc cởi mở, năng động nơi đây. Cô chúi mũi vào công việc mà không thể ngờ rằng chỗ làm việc lý tưởng này lại đem đến cơ hội tình yêu cho mình.

Melinda là người trẻ nhất trong những người được nhận vào Microsoft làm việc đợt đó. Trong 10 người có bằng MBA, cô cũng là người nữ duy nhất. “Những người được tuyển đợt đó rất tài năng.

Tôi đã choáng ngợp khi tiếp xúc với họ và nghĩ họ có thể thay đổi thế giới. Tôi cũng hơi ngạc nhiên vì sao công ty phần mềm nho nhỏ hồi đó lại hấp dẫn họ đến thế!”

Khi đó hai sếp lớn Bill Gates và Steve Ballmer đang bất đồng trong khá nhiều vấn đề, họ thường căng thẳng và quát cả cấp dưới. Nếu như không có cảm tình đặc biệt khi nhìn thấy dáng vẻ thư sinh của Bill, Melinda đã bỏ việc từ lâu.

Sau khi vào công ty được 4 tháng, Melinda đến New York tham dự một triển lãm công nghệ và ngồi cạnh Bill Gates trong một buổi tiệc.

Melinda nhớ lại: “Anh ấy quả thật rất có phong cách, còn hơn trong tưởng tượng của tôi”. Khi Bill được hỏi tại sao để ý Melinda, ông trả lời: “Tôi nghĩ chắc là do vẻ đẹp của cô ấy”.

Mùa thu năm đó, Bill và Melinda gặp lại nhau tại nhà để xe của công ty. Melinda nhớ hôm đó là thứ 7 và mọi người trong công ty vẫn phải đi làm.

Họ nói chuyện một lúc, Bill nhìn đồng hồ và hỏi: “Em có đồng ý hẹn hò với tôi trong vòng hai tuần bắt đầu từ thứ 6 tuần sau không?”

Melinda trả lời: “Từ thứ 6 tuần sau bắt đầu hai tuần hẹn hò? Em thấy không được tự nhiên lắm! Không biết được, đến lúc đó hãy gọi cho em”.

Sau đó, Bill gọi lại báo cho Melinda lịch hoạt động ngày hôm đó, Melinda nhận lời hẹn gặp ông vào buổi tối thứ 6 định mệnh.

Trước khi hai người gặp nhau, Bill đã là một tỉ phú nhưng điều đó không có nghĩa là ông có thể “mua” được tình yêu. “Theo đuổi cô ấy thật vất vả”, Bill than thở. Số là mẹ của Melinda vốn cho rằng chuyện tình cảm của con gái mình với sếp không có gì hay ho cả.

Nhưng Melinda đã đặt ra những giới hạn cho mối quan hệ này, quyết không để ảnh hưởng đến công việc. “Tôi không muốn công khai tình cảm, không bao giờ nói chuyện công việc trong thời gian hẹn hò…”

Dù có công khai chuyện tình cảm với sếp lớn hay không thì bạn bè đồng nghiệp vẫn phải nể Melinda về năng lực làm việc.

Sau 9 năm làm việc bà đã lên chức giám đốc phụ trách các sản phẩm thông tin.

Cấp trên trực tiếp của Melinda lúc đó, bà Patty Stonesifer đã nhận xét: “Nếu tiếp tục ở lại làm việc, Melinda chắc chắn sẽ đứng trong hàng ngũ lãnh đạo cao cấp nhất của Microsoft”.

Tháng 1/1994, Melinda rời khỏi Microsoft, dành toàn bộ tâm huyết cho quỹ từ thiện. Tình cảm hai người dành cho nhau càng trở nên sâu sắc.

Trước đây Bill Gates chưa bao giờ nghĩ đến việc thành lập quỹ tài trợ, dù luật sư và kế toán của ông thường xuyên khuyên ông nên dành thời gian và tiền bạc để chính thức tham gia các hoạt động từ thiện.

Đó cũng là lý do mà báo chí những năm 1990 gọi Bill là “kẻ hà tiện”. Cha của Bill giải thích “Con tôi không muốn đứng ra thành lập quỹ từ thiện vì không muốn sở hữu thêm một công ty nữa”. Ngay từ ngày đầu lập quỹ, Melinda đã quán xuyến công việc quản lý.
Những ngày đầu, Melinda và Bill lập ra dự án tặng cho mỗi phòng học một laptop phục vụ việc giảng dạy nhưng công tác quảng bá đã bị giới truyền thông phê bình gay gắt vì… phô trương và thiếu thực tế.

Khi đi khảo sát các trường học, Melinda nhận ra rằng, chỉ trang bị cơ sở vật chất đơn thuần không giải quyết được những vấn đề giảng dạy, vì thế sau này thúc đẩy phổ cập giáo dục mới là mục tiêu chính của quỹ.

Dưới ảnh hưởng của Melinda, quỹ Bill & Melinda Gates đã mở rộng phạm vi hoạt động của mình trong lĩnh vực phòng chống AIDS, bệnh sốt rét…

Melinda chia sẻ: “Chúng tôi muốn dần dần thiết lập một danh sách cần cứu trợ hợp lý. Tiền chỉ có ích khi mang lại những lợi ích thực sự cho những người cần cứu trợ nhất”.

Bà cũng cho biết, quỹ Bill & Melinda Gates không quyên gửi thẳng tiền cho viện nghiên cứu ung thư Hoa Kỳ mà tập trung cho những dự án và khu vực khẩn thiết hơn.

Bà Gates dùng phương pháp liên kết những nhà bán thuốc và bảo đảm trợ cấp tài chính cho việc nghiên cứu để đổi lấy sự hạ giá thuốc cho những nước nghèo, qua đó tạo đà mới cho ngành y học ngừa bệnh của các nước kém phát triển vốn đã bị chững lại từ những năm 1990.

Và rõ nét nhất là việc sáng lập Công ty Vaccine HIV – là công ty liên kết các nhà nghiên cứu với ngân sách 400 triệu USD.

Trải qua 7 năm hoạt động, dưới sự điều hành của Melinda, quỹ Bill & Melinda Gates đã góp phần cứu sống ít nhất 700.000 người tại các quốc gia nghèo thông qua các khoản đầu tư vào những chương trình vaccine.

Quỹ Bill & Melinda Gates hiện là quỹ từ thiện lớn nhất thế giới, với tài sản lên tới 29,1 tỉ USD và luôn đi đầu trong chiến dịch nâng cao sức khỏe cộng đồng trên quy mô quốc tế. Melinda, Bill Gates và cha của Bill là 3 thành viên điều hành quỹ.

Gần đây, Bill Gates đã chính thức rời khỏi Microsoft để hoàn toàn tập trung cho công việc từ thiện.

Mỗi năm quỹ này nhận được khoảng 6.000 thư xin được trợ giúp ở khắp nơi trên thế giới.

Bill và Melinda sẽ tự mình phê duyệt với tổng số tiền trên 40 triệu USD. Cách làm những công việc ở quỹ của đôi vợ chồng này uyển chuyển và có phần thử thách hơn cả khi điều hành Microsoft.

“Chúng tôi trò chuyện ngay cả lúc cùng chạy bộ với nhau”, Bill cười nói. Trong vòng hai năm trở lại đây Bill Gates đã chạy bộ khá đều đặn và cùng luyện tập trí nhớ một cách thú vị và ý nghĩa.

Hai người cùng thảo luận và nêu ra các phương án hành động cho các dự án tài trợ. Các thông tin này sẽ được cả hai nhẩm nhớ, không ghi lại bằng giấy gì cả và ghi nhớ cho đến khi thông báo lại cho các thành viên quản lý quỹ để thông qua chính thức.

Tháng 6/2006, Warren Buffet đã chuyển giao một phần tài sản trị giá khoảng trên 30 tỉ USD của mình vào việc làm từ thiện, trong đó 83% số tiền được đưa vào Quỹ Bill & Melinda Gates. Khoản hiến tặng này được xem là lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ.

Vào thời điểm đó, số tiền được quyên này còn lớn hơn gấp đôi số tiền hiện có của quỹ. Đây là lời công nhận đầy thuyết phục đối với khả năng quản lý từ thiện, một lĩnh vực mới mẻ và nhiều thách thức của nhà đầu tư tài chính hàng đầu với hai vợ chồng Bill Gates.

Tin vui này cũng đến khi cả hai người đang chạy bộ. Melinda nhớ lại với một vẻ bồi hồi: “Tôi nhận được điện báo và không tin vào tai mình nữa. Tôi nói với Bill, và thực sự muốn khóc. Chúng tôi đã làm được, chúng tôi đã có niềm tin của mọi người, và chúng tôi có nhiều trách nhiệm hơn nữa”.

Hiện nay, Quỹ từ thiện của hai vợ chồng bà đã thu thập được 37,6 tỉ USD, trong đó, 3,5 tỉ USD là phần góp của nhà tỉ phú Warran Buffet, người đứng đầu công ty Berkshire Hathaway. Sắp tới đây, Warren Buffet dự định chuyển cho quỹ Bill & Melinda Gates thêm 9.000 cổ phiếu nữa với trị giá 41 tỉ USD.

Như vậy, cùng với các khoản lạc quyên và hàng tỉ USD của chính hai vợ chồng Bill Gates, tổng số vốn của quỹ trong vài năm tới sẽ đạt đến con số khổng lồ là 100 tỉ USD.

Cả hai vợ chồng đều sẵn sàng chi tiêu toàn bộ số tiền này vào việc giúp đỡ những người nghèo khổ không chỉ ở nước Mỹ. Đến nay, quỹ đã chi gần 20 tỉ USD cho nhiều hoạt động từ thiện.

Bill Gates thừa nhận rằng vợ ông hiểu biết về con người hơn ông. Khi động chạm đến việc nên chi tiền trong quỹ vào những lĩnh vực gì, bà Melinda bao giờ cũng có những ý tưởng thông minh hơn chồng.

Melinda nói: “Hai vợ chồng chúng tôi đã cùng soạn lập danh mục những hiện tượng bất công nhất trên thế giới. Và chúng tôi lựa ra những hiện tượng mà chúng tôi có thể đấu tranh”.

Trong hoạt động nhân đạo chung của cả hai vợ chồng, vai trò của bà Melinda dường như nổi bật hơn.

Không phải vô cớ mà người bạn thân của họ – nhà tỉ phú Warren Buffet – đã có nhận xét rất đáng chú ý: “Bill Gates cực kỳ thông minh. Nhưng khi ta nhìn toàn bộ bức tranh chứ không phải một phần riêng biệt nào đó thì Melinda hiển nhiên là vượt xa chồng. Nếu như Melinda không làm việc trong quỹ từ thiện của hai vợ chồng họ thì liệu tôi có trao tiền cho Bill không? Có lẽ không”.

Như vậy, điều kiện chủ yếu thúc đẩy Buffet chuyển giao tài sản chính là người vợ nhanh nhẹn, hiểu biết, thấu tình đạt lý của Bill Gates. Buffet đã khiến Bill phải thốt lên: “Melinda đúng là vận may lớn nhất cuộc đời tôi”.

Yêu thích cuộc sống bình lặng

Là vợ người thường xuyên giữ vị trí giàu nhất thế giới, Melinda không tránh khỏi những phiền toái của cuộc sống.

Dù cố gắng thế nào đi nữa, Melinda cũng rất khó khăn để có được cuộc sống bình thường. Nhưng đến nay, sau nhiều nỗ lực, người phụ nữ dịu dàng này vẫn có cách để cuộc sống của mình đi theo những quỹ đạo mong muốn.

Trước khi kết hôn với Bill Gates, Melinda cũng chịu nhiều áp lực từ khối tài sản đồ sộ này. Melinda luôn băn khoăn con người mải mê công việc và cạnh tranh thương trường của Bill Gates có thích hợp với cuộc sống gia đình hay không.

Câu hỏi: “Cái người có thể phát điên lên vì công việc này nếu làm chồng mình sẽ ra sao?” luôn quẩn quanh trong đầu Melinda.

Cuối cùng bà cũng nói thẳng điều này ra với Bill, rằng: “Nếu muốn em dọn đến ở cùng anh, anh cần phải tạo nên một ngôi nhà thực sự ấm cúng của gia đình giống như em tưởng tượng”.

Sau 6 tháng thảo luận, bàn bạc với vị hôn phu, Melinda đã đích thân thuê kiến trúc sư cải tạo khu nhà ở 3.700m2. Đến nay, cứ cuối tuần Melinda đều cho đội ngũ làm thuê trong tư gia nghỉ, để gia đình có thể trải qua những giây phút quây quần bên nhau như những gia đình bình thường khác.

Có 3 con, điều đáng ngạc nhiên là chính Melinda đã tuân thủ các quy định nuôi con bằng sữa mẹ như các bác sĩ khuyến cáo.

Trong việc nuôi dạy bọn trẻ, Melinda cũng khuyến khích các con tự lập và làm việc chăm chỉ. Bà cũng tranh thủ đưa các con đi cùng trong các chuyến đi từ thiện để vừa rèn luyện sức khỏe, vừa mở rộng tầm nhìn về thế giới cho chúng.

Melinda và Bill cũng thống nhất trong việc để dành thừa kế cho các con. Sẽ không quá 5% tài sản của họ sẽ trở thành tiền thừa kế của 3 con, còn khối tài sản khổng lồ còn lại sẽ trở thành khoản đầu tư từ thiện với mong muốn sẽ đem lại lợi ích cho nhiều người hơn nữa.

Thực ra, ban đầu Bill và Melinda thậm chí không muốn để lại tài sản gì cả nhưng người bạn thân Buffet đã khuyên :

“Một người có rất nhiều tiền nên để lại cho con cái họ đủ số tiền, để chúng thực hiện ước mơ của mình, nhưng cũng không được nhiều đến mức, chúng không muốn làm gì nữa”.

Không thích mua sắm, ghét những nhãn hàng xa xỉ và chỉ trang điểm nhẹ nhàng, Melinda vẫn giữ được vẻ đẹp trẻ trung suốt những năm qua.

Một trong những bí quyết của bà là luyện tập thể thao đều đặn. Melinda đã tập chạy marathon từ gần 15 năm qua, thậm chí còn tham dự cả giải Seattle Marathon.

Dù bận rộn đến mấy, mỗi tuần bà cũng có một cuộc chạy việt dã, trong 1 giờ vượt qua 11km. Việc Bill tham gia chạy trong 2 năm trở lại đây cũng là do Melinda khuyến khích và thôi thúc.

thanhnientudo.com

->Đọc thêm...

19.12.14

->Đọc thêm...

THÔNG BÁO

KÍNH MỜI ANH CHỊ EM CÔNG GIÁO VIỆT NAM TẠI WARSZAWA BA LAN CỐ GẮNG CÓ MẶT TRONG LỄ TANG CHA XỨ NHÀ THỜ OSTROBRAMSKA 72 NGÀY 22.12.2014 LÚC 11.00 ĐỂ CẦU NGUYỆN CHO CHA XỨ ZENON MAJCHER CỦA CHÚNG RA. NGÀI ĐÃ RA ĐI VỀ VỚI CHÚA.

->Đọc thêm...

Tin Buồn


Cha xứ Zenon Majcher nhà thờ Ostrobramska 72 qua đời Sáng ngày 18.12.2014 lúc 06.15.

Xin anh chị em Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam Ba Lan hợp ý cầu nguyện cho Ngài, Vì thời gian qua hơn 10 năm, khỏang 100 anh chị em Đám cưới và hơn 200 em bé Rửa tội tại Warszawa Ba Lan,đều được sự đồng ý của Ngài. Xin Thiên Chúa rộng lòng thương xót đưa Linh hồn người Cha Thân yêu chúng ta về nơi An Nghỉ Vĩnh Hằng

->Đọc thêm...

18.12.14

Tuyển chọn 10 bài hát quốc tế giáng sinh, noel hay nhất thế giới

->Đọc thêm...

Nhạc Giáng Sinh Hải Ngoại Tuyển Chọn

->Đọc thêm...

Suy tư tâm lý – xã hội về tội lỗi của con người


Khi phân tích tội lỗi của con người trên bình diện tâm lý xã hội, chúng ta duyệt xét một từ được dùng trong các văn bản của nền văn chương sám hối thuộc các nền văn hóa và tôn giáo khác nhau. Nó là một thứ ngôn ngữ biểu tượng.

Các biểu tượng cổ xưa nhất đề cập tới ”vết nhơ” của một cái gì đó, nghĩa là một cái gì từ bên ngoài làm vấy bẩn, gây hư hại và ô nhiễm cho con người. Ngôn ngữ kinh thánh thì dùng các kiểu nói như: hụt đích, không đạt đích, đi theo một con đường cong queo, nổi loạn, cứng đầu cứng cổ, ngoại tình bất trung, điếc, bị hư mất, sai lầm, trống rỗng và giả dối, hay thay lòng đổi dạ, bất thường như bụi đất. Phạm tội, sống tội lỗi là không đạt đích, là đi trệch đường, là thất bại trong ơn gọi là người và là con cái Chúa của mình. Các biểu tưởng này diễn tả ý tưởng tương quan giữa Thiên Chúa và con người, giữa con người với nhau và giữa con người với chính mình. Thêm vào ý tưởng của sự đổ bể hay gẫy đổ tương quan, cũng phải nói tới một sức mạnh thống trị con người, và cũng là dấu chỉ sự yếu đuối, sự hư không của con người được diễn tả bởi hơi thở và bụi đất.


Biểu tượng của tội lỗi, một cách luân chuyển, là biểu tượng của một cái gì tiêu cực: sự đổ bể, sự gẫy vụn, việc trở thành xa lạ, sự vắng bóng, sự hư không phù phiếm, nhưng cũng là biểu tượng của một cái gì tích cực: sức mạnh, sự chiếm hữu, nhà tù,, sự tha hóa. Ý tưởng về tình trạng tội lỗi diễn tả hình thái triệt để việc nội tâm hóa của việc bước từ ”vết nhơ” sang ”tội lỗi”. Tội lỗi đã là sự gẫy bể của một tương quan, của điều kiện thực sự, khách quan, của chiều kích bản thể trong cuộc sống con người. Hơn nữa tình trạng tội lỗi còn có một khía cạnh chủ quan rõ ràng. Biểu tượng của nó miêu tả ý thức bị nghẹt thở bởi một sức nặng đầu độc nó. Các ẩn dụ được dùng để diễn tả nó là ”gánh nặng”, là ”vết cắn”, là ”tòa án”. Ở đây chúng ta đi tới một thời điểm đặc biệt trong kinh nghiệm của con người về sự dữ, một thời điểm hàm hồ nhất.

Một đàng ý thức về lỗi lầm ghi dấu một tiến trình rõ ràng đối với điều mà chúng ta gọi là ”tội lỗi”; trong khi tội lỗi vẫn là một thực tại tập thể, thì lỗi lầm có khuynh hướng cá nhân hóa. Trong lịch sử của dân Israel các ngôn sứ thời lưu đầy đã thực sự là những tác giả của tiến trình này. Lời rao giảng của các vị diễn tả một tư tưởng giải thoát. Trong một thời đại, trong đó một cuộc hồi hương tập thể từ nơi lưu đầy được so sánh với biến cố xuất hành của thời xa xưa từ Ai Cập, xem ra là điều không thể được, thì một con đường cá nhân hướng tới sự hoán cải được mở ra cho từng người. Người ta ghi nhận một cách rõ ràng sự tiến triển: từ kinh nghiệm bình đẳng không định tính của tội lỗi nổi bật lên một sự ”phân chia mức độ” của tình trạng lỗi lầm: con người là kẻ có tội một cách hoàn toàn và triệt để, nhưng có trách nhiệm trong các mức độ khác nhau. Việc cá nhân hóa và mức độ của lỗi lầm chỉ cho thấy một cách rõ ràng một tiến trình so sánh với tính cách tập thể và không định tính của tội lỗi. Nói chung, cho tới thời lưu đầy, tức thế kỷ thứ VI trước công nguyên, dân Do thái vẫn có quan niệm tập thể về tội lỗi, vì thế nên họ mới truyền miệng nhau câu ngạn ngữ ”Đời cha ăn nho xanh, đời con phải ê răng”. Những người Do thái phải đi đầy cho rằng vì cha ông họ đã phạm tội nên họ bị Thiên Chúa đánh phạt phải chịu kiếp sống lưu đầy bên Babilonia. Nhưng qua ngôn sứ Êdêkiel Thiên Chúa cho họ biết rằng: ”Ai phạm tôi, kẻ ấy phải chết” (Ed 18,2.4); nghĩa là họ cũng không phải là những người vô tội. Thật ra, tội lỗi bao giờ cũng bao gồm hai chiều kích cá nhân và tập thể ảnh hưởng trên nhau một cách chặt chẽ, ngay cả khi con người không trông thấy hay không nhận ra chúng. Lý do đơn sơ là vì mỗi người là thành phần của cộng đoàn nên không có suy tư hành xử nào của một người, dù thầm kín đến mấy, mà lại không để lại ảnh hưởng trên cuộc sống của toàn cộng đoàn. Người càng có địa vị và trách nhiệm cao, thì các tội và lỗi lầm của người ấy lại càng gây ra các ảnh hưởng trầm trọng hơn trên cuộc sống cộng đoàn.
Đàng khác, trong nghĩa tiêu cực cũng bắt đầu một bệnh lý học chuyên biệt, trong đó sự bối rối ghi dấu việc quay trở lại đàng sau. Cả sự bối rối cũng có một tính cách hàm hồ. Nếu một đàng lương tâm bối rối là lương tâm tế nhị, tỉ mỉ, say mê một sự toàn vẹn ngày càng lớn hơn, thì đàng khác sự bối rối ghi dấu việc lương tâm luân lý bước vào một điều kiện bệnh lý học.

Người bối rối tự khép mình trong đường hầm của các giới răn; sự bắt buộc chiếm hữu tính cách số lượng chồng chất trái nghịch với sự đơn sơ và thanh đạm của giới răn mến Chúa yêu người. Thái độ của người bối rối đẫn đưa tới một quan niệm ”pháp lý” của hành động và việc nghi thức hóa hầu như một cách ám ảnh cuộc sống thường ngày. Nó vừa là hậu qủa vừa là lý đo của một sự đồi trụy ý niệm về sự vâng lời. Nó khiến cho con người trở lại với tình trạng ”nô lệ luật”, như thánh Phaolô miêu tả trong chương 7 thư gửi tín hữu Roma. Như thế tình trạng tội lỗi vén mở cho thấy sự chúc dữ của một cuộc sống nằm dưới ách của luật lệ, tình trạng rủi ro không trở lại đàng sau được nữa như triết gia Kafka miêu tả: việc kết án đã trở thành sự trầm luân.

Sự tiến triển ghi nhận trong ngôn ngữ đã đặt để chúng ta trước các mức độ khác nhau của tình trạng tội lỗi: từ một bình diện tiên khởi có thể định nghĩa là ”vô thức”, bản năng, cho tới một bình diện có suy tư hơn, trong đó con người tự khiến cho mình có trách nhiêm đối với sự dữ của mình – vì nằm trong bình diện sự tự do của họ – cho tới một bình diện tôn giáo, trong đó con người nhận thức sự kiện mình là người tội lỗi trước mặt Thiên Chúa: đây là bình diện chuyện biệt của kitô hữu, của con người thiêng liêng.

Khi đề cập tới tội lỗi, chúng ta nhận thấy nó có ba bình diện hay ba mức độ, và trong mỗi mức độ từ tội lỗi có ý nghĩa khác nhau. Bình diện thứ nhất là mức độ của bản năng. Nơi con người có môt kiểu sống sự bắt buộc và tội lỗi, mà cho dù có bị lý trí hóa trong các lý do trí thức đi nữa, trong nòng cốt nó vẫn ở trên bình diện của bản năng. Nó bị xác định bởi áp lực xã hội; với các cấm đoán và các kiêng kỵ của nó xã hội thiết định một việc bảo vệ chống lại nguy hiểm được diễn tả bởi bản năng cá nhân. Tội hay lỗi lầm tức thì hệ tại tính cách vật chất của việc vi phạm. Sự hối lỗi sẽ chỉ đơn sơ là ước muốn bản năng thoát ra khỏi các hậu qủa của sự vi phạm ấy. Việc xưng thú tội lỗi và dốc lòng sửa chữa chỉ nằm trên bình diện thuần túy lễ nghi đền tội.

Thứ hai là bình diện luân lý. Nó nằm trong mức độ việc thực hiện có ý thức tự do và độc lập của bản vị con người, trong sự hiện diện của nó trên thế giới và trong tương quan liên chủ thể của nó với bản vị tuyệt đối là Thiên Chúa. Luật lệ mà con người ý thức được, như thế, ngưng là một đau buồn bề ngoài: nó là việc thực hiện cuộc sống riêng tư của mình như dữ kiện tiềm năng và dự án cần phải thực hiện. Ý thức luân lý sẽ không là gì khác, nếu không phải là ý thức về chính mình, hoạt động như khả năng phân định. Khả năng đó ở mỗi lựa chọn tự do, sẽ phán xử về điều tạo dễ dãi cho việc thực hiện đích thật chính mình, và về điều, trái lại, chống lại sự thực hiện đó. Cả khi nó không thể sai lầm đi nữa, sự phán xử của lương tâm được áp đặt một cách vô điều kiện cả trong trường hợp sai lầm vì ý ngay lành. Lỗi lầm luân lý hệ tại chỗ hành động một cách tự do chống lại sự phán xử của lương tâm mình. Như thế đây không chỉ là tính cách vật chất của hành động xác định nó. Sự trừng phạt lỗi lầm không còn là việc đe dọa từ bên ngoài nữa: tội luân lý tự phạt chính mình qua việc kết án sự lệch lạc trong việc trở thành của chính mình. Sự hối lỗi hệ tại việc thừa nhận trước mặt mình hành động riêng rẽ ấy như là việc khước từ chính mình và trong việc lên án sự trở thành lệch lạc đó. Nó không phải là thái độ thụ động và chịu trận, mà là sự kích thích trở về với sự thật việc trở thành đích thực của mình. Việc xưng tội đặt sự kết án tội lỗi của mình và sự dốc lòng xa tránh tội lỗi vào trong bối cảnh cụ thể của một sự lớn lên trong cộng đoàn, và có thể vén mở cho thấy một phương thế hữu hiệu trong việc trở về với sự thật trong hành động của mình.

Bình diện thứ ba là bình diện thiêng liêng của kitô hữu. Sự thành toàn luân lý của con người được hiện thực trước hết trong cuộc gặp gỡ trưởng thành với tha nhân trong tình yêu thương. Nhưng mà chỉ có một giá tri tuyệt đối của tình yêu mới có thể xây dựng một luân lý tình yêu có gía trị đại đồng; và cuộc gặp gỡ của tình yêu như là tuyệt đối sẽ đặt để chúng ta trên một bình diện cao hơn, bình diện của luân lý đạo đức tôn giáo. Luật lệ xác định cuộc gặp gỡ này không còn đơn thuần là việc thành toàn chính mình, mà là lời mời gọi vượt thắng việc thành toàn ấy cho một tương quan liên bản vị của tình yêu, với Bản Vị là chính Đấng Tuyệt Đối. Đây không phải là một hình thức mới của việc áp đặt từ bên ngoài như thoạt đầu xem ra như thế. Trong tương quan này tôi không ra khỏi chính mình, nếu không phải là để tìm lại chính tôi, vượt ngoài các giới hạn tự nhiên của tôi, trong một sự thông truyền với Thiên Chúa: ở đây đó là tuyệt đỉnh đạt được trong kinh nghiệm thần bí. Lương tâm thôi là một phán xét đơn thuần luận lý hay lý trí, mà trở thành sự hiệp thông giữa hai bản vị yêu nhau, trở thành ý thức về Thiên Chúa và đồng bản tính với Thiên Chúa trong tình bác ái. Ở đây tội lỗi trở thành trước hết và nhất là sự bất trung đối với một tình yêu: chính con người trong thái độ khước từ tình yêu của Thiên Chúa. Sự trừng phạt tội lỗi không phải là một hình phạt bị đưa ra từ bên ngoài, mà là nổi khổ đau của người khước từ một cách lì lợm một nhu cầu tình yêu không thể nào dập tắt được. Sự hối lỗi nảy sinh từ cuộc gặp gỡ giữa hai sự chắc chắn đó: một đàng là cái hiển nhiên của sự bất trung, đàng khác là lời kêu gọi của lòng xót thương của Thiên Chúa. Trả lời cho sự thống hối là ơn tha thứ, canh tân tình yêu và sát nhập chính tội lỗi vào trong cuộc đối thoại của Thiên Chúa. Việc xưng tội sẽ là dấu chỉ, qua đó cuộc gẵp gỡ và đối thoại được tái lập. Việc sám hối hay đền tội trên bình diện thời gian lớn lên của con người, nhập thể điều mà trong chính lúc tạo dựng của tình yêu đã được thực hiện một cách hoàn toàn trên bình diện tôn giáo.

THKT 1145

Linh Tiến Khải
R.Vatican

->Đọc thêm...

16.12.14

Bí thư thứ nhất ĐSQ VN tại Ba Lan đọc văn bản bổ nhiệm trụ trì chùa Nhâ...

->Đọc thêm...

15.12.14

CẦU NGUYỆN – BÍ QUYẾT HẠNH PHÚC GIA ĐÌNH KITÔ GIÁO


Khi đề cập đến hoàn cảnh gia đình trong thế giới hôm nay, ngoài những điểm tích cực, thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II còn nói đến những tiêu cực mà ngài gọi là những thoái hoá về những giá trị căn bản: quan niệm sai làm trên lý thuyết và thực hành về sự độc lập hai vợ chồng, những mập mờ về tương quan quyền uy của cha mẹ và con cái, các vụ ly dị gia tăng, vết thương về sự phá thai, sự ích kỷ …

Và trong Thư Mục vụ năm 2002, Hội đồng Giám mục Việt Nam cũng ưu tư về hình ảnh đẹp của gia đình Việt đang dàn bị đánh mất: hình ảnh một gia đình “trên thuận dưới hoà trong một mái nhà đầm ấm”. Những nguy cơ này ít nhiều đều ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình mà nguyên nhân gián tiếp được nêu lên là: sự xáo trộn trong sinh hoạt, sự hưởng thụ ích kỷ, lối sống sa đoạ, tệ nạn xã hội, sự suy giảm đạo đức …

Hạnh phúc gia đình là điều mong ước của mọi người, nhất là Kitô hữu và họ tìm cách để bảo vệ hạnh phúc cho gia đình mình. Một trong những bí quyết để kiến tạo và bảo vệ hạnh phúc gia đình, đó là sự cầu nguyện. Vậy, chúng ta cùng xem xét càu nguyện sẽ bảo vệ hạnh phúc như thế nào và cách thực hành cầu nguyện trong gia đình Kitô giáo.

Cầu nguyện bảo vệ phúc gia đình
Trước hết, cần có một định nghĩa về cầu nguyện. Thực ra có rất nhiều định nghĩa về cầu nguyện, nhưng tựu chung lại có thể nêu vắn gọn thế này: cầu nguyện là nâng tâm hồn lên với Chúa (elevatio mentis ad Deum). Đây là cách định nghĩa của ông Evagriô Ponticô (345- 399), trong đó gồm ba yếu tố: nâng lên, tâm hồn và Thiên Chúa. Đỉnh cao của cầu nguyện là việc kết hiệp với Thiên Chúa trong tình yêu.

Cách chung, khi càu nguyện, con người đi vào cuộc đối thoại thẳm sâu với Thiên Chúa như hai người bạn: “hàn huyên – homilia – với Chúa”. Anh mở rộng tâm hồn để biểu lộ những tâm tình, những ưu tư của mình; anh lắng nghe tiếng Chúa nói và nhận thêm được sức mạnh từ nơi Người. Thiên Chúa là Đấng mà anh tin tưởng tuyệt đối, Thiên Chứa là Đấng nhân từ luôn ban cho anh hạnh phúc, cũng như cho gia đình mà anh đang sống. Chính Thiên Chúa, qua việc cầu nguyện, sẽ chỉ cho mỗi thành viên trong gia đình biết cách sống làm sao để kiến tạo hạnh phúc cho mình và cho gia đình.

Do vậy, việc cầu nguyện liên lỷ với Thiên Chúa là thiết yếu. Nhưng không phải lúc nào mỗi người đều có thể cầu nguyện liên lỷ cách dễ dàng. Dĩ nhiên, việc gì cũng phải có sự cố gắng và tập tành, cầu nguyện cũng cần đi từng cấp độ của nó, nhưng trước hết là dần ý thức sự hiện diện của Chúa trong từng lời nói, từng cử chỉ và từng hành động của mình, rồi dần đến việc cảm nghiệm Chúa qua từng biến cố cuộc sống và tâm tình với Người ngay trong những sự kiện cuộc đời.

Thánh Augustinô tóm gọn cầu nguyện trong sự: tâm tình cầu nguyện và tác động cầu nguyện. Tâm tình cầu nguyện hệ tại việc kết hiệp với Thiên Chúa. Theo đó, việc cầu nguyện không bị giới hạn về không gian và thời gian, nghĩa là cầu nguyện liên lỷ mà chúng ta vừa nói trên. Còn tác động cầu nguyện thì nhắm đến thời khắc được dành ra để cầu nguyện. Theo đó, việc cầu nguyện bị giới hạn về thời gian, nghĩa là chỉ có những thời giờ nhất định để cầu nguyện, còn dành thời gian để làm những bổn phận khác nữa. Đó là cách cầu nguyện chung hay kinh nguyện chung mà chúng ta sẽ đề cập dưới đây.

Đức Giêsu cầu nguyện liên lỷ trong khi giảng dạy và chữa bệnh, trong suốt cả ngày sống. Người luôn sống kết hiệp với Chúa Cha qua việc cầu nguyện. Người cũng dạy các Tông đồ và mọi người càu nguyện luôn và cho thấy cần thiết phải cầu nguyện.

Kitô hữu sẽ không cảm thấy hạnh phúc trong cuộc đời theo Đức Kitô nếu không cầu nguyện. Đức cha Têophanô sánh việc cầu nguyện như là hơi thở của tâm thần. Giống như thân xác mà không ăn không thở là chết, thì tương tự như thế, tâm thần càn sự cầu nguyện bởi vì nó mang lại lửa đức ái sưởi ấm tâm hồn. Thánh Gioan Climacô ca ngợi rằng “cầu nguyện làcứu độ thế gian, là bình an với Chúa, là thứ tha tội lỗi, là thành luỹ chổng lại cơn cám dỗ, là sự hoà giải các cuộc tranh giành, là công tác duy nhất của các thiên thần, là lương thực cho các linh hồn, là niềm vui mai hậu, là hoạt động kéo dài đến mãn đại.”

Như thế, gia đình Kitô hữu cũng phải cầu nguyện là điều hiển nhiên. Mỗi thành viên trong gia đình (ông bà, cha mẹ, con cái …) đều cần cầu nguyện, càu nguyện nâng đỡ đời sống gia đình và làm cho gia đình hạnh phúc, vì mọi người đều sống theo sự hướng dẫn của Chúa. Có Chúa ngự trong gia đình và mỗi người cảm nghiệm như vậy thì hạnh phúc sẽ luôn có trong gia đình là chắc chắn. Nếu như gia đình không tránh khỏi những bất hoà và xung đột thì cầu nguyện sẽ là sự hoà giải. Nếu trong gia đình người này có lỗi với người kia thì càu nguyện sẽ là sự tha thứ. Nếu gia đình có những lo âu buồn phiền giữa bao thử thách gian nan thì cầu nguyện sẽ đem lại niềm vui và bình an. Nếu gia đình, xét như là một tế bào của xã hội, sống giữa những cám dỗ của sự xấu trong xã hội, thì cầu nguyện sẽ là thành luỹ che chở giữ gìn.

Đối tượng của càu nguyện mà các thành viên nhắm tới là Thiên Chúa. Chính Thiên Chúa, Đấng đã kết hợp cha mẹ, Đấng đã ban con cái như hoa trái của tình yêu vợ chồng, sẽ là điểm nối kết mọi thành viên gia đình. Chính Thiên Chúa luôn ngự trong gia đình nếu họ luôn biết cầu nguyện với Người. Những hoa trái của cầu nguyện đều phát sinh từ Thiên Chúa. Nếu họ biết kết hiệp với Thiên Chúa thì họ sẽ nhận được những hoa trái ấy (bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nại, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hoà, tiết độ]. Chúng tạo nên hạnh phúc cho gia đình.

Gia đình cầu nguyện như thế nào?
Trước tiên cần khẳng định rằng cha mẹ phải là những người tiên phong và mẫu gương cho con cái trong việc cầu nguyện. Điều đó giả thiết rằng cha mẹ trong trách nhiệm giáo dục đức tin cho con cái, cũng dạy chúng cầu nguyện. Làm sao để cha mẹ và con cái có thói quen cầu nguyện: cầu nguyện liênlỷ và cằu nguyện theo các giờ nhất định, về điểm này, chúng ta hãy nghe giáo huấn của Đức Phaolô VI dành cho các bậc cha mẹ :

“Hỡi các bà mẹ, chị em có dạy cho con cái của mình những lời kinh của người Kitô hữu không ? […] Chị em có lần hạt chung với chúng ở gia đình không? Còn những người cha, anh em có biết cầu nguyện chung với con cái, với cộng đồng gia đình, ít là thỉnh thoảng không? Gương sống của anh em qua sự ngay thẳng trong tư tưởng và hành động, được hỗ trự bằng ít nhiều kinh nguyện chung, quả là một bài học sống, một hành vi thờ phượng đáng tuyên dương. Như thế, anh em đang đem bình an vào trong tổ ấưi gia đình anh em: ‘Bình an cho nhà này’. Đừng quên rằng làm như thế là anh em đang xây dựng Hội Thánh.”

Cầu nguyện chung
Như đã nói, một mặt mọi người trong gia đình không phải lúc nào cũng cầu nguyện mà không làm gì cả,mặt khác họ phải lo nhiều công việc bổn phận: học hành, buôn bán, giao dịch, thăm hỏi… Thế nên, gia đình, vì không thể bỏ qua việc kinh nguyện chung, cần phải có giờ nhất định để cầu nguyện. Thiết nghĩ, tuỳ hoàn cảnh mỗi gia đình, có thể dành giờ cầu nguyện chung vào ban sáng hay buổi tối. Ở Việt Nam, các gia đình thường đọc kinh tối với nhau, sau bữa cơm gia đình. Đó là giờ nghỉ ngơi sau một ngày làm việc mệt nhọc và trong giờ này họ dâng lên Thiên Chúa lời nguyện tạ ơn và xin Người chúc lành cho một đêm nghỉ ngơi bình an.
“Vợ chồng cùng cầu nguyện với nhau, cha mẹ và con cái cùng cầu nguyện với nhau. Sự hiệp thông trong kinh nguyện vừa là hoa trái vừa là đòi hỏi của sự hiệp thông mà các bí tích Rửa tội và Hôn phối mang lại.” Khi cầu nguyện chung như vậy, chính Đức Giêsu hiện diện giữa gia đình và những lời cầu xin của gia đình xứng đáng được Chúa Cha nhận lời (Mt 18,19-20].

Câu nguyện bằng Lời Chúa
Khi khẳng định rằng “Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi” (Tv 118,105), thì một cách gián tiếp, Vịnh gia muốn nói đến tầm quan trọng của Lời Chúa trong cuộc đời, đến nỗi có thể nói Lời Chúa là lẽ sống. Cộng đoàn Hội Thánh được Lời Chúa quy tụ lại để được giáo huấn và kín múc sức mạnh nơi Lời, mà cụ thể là trong Thánh lễ mỗi ngày. Chính trong Lời Chúa, mà “Chúa Cha trên trời bằng tất cả lòng trìu mến đến gặp gỡ con cái mình và ngỏ lời với họ.” Và Lời Chúa trở thành lương thực cho linh hồn, nguồn sống thiêng liêng, tinh tuyền và trường cửu cho con cái Hội Thánh. Gia đình, xét như là Hội Thánh tại gia, cũng được Lời Chúa quy tụ, trong đó cha mẹ và con cái hiệp nhất trong Lời. Lời Chúa sẽ hướng dẫn mỗi thành viên cách sống để kiến tạo hạnh phúc cho gia đình mình.

Một cách cụ thể, chính việc đọc kinh chung (thường giờ kinh tối) là thời gian phù hựp để mọi người trong gia đình quy tụ lại để lắng nghe Lời Chúa. Đó là lời dạy của Hội đồng Giám mục Việt nam năm 2000 : “Bậc cha mẹ phải cố gắng biến những giây phút cả gia đình qui tụ bên nhau thành cơ hội để cầu nguyện, đọc và suy niệm Sách Thánh.” Lời Chúa thấm nhuần vào tâm hồn mỗi người sẽ phát sinh những hoa trái thánh thiện cho gia đình. Để được như vậy, mỗi thành viên trong gia đình, như đức Maria, luôn suy đi nghĩ lại Lời Chúa và áp dụng vào đời sống hằng ngày.

Cầu nguyện bằng kinh Mân Côi
Có thể nói trong các việc đạo đức, đọc kinh Mân Côi là một phương cách cầu nguyện dễ dàng nhất. Mọi người, từ trẻ em đến người già đều có thể đọc kinh này mọi lúc mọi nơi.

Lời kinh tuy đơn sơ giản dị nhưng lại chất chứa một ý nghĩa cao sâu đến nỗi kinh Mân Côi được coi là bản Phúc Âm tóm gọn. Đọc và suy niệm kinh Mân côi chính là đọc và suy niệm về công trình cứu độ của Thiên Chúa thực hiện noi Đức Giêsu và mẹ Maria.

Việc đọc kinh Mân Côi trong gia đình được các Giáo hoàng đề nghị, nhất là thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, ngài đã dành một Tông huấn (Rosarium Virginis Mariae) để nói về tầm quan trọng của kinh Mân Côi trong đời sống Hội Thánh và gia đình. Đức Phaolô VI khuyến dụ: “Tràng chuỗi kính Đức Trinh Nữ Maria phải được coi là một trong những kinh nguyện chung tuyệt hảo và hữu hiệu nhất mà Hội Thánh mời gọi mọi người trong gia đình Kitô hữu đọc với nhau. Tôi vui sướng tưởng nghĩ và tha thiết hy vọng rằng, khi gia đình sum họp để cầu nguyện, việc lần chuỗi Mân Côi sẽ là một hình thức được quý chuộng và thực hành thường xuyên.” Và thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II còn thêm rằng, việc đọc kinh Mân Côi là cách thức trung thành với Đức Maria và noi theo cuộc sống của Mẹ, nhờ đó, sự hiệp thông trong gia đình được nuôi dưỡng và là yếu tố phát triển linh đạo gia đình mà đạt tới hạnh phúc.

Kết luận
Một lần nữa, chúng ta khẳng định lại với nhau rằng việc cầu nguyện trong gia đình hết sức cần thiết. Nó được thể hiện cụ thể cách riêng nơi mỗi thành viên trong việc cầu nguyện cá nhân với Thiên Chúa và cách chung là cầu nguyện chung với nhau trong giờ kinh nguyện chung gia đình. Chính khi cầu nguyện, gia đình có Thiên Chúa hiện diện, hướng dẫn và gìn giữ. Nhờ đó, gia đình trở nên hạnh phúc. Thiên Chúa cũng là nguyên nhân chính tác động nơi mỗi thành viên cầu nguyện để luôn ý thức và xây đựng hạnh phúc trong gia đình mình. Không cầu nguyện, chắc chắn, gia đình sớm muộn gì cũng sẽ có những xung đột, những bất hoà, những đổ vỡ và những đau khổ bởi vì không có Thiên Chúa hiện diện. Xin Thiên Chúa chúc lành và ban hạnh phúc cho mỗi gia đình và cho toàn thể gia đình nhân loại.

Giuse Đình Chiến OP
(trích Chia sẻ số 74, trang 63-70)


->Đọc thêm...

Kết hôn xong mới biết mình từng gặp và tặng quà cho vợ từ 14 năm trước


14 năm trước, anh Tyrel Wolfe (người Mỹ) đã dành tặng 1 món quà cho cô bé có tên Joana sống ở khu ngoại ô Manila, Philippines. Lúc đó, anh không thể ngờ rằng cô bé được anh tặng quà lại chính là vợ anh sau này.


Năm 2000, Joana đã nhận được món quà Giáng sinh tại 1 ngôi trường kinh thánh ở Manila, Philippines. Bên trong hộp quà, Joana còn nhận được bức ảnh của cậu bé tốt bụng – người đã gói tặng món quà này cho cô. Được biết, cậu bé có tên Tyrel Wolfe (lúc đó mới 7 tuổi), và đến từ Idaho, Mỹ.

Cảm kích trước tấm lòng của Tyrel, Joana sau đó đã gửi thư cảm ơn cho cậu bé, thế nhưng, Tyrel đã không hề nhận được bức thư này.

11 năm sau, Joana đã quyết định sử dụng Facebook để tìm kiếm thông tin của Tyrel Wolfe. Sau khi tìm thấy 1 người có tên Tyrel Wolfe sống ở Idaho, cô đã gửi lời mời kết bạn cho anh. Nhận được lời mời kết bạn, Tyrel Wolfe chấp nhận và chỉ nghĩ đơn giản “đó là 1 cô gái bất kỳ nào đó ở Philippines”.

Sau đó, 2 người bắt đầu nói chuyện thường xuyên với nhau hơn. Chính từ những lần trò chuyện này mà Joana và Tyrel Wolfe đã dần hiểu hơn về nhau và phát hiện cả 2 có rất nhiều điểm chung về âm nhạc.

Bắt đầu đem lòng yêu Joana, Tyrel đã sử dụng số tiền tiết kiệm để mua vé máy bay sang Philippines gặp mặt Joana. Cũng nhân dịp này, Tyrel đã nói chuyện và xin phép cha mẹ Joana cho phép mình được hẹn hò cùng cô.

Sau một thời gian hẹn hò, cuối cùng 2 người đã kết hôn vào ngày 5/10. Vào ngày cưới, Joana đã mang hộp quà mà cô nhận được cách đây hàng chục năm để trao cho Tyrel Wolfe. Khi nhìn thấy hộp quà, anh thực sự xúc động và cho biết nhiều năm trước đây, anh chỉ muốn đóng gói hộp quà thật cẩn thận để mang lại chút niềm vui cho cô bé, thế nhưng, anh thực sự không ngờ, món quà nhỏ bé đó lại đem đến cho anh niềm hạnh phúc to lớn hơn rất nhiều những gì anh cho đi.

st

->Đọc thêm...