CLICK HERE FOR THOUSANDS OF FREE BLOGGER TEMPLATES »
“Hỡi anh em, ta hãy trung tín cùng Đức Chúa Trời cho đến chết ; cho đến chết, không một điều gì có thể dập tắt lòng thương mến Chúa Giêsu Kitô trong trái tim ta" (Những lời sau cùng của Chân Phước Anrê Phú Yên)

4.5.15

Các thực hành và nền tu đức của lòng sùng kính Trái Tim Đức Mẹ


Linh Mục Croiset, người được thánh nữ Margherita Maria Alacoque rất tín nhiệm, tóm tắt nhiệm vụ nền tu đức lòng sùng kính Trái tim Đức Mẹ như sau: “Thánh Tâm Chúa Giêsu và Thánh Tâm Mẹ Maria quá bằng nhau và kết hiệp khắng khít với nhau đến độ không thể bước vào trong một trái tim mà lại không bước vào trái tim kia. Nhưng với một khác biệt này: đó là trái tim Chúa Giêsu chỉ chấp nhận các linh hồn rất mực trong sạch, trong khi trái tim Mẹ Maria nhờ các ơn thánh Mẹ có được, thì thanh tẩy các linh hồn không trong sạch và để chúng trên độ cao được trái tim Chúa Giêsu chấp nhận… Không có một sự dịu hiền lớn lao đối với Đức Trinh Nữ Rất Thánh, thì không bao giờ có hy vọng đến với trái tim rất thánh Chúa Giêsu Kitô”.

Trong lịch sử lòng đạo đức thánh mẫu việc sùng kính trái tim Mẹ Maria đã làm nảy sinh ra vài đặc thái sùng mộ cụ thể, và nhất là đã khơi dậy một nền tu đức có tính cách khắc khổ nhằm mục đích thanh tẩy linh hồn cũng như nâng nó lên cao tới mức thần bí. Trong các nguồn gốc của nó vào thời Trung Cổ lòng sùng kính này được kết hiệp với các thực hành của thuyết nhân bản đầu tiên của thế kỷ XII, của các lời kinh Ave và Gaude làm nền cho chuỗi Mân Côi. Josef Hermann, qua đời năm 1241, hát mừng Mẹ Maria như sau: “Hãy hỉ hoan, hãy vui lên, hỡi đóa hồng trong sáng, hãy là một câu chuyện dịu êm cho người buồn khổ; với người kính chào Mẹ, với người van nài Mẹ, với người khẩn cầu Mẹ, với người yêu thương Mẹ, xin hãy nói: Ta sẽ giữ gìn con trong Chúa Kitô”.

Ecberto thành Shoenau cũng diễn tả tương tự như thế trong lời nài van tựa đề “Loquar ad cor tuum” “Thỏ thẻ với trái tim Mẹ”. Trong thời đó lòng sùng kính Trái Tim Mẹ Maria được phổ biến trong các hình thức của một khuynh hướng nhân bản đạo đức, trong đó các tác giả cảm thấy họ kết hiệp với tâm hồn Mẹ. Một văn bản đoạn thêm vào của tác giả Anselmo thành Lucca cống hiến cho chúng ta một đúc kết của nền tu đức này. Tác giả viết: “Ôi lậy Bà, Đấng chinh phục các con tim với sự dịu dàng của Mẹ: giờ đây Mẹ cũng hãy bắt cóc trái tim con; con xin hỏi Mẹ đã giấu nó ở đâu để con có thể tìm nó? Ôi Đấng bắt cóc các con tim! Khi nào Mẹ trả lại trái tim cho con? Khi con xin Mẹ mỉm cười với con và ngay lập tức bị ru ngủ bởi sự dịu hiền của Mẹ, con yên nghỉ. Lúc thức giấc con lại xin Mẹ: Mẹ ôm con vào lòng, ôi Đấng vô cùng dịu hiền, và lập tức con no say tình yêu của Mẹ. Giờ đây con không phân biệt trái tim con với trái tim Mẹ, và con không biết xin gì nữa ngoài trái tim Mẹ. Nhưng bởi vì trái tim con say sưa tình yêu của Mẹ đến thế và được trấn an trong tình yêu của Mẹ, xin hướng dẫn con với trái tim Mẹ, xin giữ gìn con trong máu của Chiên Con và đặt con vào trong Trái Tim của Con Mẹ”. Gautier de Coincy qua đời năm 1236 cũng diễn tả như trên trong lời kinh dâng trái tim cho Đức Mẹ. Nền tu đức lòng sùng kính Trái Tim Đức Mẹ trong thời này đã đạt tột đỉnh với hiện tượng thần bí của việc “trao đổi con tim” như xảy ra trong trường học của đan viện Helfta.

Các thực hành bề ngoài đã chỉ trở thành thường xuyên vào cuối thế kỷ XV, trong lòng đạo đức của khuynh hướng Gôtích đang suy tàn. Chúng sẽ được kết hiệp với các thói quen đạo đức khác, cũng gia tăng như việc đọc kinh các “giờ của Đức Thánh Maria” và các thói quen đạo đức khác, mà sự chỉ trích gay gắt của anh em tin lành sẽ xóa bỏ khỏi lòng đạo đức bình dân kitô. Chúng cũng được kết hiệp với việc gia tăng đầy dẫy các kinh Kính Mừng, các kinh “Hãy vui lên” và các “Thánh vịnh thánh mẫu”. Chúng ta nên để ý đến sự tiến triển của Kinh Mân Côi trong thời gian này. Thời phục hưng được ghi dấu bởi việc nở hoa mới của các huynh đoàn và các dòng tu, mà lòng đạo đức ba rốc của việc chống tin lành sẽ dựng lên như bức tường bảo vệ chống lại các thái qúa của phong trào cải cách. Thánh Jean Eudes sẽ là một người thăng tiến lớn các thực hành này, và vì thế sẽ chịu các tấn kích của phong trào giansenít hồi thế kỷ XVII-XVIII, chủ trương dấn thân sống đời luân lý nghiêm ngặt khắc khổ. Liên quan tới việc thánh hiến một ngày kia sẽ trở thành một phong trào nòng cốt của lòng sùng kính Mẹ Maria chúng ta đã nói đến trên đây.

Thói quen dành ngày thứ bẩy để kính Đức Trinh Nữ Maria đã có từ thời chân phước thần học gia và chuyên viên phụng vụ Alcuino thành York sống hồi thế kỷ thứ VIII (735-804), ngày nay đã trở thành thực hành “ngày thứ bầy đầu tháng” kính Trái Tim Đức Mẹ, có lẽ do giống thói quen các thứ sáu đầu tháng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu. Việc thực hành các thứ bẩy đầu tiên có hình thức vĩnh viễn với các mạc khải của bà Pontevedra, xác định nó trong “năm thứ bẩy đầu tháng” và linh hoạt nó với lời hứa lớn của Trái Tim Đức Maria như sau: “Hãy xem, hỡi con gái Mẹ, Trái tim Mẹ bị gai bao quanh, mà loài người vô ơn đâm vào với các lời nói phạm thượng và các thái độ vô ơn. Ít nhất là con hãy làm sao an ủi Mẹ và hãy cho biết: “Tất cả những ai trong năm tháng liền vào ngày thứ bẩy đầu tháng xưng tội, rước lễ, lần một chuỗi Mân Côi và đồng hành với Mẹ mười lăm phút, bằng cách suy niệm 15 mầu nhiệm chuỗi Mân Côi nhằm phạt tạ các xúc phạm đến Mẹ, thì Mẹ hứa trợ giúp họ trong giờ chết với tất cả các ơn thánh cần thiết cho ơn cứu rỗi của họ”.

Văn bản lời hứa nói trên, cả khi có bị phê bình trên phương diện văn chương và biên soạn, nhưng hoàn hảo trên bình diện thần học và có các bảo đảm đầy đủ trên bình diện lịch sử. Khi nó được phổ biến, và nhất là từ năm 1942 nó đã khơi dậy một phong trào đạo đức thánh thể thánh mẫu, giống phong trào 9 thứ sáu đầu tháng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu.

Chúng ta đã nhấn mạnh các nhiệm vụ của nhiều dòng tu thăng tiến việc sùng kính Trái Tim Đức Mẹ chiếu theo lịch sử và nền tu đức tên gọi của chúng. Có thể xem trong cuốn Niên Giám của Tòa Thánh. Điều này cũng có giá trị đối với các Tổng huynh đoàn. Trong thời đại của chúng ta phong trào tinh thần này cũng bị phê bình chỉ trích như biết bao nhiêu cơ cấu đáng kính khác của Giáo Hội. Đương nhiên là đối với lòng sùng kính Trái Tim Đức Mẹ cũng cần phải triệt để loại bỏ một vài thực hành, nhưng cần phải thích ứng với sư nhậy cảm của con người thời nay.

Trong dòng lịch sử lòng tôn sùng Trái Tim Đức Mẹ đã luôn luôn hiện hữu và nó đã là suối nguồn làm phát sinh ra biết bao nhiêu linh hồn yêu mến Đức Mẹ. Các trường phái Helfta, Biển Đức, Phan Sinh và Đa Minh trong suốt thời Trung Cổ cống hiến cho chúng ta các văn bản có giá trị khổ hạnh và thần bí khôn sánh. Tiếp đến chủ thuyết nhân bản đạo đức của thánh Phanxicô de Sales khiến cho Trái Tim Đức Trinh Nữ Maria trở thành nơi các linh hồn gặp gỡ Chúa Thánh Thần. Trường phái Berulle tách rời khỏi khuynh hướng nhân bản đạo đức này và hướng tới một nền tu đức thoát xác và chỉ dành để cho các linh hồn được nâng cao nhất. Chẳng hạn như lễ “sự thân tình của Đức Trinh Nữ Maria” theo tinh thần Sulpice tuy có giá trị trên bình diện thần học, nhưng làm hư hỏng ý nghĩa lòng tôn sùng Trái Tim Đức Maria. Thánh Jean Eudes, tuy bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi Olier, nhưng đã không để cho mình bị lôi kéo bởi khuynh hướng thiên thần thái qúa này. Trong tác phẩm ý nghĩa nhất của mình là cuốn “Trái tim đáng khâm phục của Mẹ Thiên Chúa” thánh nhân tái lập thế quân bình giữa khuynh hướng duy linh của ĐHY Berulle và chủ thuyết nhân bản tràn đầy của các tu sĩ dòng Tên Pháp. Nhưng ảnh hưởng của Paray-le-Monial lại bẻ gẫy thế quân bình trở lại một cách nguy hiểm, gây lợi cho một chủ thuyết duy thể lý, khi đề cao tầm quan trọng của con tim như cơ phận làm sai lạc ý nghĩa tinh tuyền nền tu đức của lòng sùng mộ này.

Vào thời của chúng ta ngày nay nền tu đức sùng kính Trái Tim Đức Mẹ được phong phong phú nhờ các nghiên cứu mới liên quan tời lòng tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu. Và chúng ta không được quên rằng các bút tích cuối cùng của chị Lucia, nhất là cuốn “Ký ức thứ tư” của chị đã cống hiến rất nhiều yếu tố phong phú cho một nền tu đức về sứ điệp Fatima có chiều kích thần bí. Đàng khác các linh hồn vĩ đại có lòng sùng kính Trái Tim Đức Mẹ ngày nay là một thí dụ rõ ràng của mức độ tinh thần cao mà một nền tu đức tôn sùng Trái Tim Đức Mẹ đích thật có thể đạt được.

Tuy nhiên, lòng sùng mộ Trái Tim Đức Mẹ cần duyệt xét lại biểu tượng đã sử dụng cho tới nay. Nếu khi vượt thắng sự suy đồi ý nghĩa mới đây, chúng ta sẽ dùng từ “trái tim” trong nghĩa nguyên thủy của nó, nó sẽ khơi dậy trong ta một hình ảnh rất sâu xa và có nội dung phong phú, không bị hạn hẹp trong lãnh vực trìu mến tình cảm. Để làm điều này cần phải vượt qua hai thế kỷ lịch sử trong đó từ chìa khóa cao quý này đã bị sa lầy, ban đầu trong các vũng cạn của “khuynh hướng rất châu báu Pháp” thấm nhiễm các văn bản của thánh nữ Marguerita Maria Alacoque, rồi sau đó lại mắc cạn trong thuyết thơ mộng Đức thuộc thế kỷ XIX. Tuy nhiên, trong nền văn chương kitô từ chìa khóa này vẫn rộng mở cho một ý nghĩa hoàn toàn nhân bản và với các gốc rễ thần học vững chắc.

Nếu chúng ta hiểu từ “tráí tim” trong tất cả sự phong phú của nó trong ý nghĩa semít và kitô coi nó như là điểm tham chiếu, nơi tập trung bản thể và từ đó phát xuất ra các lời nói và hành động của nó, và khi được hiểu như vậy chúng ta sẽ áp dụng từ này cho Đức Trinh Nữ, chúng ta sẽ thấy rằng hình ảnh nó gợi lên là dấu chỉ thánh thiêng của con người và các hành động của chính Đức Trinh Nữ.

Thật hữu ích nhấn mạnh trên tính cách bí tích của trái tim: nó là một cơ phận dấu ẩn tuy nó tự biểu lộ; ta không trông thấy nó, nhưng thấy trước được các hành động của nó; nó là một thực tại sinh động nhưng quy hướng về các thực tại cao hơn, nhân bản và siêu nhiên.

Lòng sùng kính Trái Tim Mẹ Maria không thể bị giản lược vào việc chiêm ngưỡng “dấu chỉ của trái tim”, như đã xảy ra trong các thời đại của sự ưa thích suy đồi. Nó phải ôm gọn toàn thực tại của Đức Maria được tiếp nhận như mầu nhiệm của ơn thánh, tình yêu và sư hiến dâng trọn vẹn của Mẹ cho Thiên Chúa và loài người.

Để kết luận, chúng ta nói rằng nền tu đức lòng sùng mộ Trái Tim Mẹ Maria được mời gọi chu toàn ba nhiệm vụ quan trọng trong nền tu đức thánh mẫu: đó là thông tin, nội tâm hóa và thanh tẩy.

Trước hết vì các lý do đã được đề cập tới nó thông tin tất cả các việc sùng mộ tinh tuyền đối với Đức Trinh Nữ.

Thế rồi nó nội tâm hóa bằng cách đòi hỏi tín hữu sống trung thực trong con tim mình các kiểu diễn tả bề ngoài lòng sùng mộ đối với Đức Trinh Nữ.

Sau cùng, nó thực thi nhiệm vụ thanh tẩy đối với các kiểu diễn tả lòng tôn sùng Đức Maria, để tất cả đạt tới mức độ tinh thần cao; để không mất đi tính tự phát và lòng chân thành, chúng được thanh tẩy khỏi các cặn bã của một thứ bình dân suy thoái, và làm sáng lên vàng của lòng sùng mộ tinh tuyền.

MẸ MARIA 452

Linh Tiến Khải-vatican

->Đọc thêm...

Toàn văn sứ điệp của Đức Thánh Cha Phaxicô nhân ngày quốc tế giới trẻ lần thứ 30


“Phúc cho ai có tâm hồn thanh sạch, vì họ sẽ được thấy Thiên Chúa” (Mt 5.8)

Các bạn trẻ thân mến,

Chúng ta tiếp tục cuộc lữ hành thiêng liêng hướng về Cracovia, nơi sẽ diễn ra Ngày Quốc Tế giới trẻ lần tới vào tháng 7 năm 2016. Chúng ta đã chọn các Mối Phúc Thật của Tin Mừng như chỉ nam hướng dẫn hành trình của chúng ta. Năm ngoái chúng ta đã suy tư về Mối Phúc tinh thần thanh bần, được tháp nhập vào bối cảnh rộng lớn hơn của ”Bài giảng trên núi”.

Chúng ta đã cùng nhau khám phá ý nghĩa cách mạng của các Mối Phúc và lời kêu gọi mạnh mẽ của Chúa Giêsu gửi đến chúng ta, mời gọi chúng ta can đảm trong cuộc phiêu lưu tìm kiếm hạnh phúc. Năm nay, chúng ta suy tư về Mối Phúc thứ sáu: ”Phúc cho ai có tâm hồn thanh sạch, vì họ sẽ được thấy Thiên Chúa” (Mt 5,8).

1. Ước muốn hạnh phúc

Từ ”phúc” hoặc ”hạnh phúc” xuất hiện 9 lần trong phần thứ nhất bài giảng của Chúa Giêsu (Xc Mt 5,1-12). Nó như một điệp ca nhắc nhớ chúng ta về lời kêu gọi của Chúa hãy cùng nhau tiến bước với Ngài trong hành trình là con đường dẫn đến hạnh phúc đích thực, mặc dù có đủ thứ thách đố.

Đúng vậy, hỡi các bạn trẻ thân mến, con người thuộc mọi thời đại và lứa tuổi đều tìm kiếm hạnh phúc. Thiên Chúa đã đặt trong tâm hồn mỗi người nam nữ một ước muốn không thể đè nén được, ước muốn hạnh phúc, sung mãn. Các bạn chẳng cảm thấy tâm hồn mình khắc khoải và liên tục tìm kiếm một điều thiện hảo có thể thỏa mãn khát vọng vô biên của các bạn sao?

Những chương đầu tiên trong sách Sáng Thế trình bày cho chúng ta hạnh phúc tuyệt vời mà chúng ta được kêu gọi tiến tới và hạnh phúc ấy hệ tại được hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa, với tha nhân, với thiên nhiên, với chính mình. Được tự do đến với Chúa, sống thân mật và hưởng kiến Ngài, đó là điều vốn có trong dự án của Thiên Chúa dành cho nhân loại ngay từ đầu và làm cho ánh sáng thần linh thấm nhập mọi quan hệ của con người bằng chân lý và sự trong sáng. Trong trạng thái tinh tuyền nguyên thủy, không có những ”mặt nạ”, những cuộc lẩn tránh, những lý do để ẩn nấp nhau. Tất cả đều thanh khiết và minh bạch.

Khi người nam người nữ chiều theo cám dỗ và phá vỡ quan hệ hiệp thông tín thác với Thiên Chúa, thì tội lỗi đi vào lịch sử nhân loại (Xc St 3). Người ta nhận thấy ngay hậu quả của tội lỗi cả trong những quan hệ với bản thân, với tha nhân và với thiên nhiên. Thật là bi thảm dường nào! Sự thanh khiết nguyên thủy như bị ô nhiễm. Từ lúc đó trở đi con người không còn có thể trực tiếp đến cùng Thiên Chúa nữa. Thay vào đó là xu hướng trốn tránh, người nam và người nữ phải che đậy sự trần truồng của mình. Vì thiếu ánh sáng đến từ sự ngắm nhìn CHúa, nên họ nhìn thực tại chung quanh một cách lệch lạc, thiển cận. ”Địa bàn” nội tâm trước kia hướng dẫn họ trong sự tìm kiếm hạnh phúc nay bị mất điểm tham chiếu và những tiếng gọi của quyền lực, sở hữu và ham mê lạc thú với bất kỳ giá nào đưa họ vào vực thẳm sầu muộn và lo âu.

Trong các thánh vịnh, chúng ta thấy tiếng kêu của nhân loại từ thẳm sâu của tâm hồn vọng đến Thiên Chúa: ”Lạy Chúa, ai sẽ làm cho chúng con thấy điều thiện, nếu ánh sáng tôn nhan Chúa không còn ở nơi chúng con nữa?” (Tv 4,7). Chúa Cha, với lòng từ nhân vô biên, đã đáp lại lời khẩn cầu này và sai Con của Ngài đến. Trong Đức Giêsu, Thiên Chúa mặc lấy khuôn mặt nhân trần. Qua sự nhập thể, cuộc sống, chết đi và sống lại của Chúa Con, Thiên Chúa cứu chuộc chúng ta khỏi tội lỗi và mở ra cho chúng ta những chân trời mới, cho đến bấy giờ là điều không ta thể nghĩ tới được.

Và thế là, hỡi các bạn trẻ thân mến, trong Chúa Kitô những ước mơ thiện hảo và hạnh phúc của các bạn được thành tựu viên mãn. Chỉ có Chúa mới có thể thỏa mãn những mong đợi của các bạn, những mong đợi này bao nhiêu lần đã bị thất vọng vì những lời hứa hẹn giả dối của trần thế. Như thánh Gioan Phaolô 2 Giáo Hoàng đã nói: ”Chính Chúa là vẻ đẹp thu hút các bạn dường nào; chính Ngài khiêu khích các bạn bằng khát vọng biến cuộc đời các bạn thành cái gì cao cả” (Đêm canh thức cầu nguyện tại Tor Vergata, 19-8-2000: Insegnamenti XXIII/2, [2000], 212)

2. Phúc cho những tâm hồn thanh sạch…

Bây giờ chúng ta tìm cách đào sâu để xem Mối Phúc này tiến qua tâm hồn thanh sạch như thế nào. Trước tiên chúng ta cần hiểu ý nghĩa từ ”thanh sạch” theo Kinh Thánh. Theo Văn hóa Do thái, con tim là trung tâm các tình cảm, các tư tưởng và ý hướng của con người. Nếu Kinh Thánh dạy chúng ta rằng Thiên Chúa không nhìn vẻ bề ngoài, nhưng nhìn con tim (Xc 1 Sm 16,7), thì chúng ta cũng có thể nói rằng chính từ con tim mà chúng ta có thể thấy Thiên Chúa. Sở dĩ như vậy vì con tim tóm gọn trọn vẹn con người, cả xác lẫn hồn, trong khả năng yêu và được yêu.

Trái lại về định nghĩa từ ”thanh sạch”, thánh sử Mathêu dùng từ Hy lạp ‘katharos’ cơ bản có nghĩa là ”sạch sẽ, tinh tuyền, không có những chất ô nhiễm”. Trong Tin Mừng chúng ta thấy Chúa Giêsu gạt bỏ một quan niệm về sự tinh tuyền theo nghi thức gắn liền với bên ngoại, cấm mọi tiếp xúc với những sự vật và con người (trong số này có những người phong cùi và người ngoại kiều), bị coi là ô uế. Với những người biệt phái – giống như bao nhiêu người Do thái thời ấy, họ không ăn nếu trước đó không thực hiện nghi thức thanh tẩy và họ tuân giữ nhiều truyền thống gắn liền với việc rửa các đồ vật, Chúa Giêsu nói dứt khoát rằng: ”Không có gì từ bên ngoài con người, khi vào bên trong làm cho con người trở nên ô uế. Nhưng chính những điều xuất ra từ con người làm cho họ ô uế. Thực vậy, từ bên trong, nghĩa là từ tâm hồn con người, phát xuất những dự tính xấu: tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, ham hố, gian ác, lường gạt, tháo thứ, ghen tương, vu khống, kiêu hãnh, điên rồ” (Mc 7,15.21-22).

Vậy hạnh phúc nảy sinh từ con tim thanh sạch hệ tại điều gì? Đi từ danh sách những điều ác làm cho con người trở nên ô uế mà Chúa Giêsu liệt kê, chúng ta thấy rằng vấn đề này liên hệ trước tiên tới lãnh vực các tương quan của chúng ta. Mỗi người chúng ta phải học cách phân định điều gì có thể làm cho con tim của mình bị ”ô nhiễm”, học cách tạo cho mình một lương tâm ngay chính và nhạy cảm, có khả năng ”nhận ra thánh ý Chúa, điều gì là tốt, làm đẹp lòng Chúa và hoàn hảo” (Rm 12,2). Nếu cần có một sự chú ý lành mạnh đối với việc bảo tồn thiên nhiên, không khí trong lành, nước và lương thực thanh khiết, thì chúng càng cần phải bảo tồn sự thanh khiết của những gì mà chúng ta quí chuộng nhất: đó là con tim và những liên hệ của chúng ta. Nền ”sinh thái học nhân bản” sẽ giúp chúng ta hít thở không khí trong lành đến từ những điều đẹp đẽ, từ tình yêu chân thực, từ sự thánh thiện.
Có lần tôi đã đặt cho các bạn câu hỏi: ”Kho tàng của bạn ở đâu? Bạn đặt con tim của mình trên kho tàng nào? (Xc Cuộc phỏng vấn với vài bạn trẻ người Bỉ, 31-3-2014). Đúng vậy, con tim chúng ta có thể gắn bó với những kho tàng đích thực hoặc giả dối, nó có thể tìm được nơi an nghỉ đích thực hoặc bị ngái ngủ, trở nên lười biếng và bị mê sảng. Thiện ích quí giá nhất mà chúng ta có thể có được trong đời chính là quan hệ của chúng ta với Thiên Chúa. Các bạn có xác tín về điều đó hay không? Các bạn có ý thức về giá trị khôn lường của các bạn trước mặt Chúa hay không? Các bạn có biết mình được Chúa yêu thương và đón nhận một cách vô điều kiện, như các bạn đang hiện hữu hay không? Khi nhận thức này bị suy giảm, thì con người trở thành một ẩn ngữ không thể hiểu được, vì chính sự ý thức mình được Thiên Chúa yêu thương vô điều kiện mang lại ý nghĩa cho đời sống chúng ta. Các bạn có cuộc nói chuyện của Chúa Giêsu với chàng thanh niên giàu có hay không (Xc Mc 10,17-22)? Thánh sử Marcô nhận xét rằng Chúa chăm chú nhìn anh ta và Ngài yêu thương anh (Xc c.21), rồi Ngài mời gọi anh hãy đi theo Ngài để tìm được kho tàng đích thực. Các bạn trẻ thân mến, tôi cầu chúc các bạn được cái nhìn của Chúa Kitô, đầy tình yêu thương, tháp tùng các bạn trong suốt cuộc đời.

Tuổi trẻ là thời kỳ trong đó nảy sinh sự phong phú về tình cảm hiện diện trong tâm hồn các bạn, ước muốn sâu xa, mong được một tình yêu chân thật, đẹp đẽ và cao cả. Bao nhiêu sức mạnh ở trong khả năng yêu thương và được yêu! Các bạn đừng để cho giá trị quí báu này bị biến thái, hủy hoại hoặc bị ô uế. Điều này xảy ra khi trong quan hệ của chúng ta có sự lợi dụng tha nhân vào những mục tiêu ích kỷ, đôi khi coi tha nhân như một đồ vật để thỏa mãn lạc thú mà thôi. Con tim bị thương tổn và sầu muộn sau những kinh nghiệm tiêu cực như thế. ”Tôi xin các bạn đừng sợ tình yêu chân thực, tình yêu mà Chúa Giêsu và Thánh Phaolô đã dạy chúng ta như sau: ”Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả. Đức mến không bao giờ mất được” (1 Cr 13,4-8.

Khi mời gọi các bạn tái khám phá vẻ đẹp của ơn gọi con người sống tình yêu, tôi nhắn nhủ các bạn hãy nổi lên chống lại xu hướng lan tràn tầm thường hóa tình yêu, nhất là khi người ta tìm cách thu hẹp tình yêu vào khía cạnh tính dục, loại bỏ mọi đặc tính thiết yếu của vẻ đẹp, sự hiệp thông, chung thủy và trách nhiệm. Các bạn trẻ thân mến, ”trong thứ văn hóa tạm bợ, tương đối, nhiều người rao giảng rằng điều quan trọng là hưởng thụ trong lúc này, và không bõ công dấnthân trọn đời, đưa ra những chọn lựa chung kết, mãi mãi, vì ta không biết ngày mai sẽ ra sao. Trái lại, tôi xin các bạn hãy trở thành những nhà cách mạng, tôi xin các bạn hãy đi ngược dòng; đúng vậy, theo nghĩa đó tôi xin các bạn hãy nổi lên chống lại thứ văn hóa tạm bợ, xét cho cùng, thứ văn hóa này tin rằng các bạn không có khả năng yêu thương thực sự. Tôi tín thác nơi các bạn trẻ và cầu nguyện cho các bạn. Hãy can đảm đi ngược dòng. Và hãy can đảm sống hạnh phúc” (Gặp gỡ các bạn thiện nguyện tại Ngày Quốc Tế giới trẻ ở Rio, 28-7-2013).

Các bạn trẻ là những người thám hiểm tài ba! Nếu các bạn dấn thân khám phá giáo huấn phong phú của Giáo Hội trong lãnh vực này, các bạn sẽ thấy Kitô giáo không hệ tại một mớ những điều cấm đoán bóp nghẹt ước muốn hạnh phúc của chúng ta, nhưng là một dự phóng cuộc sống có khả năng làm cho con tim chúng ta say mê!

3… vì họ sẽ được thấy Thiên Chúa

Trong con tim của mỗi người nam nữ luôn vang vọng lời mời gọi của Chúa: ”Các con hãy tìm thánh nhan Ta!” (Tv 27,8). Đồng thời chúng ta luôn phải đối đầu với thân phận nghèo nàn của chúng ta là người tội lỗi. Ví dụ chúng ta đọc thấy trong sách Thánh Vịnh: ”Ai có thể lên núi Chúa? Ai có thể ở nơi thánh? Thưa đó là người có bàn tay vô tội và con tim trong trắng” (Tv 24,3-4). Nhưng chúng ta không nên sợ hãi hoặc nản chí: trong Kinh Thánh, và trong lịch sử mỗi người, chúng ta thấy rằng Thiên Chúa luôn đi bước đầu. Chính Ngài thanh tẩy chúng ta để chúng ta có thể được nhận vào trước nhan thánh Ngài.

Ngôn Sứ Isaia, khi nhận được lời mời gọi của Chúa nói nhân danh Ngài, Ông kinh hãi và nói: ”Ôi, khốn thay cho tôi! Tôi bị hư mất rồi, vì tôi là người có môi miệng ô uế” (Is 6,5). Nhưng Chúa đã thay tẩy ông, và sai một thiên thần đến chạm vào miệng ông và nói: ”Lỗi ngươi đã biến mất, và tội ngươi đã được đền bù” (c.7). Trong Tân Ước trên hồ Gennesaret, khi Chúa Giêsu gọi các môn đệ đầu tiên và làm phép lạ mẻ cá lạ lùng, Simon Phêrô sấp mình xuống dưới chân Chúa và nói: ”Lạy Chúa, xin hãy xa con, vì con là kẻ tội lỗi” (Lc 5,8). Chúa trả lời ngay: ”Đừng sợ; từ nay con sẽ là kẻ đánh cá người” (c.10). Và khi một trong các môn đệ Chúa Giêsu hỏi Ngài: ”Lạy Chúa, xin tỏ cho chúng con thấy Cha và vậy là đủ cho chúng con rồi”, Thầy đáp: ”Ai thấy Thầy, thì cũng thấy Cha Thầy” (Ga 14,8-9).

Vì thế, lời Chúa mời gọi gặp Ngài cũng được gửi đến mỗi người trong các bạn, dù bạn ở nơi nào và hoàn cảnh nào nào đi nữa. Chỉ cần ”quyết định để cho Chúa gặp bạn, không ngừng tìm kiếm Chúa mỗi ngày. Không có lý do để ai có thể nghĩ rằng lời mời gọi đó không phải là cho mình” (Tông huấn ”Niềm Vui Phúc Âm, 3). Tất cả chúng ta đều là người tội lỗi, cần được Chúa thanh tẩy. Nhưng chỉ cần một bước tiến nhỏ hướng về Chúa Giêsu để khám phá thấy rằng Chúa vẫn luôn chờ đợi chúng ta với vòng tay rộng mở, đặc biệt là trong bí tích Hòa Giải, là cơ hội ưu tiên để gặp gỡ lòng từ bi Chúa thanh tẩy và tái tạo con tim chúng ta.

Đúng vậy, các bạn trẻ thân mến, Chúa muốn gặp gỡ chúng ta, để cho chúng ta thấy Ngài. ”Nhưng bằng cách nào?” – các bạn có thể hỏi tôi như vậy. Cả thánh nữ Têrêsa Avila, sinh tại Tây Ban Nha cách đây đúng 500 năm, khi còn nhỏ đã nói với cha mẹ: ”Con muốn thấy Thiên Chúa”. Rồi thánh nữ đã khám phá con đường cầu nguyện ”như một tương quan thân hữu thân mật với Đấng mà chúng ta cảm thấy được Ngài yêu thương” (Sách sự sống, 8,5). Vì thế, tôi hỏi các bạn: các bạn có cầu nguyện không? Các bạn có biết mình có thể nói với Chúa Giêsu, nói với Chúa Cha, với Chúa Thánh Linh, như thể nói với một người bạn thân tín nhất hay không! Các bạn hãy thử làm như vậy đi, một cách đơn sơ. Các bạn sẽ khám phá điều mà một nông dân ở làng Ars xưa kia đã nói với Thánh Cha Sở trong làng: khi con cầu nguyện trước Nhà Tạm Mình Thánh Chúa, ”con nhìn Chúa và Chúa nhìn con” (Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo, 2715).

Một lần nữa tôi mời gọi các bạn hãy gặp gỡ Chúa bằng cách siêng năng đọc Kinh Thánh. Nếu các bạn chưa có thói quen thì hãy bắt đầu bằng các sách Tin Mừng. Hãy đọc mỗi ngày một đoạn. Hãy để cho Lời Chúa nói với con tim các bạn, soi sáng bước đi của các bạn (Xc Tv 119,105). Các bạn hãy khám phá thấy rằng chúng ta cũng có thể ”thấy” Thiên Chúa cả nơi khuôn mặt của những người anh em, nhất là những người bị lãng quên nhất: những người nghèo, người đói khát, người nước ngoài, các bệnh nhân và những người bị cầm tù (Xc Mt 25,31-46). Các bạn có bao giờ cảm nghiệm điều đó chưa? Các bạn trẻ quí mến, để đi vào tiêu chuẩn của Nước Thiên Chúa, cần nhìn nhận mình là người nghèo với người nghèo. Một con tim tinh tuyền nhất thiết cũng phải là một con tim từ bỏ, biết hạ mình xuống và chia sẻ cuộc sống của mình với những người túng thiếu nhất.

”Cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa trong kinh nguyện, qua việc đọc Kinh Thánh và đời sống huynh đệ sẽ giúp các bạn biết Chúa và bản thân mình rõ hơn. Như đã xảy ra cho các môn đệ trên đường Emmaus (Xc Lc 24,13-35), tiếng Chúa Giêsu làm cho con tim chúng ta nồng cháy và mắt các bạn sẽ mở ra để nhận ra sự hiện diện của Chúa trong đời sống chúng ta, và qua đó khám phá dự phóng tình thương mà Chúa dành cho cuộc sống chúng ta.

Một số người trong các bạn đang hoặc sẽ cảm thấy tiếng Chúa gọi sống đời hôn nhân, thành lập một gia đình. Ngày ngay nhiều người nghĩ rằng ơn gọi này là ”lỗi thời”, nhưng không phải như vậy! chính vì lý do đó, toàn thể cộng đồng Giáo hội đang sống thời kỳ đặc biệt suy tư về ơn gọi và sứ mạng của gia đình trong Giáo Hội và trong thế giới ngày nay. Ngoài ra, tôi mời gọi các bạn hãy cứu xét ơn gọi sống đời thánh hiến hoặc linh mục. Thật là đẹp dường nào khi thấy các bạn trẻ đón nhận ơn gọi hiến thân trọn vẹn cho Chúa Kitô và phục vụ Giáo Hội của Người! Với tâm hồn thanh khiết các bạn hãy tự hỏi và đừng sợ điều mà Thiên Chúa yêu cầu các bạn! Từ lời thưa ”xin vâng’ đối với tiêng gọi của Chúa, các bạn sẽ trở thành những hạt giống mới mang lại niềm hy vọng trong Giáo hội và xã hội. Các bạn đừng quên: thánh ý Chúa là hạnh phúc của chúng ta!

4. Hành trình tiến về Cracovia

”Phúc cho ai có tâm hồn thanh sạch, vì họ sẽ được thấy Thiên Chúa” (Mt 5,8).

Các bạn trẻ thân mến, như các bạn thấy, Mối Phúc này có liên hệ mật thiết tới cuộc sống của các bạn và là một bảo đảm hạnh phúc của các bạn. Vì thế tôi lập lại một lần nữa: hãy có can đảm sống hạnh phúc!
Ngày Quốc Tế giới trẻ năm nay dẫn tới giai đoạn cuối cùng trong hành trình chuẩn bị tiến về cuộc hẹn lớn trên thế giới của các người trẻ tại Cracovia, vào năm 2016. Cách đây đúng 30 năm thánh Gioan Phaolô 2 đã thiết lập trong Giáo Hội những Ngày Quốc Tế giới trẻ. Cuộc lữ hành này của giới trẻ qua các đại lục dưới sự hướng dẫn của Người kế vị thánh Phêrô thực sự là một sáng kiến do sự quan phòng của Chúa và có tính chất ngôn sứ. Chúng ta cùng nhau cảm tạ Chúa vì những thành quả quí giá mà Ngày Quốc Tế này đã mang lại trong cuộc sống của bao nhiêu người trẻ trên trái đất! Bao nhiêu khám phá quan trọng, nhất là khám phá Chúa Kitô là Đường, là Sự thật và là Sự Sống, và khám phá Giáo Hội như một đại gia đình hiếu khách! Bao nhiêu thay đổi trong cuộc sống, bao nhiêu chọn lựa ơngọi đã nảy sinh từ những Ngày Quốc Tế giới trẻ! Xin Thánh Giáo Hoàng, bổn mạng các Ngày Quốc Tế giới trẻ, phù hộ cuộc lữ hành của chúng ta tiến về Cracovia. Và xin cái nhìn từ mẫu của Đức Mẹ Maria, Đấng Đầy Ơn Phúc, tuyệt đẹp và tinh tuyền, tháp tùng chúng ta trong hành trình này.
Vatican ngày 31 tháng 1 năm 2015
Lễ Thánh Gioan Bosco
Phanxicô Giáo Hoàng

G. Trần Đức Anh O.P, chuyển ý từ bản tiếng Ý
http://vi.radiovaticana.va/

->Đọc thêm...

Tháng hoa kính Đức Mẹ


1. Tháng 5 là tháng dâng hoa kính Đức Mẹ Maria. Giáo Hội dành riêng tháng này để đặc biệt kính mến Đức Maria là Mẹ của Chúa Giêsu nơi trần thế.

2. Trên cây Thập Giá, trước khi chết, Chúa Giêsu đã giao Đức Mẹ cho Thánh Gioan là môn đệ yêu quý của Chúa và Chúa cũng giao Thánh Gioan cho Đức Mẹ. Sách Tông Đồ Công Vụ cũng kể lại Đức Mẹ cùng hiện diện với các môn đệ của Chúa trong các buổi đọc kinh cầu nguyện sau khi Chúa đã về trời. Chúng ta tin Mẹ Maria đã được Thiên Chúa đưa về trời và Mẹ luôn che chở và cầu bầu cho mỗi người chúng ta.

3. Những lúc gian nan nguy khốn cũng như khi được an bình hạnh phúc, chúng ta luôn biết chạy đến cùng Mẹ để được an ủi vỗ về che chở và dâng lời cảm tạ. Ở Việt Nam, tại Lavang – Quảng Trị, Mẹ Maria đã hiện ra nhiều lần để bênh vực, nâng đỡ và phù trì các giáo dân đã chạy trốn lên vùng rừng thiêng nước độc vì sự bách đạo, tàn sát người Công Giáo của hơn hai trăm năm trước.

4. Rất nhiều nhà thờ Việt Nam có tập tục rất dễ thương của tháng 5, đó là sau mỗi thánh lễ, mọi giáo dân với lời ca tiếng hát, đều tiến lên dâng hoa chúc tụng cảm tạ và mừng kính Mẹ. Dâng hoa cho Mẹ Maria, chúng ta cũng nhớ đến người mẹ của mỗi người chúng ta.


– Xin dâng lên Mẹ hoa hồng của lòng yêu mến, xin Mẹ dạy chúng con biết yêu Chúa hết lòng và yêu anh chị em mình như Chúa đã yêu chúng con.

– Xin dâng lên Mẹ hoa vàng của niềm tin sắt đá, xin Mẹ dạy chúng con sống phó thác và tin tưởng vào tình thương và sự quan phòng của Chúa như Mẹ.

– Xin dâng lên Mẹ hoa xanh của niềm cậy trông và hy vọng, xin đừng để chúng con thất vọng chùn bước trước bất cứ khó khăn nghịch cảnh nào của cuộc sống.

– Xin dâng lên Mẹ hoa trắng của sự trinh trong, xin Mẹ giúp chúng con gìn giữ tâm hồn luôn trong trắng, sạch tội.

– Xin dâng lên Mẹ hoa tím của những đau thương, bệnh tật, tang tóc, cô đơn, xin Mẹ dạy chúng con biết vui lòng chấp nhận Thánh Giá Chúa gởi đến để trung thành bước theo Đức Kitô, Con của Mẹ.

+ Chúng ta cũng xin Mẹ cầu bầu, hộ trì cho toàn thế giới được sống chung hòa bình.

Nguồn : khuccamta.net

->Đọc thêm...

Khúc hát dâng hoa (Krf)

->Đọc thêm...

29.4.15

->Đọc thêm...

24.4.15

TÓM LƯỢC VỀ ĐẠO CÔNG GIÁO


(Dựa theo lối trình bày mới nhất của Sách Giáo lý Công giáo và Sách Youcat để thắp sáng đức tin )

* * *

I. Đạo Công giáo là gì?

Đạo Công giáo là tổ chức tôn giáo đem tin vui hay Phúc âm của Đức Giêsu Kitô cho mọi người, để biến đổi mọi người theo Phúc âm của Đức Giêsu Kitô nghĩa là để Phúc âm hóa mọi người.

Phúc âm này cho biết rằng: Thiên Chúa vì yêu thương đã sáng tạo vũ trụ vạn vật và con người, để chia sẻ hạnh phúc cho họ. Nhưng con người nghe theo qủi dữ cám dỗ, không muốn vâng phục Thiên Chúa rồi sa ngã trong tội lỗi, phải đau khổ và chết. Tuy nhiên Thiên Chúa vẫn yêu thương đã cử Đức Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa đến trần gian, không những báo tin vui cho mọi người biết dù loài người đã không vâng phục Thiên Chúa, Thiên Chúa muốn cứu họ; mà còn đích thân thực hiện việc cứu chuộc loài người khỏi tội lỗi, khỏi chết; đồng thời Đức Giêsu Kitô còn thiết lập Giáo hội Công giáo để sau khi Người hoàn tất việc cứu chuộc rồi về trời, Giáo Hội Công Giáo nối tiếp công việc của Người ở trần gian, loan báo Phúc âm của Người cho mọi người, quy tụ họ vào Giáo hội để họ lại có thể chia sẻ hạnh phúc với Thiên Chúa.

Thời gian đầu, những người theo Đức Kitô thường được gọi là Kitô hữu. (xem Cv11,26). Đầu thế kỷ II đạo của Đức Kitô được gọi là Kitô giáo.Về sau để phân biệt với các đạo khác như Phật giáo, Ấn Độ giáo, Hồi giáo... người ta quen gọi là đạo Công giáo.

Tất cả những công việc vừa tóm tắt trên, như:

- Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ và con người, chọn các tổ phụ, các tiên tri và chọn dân riêng của Thiên Chúa, được ghi chép cẩn thận trong các sách Cựu Ước (46 sách).

- Thiên Chúa cử Đức Giêsu Kitô xuống thế làm người, loan báo Phúc âm và thực hiện việc Phúc âm hóa, được ghi chép trong sách Tân Ước (27 sách).

Đạo Công giáo múc lấy đạo lý, sức sống và sức mạnh của mình từ Thiên Chúa, từ Sách Thánh (Cựu ước và Tân ước) và từ Thánh Truyền (là những thói quen trong lối sống nếp nghĩ của dân được truyền lại).

II. Đức Giêsu Kitô có vai trò nào trong Đạo Công giáo?

Đức Giêsu Kitô có vai trò trung tâm và quan trọng tuyệt đối trong (Đạo Công giáo), như Thánh Phêrô có nói: "Dưới gầm trời này không có một danh nào khác đã được ban cho loài người, để chúng ta phải nhờ vào danh đó mà được cứu rỗi" (Cv 4,12). Đức Giêsu Kitô có vai trò tuyệt đối, bởi vì:

- Thứ nhất Đức Giêsu Kitô là "Con Một Thiên Chúa" (Ga 3,16). Con Một của Thiên Chúa nghĩa là chỉ một mình Đức Giêsu Kitô đích thực là Con trên hết mọi người là con. Vì loài người chúng ta và để cứu rỗi chúng ta, Người đã từ trời xuống thế, sinh sống ở đất Do Thái. Đồng thời Đức Giêsu Kitô cũng là Thiên Chúa thật như Người đã mặc khải cho biết: Người với Chúa Cha là một (Ga 10, 30), nghĩa là Người cũng là Thiên Chúa. Do đó Đức Giêsu Kitô vừa là Thiên Chúa vừa là người. Đây thật là một mầu nhiệm. Mầu nhiệm này làm cho Đạo Công giáo thật sự là đạo xuất phát từ trời, từ Thiên Chúa là Đấng làm chủ trời đất.

- Thứ hai, Đức Giêsu Kitô là Con một Thiên Chúa và cũng là Thiên Chúa, đã xuống thế làm người để cứu chuộc, nên Người có ba nhiệm vụ cốt yếu đối với loài người là: mặc khải, cứu chuộc, qui tụ và phục hồi (SGLGHCG số 516, 517, 518).

+ Mặc khải. Chính Đức Giêsu Kitô là Đấng duy nhất mặc khải về Thiên Chúa là tình yêu và về chương trình cứu rỗi loài người: " Không ai biết rõ Chúa Cha trừ người Con và kẻ mà người Con muốn mặc khải cho"(Mt 11, 27). Đức Giêsu Kitô biết rõ Thiên Chúa cũng như biết rõ con người, biết rõ ngôn ngữ hình ảnh nào diễn tả Thiên Chúa đúng nhất và dễ hiểu nhất cho con người để mặc khải. Người không chỉ dùng lời nói mà còn dùng toàn bộ đời sống Người, từ giáng sinh, sống âm thầm ở Nadarét, đi giảng dạy Phúc Âm, cho đến việc chết trên thập giá, sống lại,về trời, tất cả đều góp phần làm cho việc mặc khải của Người về Thiên Chúa và về con người được đầy đủ, trọn vẹn.

+ Cứu chuộc. Không những mặc khải, Đức Giêsu Kitô còn đích thân thực hiện chương trình cứu rỗi và cứu chuộc loài người, nghĩa là Phúc Âm Hóa họ, biến đổi họ từ thù nghịch với Thiên Chúa trở thành con cái nghĩa thiết với Thiên Chúa. Để chuộc lại tội không vâng phục Thiên Chúa, Người đã dâng cả cuộc đời để vâng phục thánh ý Thiên Chúa (Dt 10, 7). Ngay từ 12 tuổi Người đã lo sống hiếu thảo với Cha trên trời (Lc 2, 49), ở Nadarét Người vâng phục cha mẹ là thánh Giuse và Đức Maria (Lc 2, 51). Người cùng với dân tộc Người tuân giữ việc thờ phượng, cảm tạ, cầu nguyện Thiên Chúa. Khi đi giảng đạo, Nguời tìm gặp gỡ mọi người, kêu gọi họ từ bỏ tội lỗi; dạy cho họ Tám mối Phúc để biết sống khó nghèo, yêu thương, công bằng, khiết tịnh, tha thứ; Người chữa bệnh, trừ quỉ, giúp con người thoát khổ; và để tỏ tình yêu thương đến cùng, Người vui lòng chết trên thập giá như một hiến tế chuộc tội cho mọi người, hòa giải con người với Thiên Chúa để họ lại có thể hưởng hạnh phúc vĩnh hằng với Thiên Chúa.

+ Qui tụ và phục hồi - Trong khi loan báo Phúc Âm để mặc khải cho mọi người biết chương trình cứu rỗi của Thiên Chúa, cũng như trong khi thực hiện việc cứu chuộc bằng cuộc sống vâng phục đến chết trên thập giá, Đức Giêsu Kitô đã biến đổi và phục hồi được một số đông người Do thái tin theo Người, và qui tụ họ thành nhóm 12 tông đồ để làm nền móng cho Giáo Hội Công giáo. Người cũng đã thiết lập Bí tích Thánh Thể và Bí tích Truyền chức thánh để ban ơn thiêng cho Giáo hội đủ khả năng nối tiếp công việc của Người. Trước khi về trời, Đức Giêsu Kitô đã sai giáo hội đi khắp trần gian "làm cho mọi dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Người đã truyền. Và Người hứa ở cùng giáo hội mọi ngày cho đến tận thế"(Mt. 28, 19-20). Sau khi về trời, Đức Giêsu Kitô đã cử Thánh Thần đến giúp Giáo hội.

Như vậy Đức Giêsu Kitô có vai trò độc đáo duy nhất trong đạo của Người, Người vừa là Thiên Chúa, vừa là Con một Thiên Chúa xuống thế làm người. Nói theo kiểu mới bây giờ, Người vừa là Đấng loan báo Phúc Âm, vừa là Đấng sống Phúc Âm một cách toàn hảo, vừa Phúc Âm Hóa mọi người, để biến đổi họ từ thù nghịch với Thiên Chúa trở thành bạn hữu của Thiên Chúa, qui tụ họ trong giáo hội của Người để hưởng hạnh phúc trong Nước Thiên Chúa. Việc Phúc Âm Hóa của Người là nền tảng mẫu mực cho việc Phúc Âm Hóa của giáo hội ở mọi thời mọi nơi. Người đã Phúc Âm Hóa vừa bằng lời nói vừa bằng cả đời sống luôn gắn bó nghĩa thiết với Thiên Chúa và hòa nhập với mọi người, nổi bật là đời sống cầu nguyện, hiền lành, nghèo khó, khiêm nhường, phục vụ. Việc Phúc Âm Hóa và cách Phúc Âm Hóa của Người đã được ghi chép trong bốn sách Phúc Âm.

III. Giáo hội Công giáo thi hành sứ vụ Phúc Âm Hóa :

Đức Giêsu Kitô khi ở trần gian đã Phúc Âm Hóa trong 33 năm trên đất Do Thái, đã biến đổi Giêrusalem thành trung tâm của giáo hội Người. Sau lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, nhờ năng động của Phúc Âm là sức mạnh sống động do Đức Giêsu Kitô liên hợp với Chúa Thánh Thần, giống như ánh sáng và muối men có khả năng làm biến đổi , nhân văn hóa và siêu nhiên hóa cả cá nhân cũng như xã hội, các tông đồ và môn đệ của Đức Giêsu Kitô đã tiếp tục Phúc Âm Hóa trong đất Do Thái rồi mở rộng khắp đế quốc Rôma, trong thế kỷ I.

Từ thế kỷ II, giáo hội Phúc Âm Hóa trong suốt hơn 20 thế kỷ trên khắp thế giới cho đến nay. Giáo hội theo truyền thống các tông đồ đã tiếp tục Phúc Âm Hóa, được "Sách Chỉ dẫn tổng quát về Huấn giáo"(1997) tóm lược trong ba hoạt động chính : truyền giáo, huấn giáo và mục vụ.

- Truyền giáo là loan báo Phúc âm lần đầu cho những người chưa biết Đức Chúa Giêsu (quen gọi là kerygma) gồm 4 điểm: Đức Giêsu Kitô bị giết chết, Thiên Chúa phục sinh Người, Người tha tội cho mọi người, chúng tôi làm chứng về các điều trên. Đây chính là tóm lược trung tâm của mầu nhiệm Kitô giáo mà Giáo Hội loan báo cho người Do thái (xem Cv3, 12 - 26) còn cho người ngoài Do thái giáo thì nhấn mạnh đến Thiên Chúa sáng tạo và làm chủ lịch sử (xem Cv 17, 24 - 31).

- Huấn giáo là truyền đạt cho người đã tin toàn bộ Giáo lý Công giáo, giúp họ hiểu biết gặp gỡ Đức Giêsu Kitô. Từ mầu nhiệm Kitô giáo, giáo hội khai triển thành bốn thái độ và bốn nhiệm vụ của Kitô hữu là: tuyên xưng đức tin, cử hành bí tích đức tin, sống theo đức tin trong Đức Giêsu Kitô và cầu nguyện theo Đức Giêsu Kitô. Đây là bốn cột trụ của Sách Giáo lý Công giáo, có tương quan rất chặt chẽ, để giúp Kitô hữu / Phúc âm hóa chính mình và Phúc âm hóa mọi người.

- Mục vụ là tổ chức giúp Kitô hữu sống đúng căn tính của mình, đó là sống hiệp thông với Đức Giêsu Kitô, sống như con cái Thiên Chúa Ba Ngôi, phục hồi lại địa vị con người đã đánh mất vì tội lỗi, qua việc thường xuyên giáo dục đức tin (lớp giáo lý, giảng trong lễ, sinh hoạt...), qua việc cử hành các bí tích, qua việc sống theo đức tin và các Điều răn của Thiên Chúa hay của giáo hội, trong gia đình cũng như trong xã hội. Tất cả để Kitô hữu sống Phúc âm như Đức Giêsu Kitô là người mẫu sống Phúc âm, và cũng là người mẫu trong việc Phúc âm hóa.

Theo lịch sử giáo hội, các hoạt động Phúc âm hóa có khi gặp hoàn cảnh thuận lợi đã phát triển rất mạnh như thời các tông đồ và các giáo phụ, giáo hội phát triển thành thế giới Kitô giáo (thời Trung cổ); có khi khó khăn do phong trào tục hóa, do lối sống giáo sĩ trị, việc Phúc âm hóa sa lầy, khiến nhiều Kitô hữu bỏ giáo hội. Giáo hội phải họp Công đồng Trentô (1545) để cải tổ, nhờ đó mới có Sách giáo lý Rôma lần đầu tiên để sử dụng (1566). Nhưng sau hơn 400 năm, hoàn cảnh giáo hội và thế giới lại đổi thay, phong trào tục hóa, duy vật vô thần, chống đối giáo hội phát triển, giáo hội không theo kịp đà tiến của xã hội, Kitô hữu lại bỏ giáo hội nhiều hơn, nên giáo hội phải họp Công đồng Vatican II để cập nhật hóa với thế giới (1963-1965), soạn Sách Giáo lý Công giáo theo Vatican II (1992) và Sách Giáo lý cho người trẻ (Youcat 2011), nhất là ngày nay đang tập trung lo Tân Phúc Âm hóa để thông truyền đức tin Kitô, giúp mọi người được Phúc âm hóa đúng nghĩa nhất.

Tóm lại, giáo hội đã đón nhận năng động của Đức Giêsu và Chúa Thánh thần để tiếp tục cuộc Phúc âm hóa của Đức Giêsu Kitô và các tông đồ qua việc tổ chức ba hoạt động là truyền giáo, huấn giáo, mục vụ. Đặc biệt là đã soạn sách giáo lý Rôma, sách giáo lý công giáo theo Vatican II, sách giáo lý cho người trẻ (Youcat) để làm tài liệu cần thiết và hữu hiệu nhằm phục vụ việc Phúc âm hóa.

IV. Giáo Hội Công Giáo khi thi hành sứ vụ Phúc âm hóa đã nhắm tới điều gì cốt lõi nhất ?

Để trả lời cho đúng , phải trở về nguồn là Phúc âm mà Đức Giêsu Kitô và các tông đồ của Người đã loan báo. Phúc âm cho biết Thiên Chúa muốn cứu rỗi, cứu chuộc loài người, nghĩa là muốn Phúc âm hóa, muốn biến đổi phục hồi con người từ tình trạng tội lỗi không biết Thiên Chúa, trở về tình trạng như Thiên Chúa đã sáng tạo ban đầu, đó là con người nhận biết và yêu mến vâng phục Thiên Chúa để làm việc lành theo ý Thiên Chúa, và để thông phần sự sống hạnh phúc với Người (số 1 của Sách Giáo lý công giáo cũng như Sách Youcat). Loan báo truyền giảng Phúc âm là để mọi người nghe và tin. Ta cần hiểu tin cho chính xác và đầy đủ. Tin không phải chỉ là chấp nhận cho là đúng là thật là đáng hy vọng mà thôi. Kitô hữu tin Phúc âm, tin Đức Giêsu Kitô không phải chỉ là chấp nhận là đúng và thuộc lòng những điều phải tin trong Kinh Tin Kính, không phải là giữ một số thói quen làm dấu thánh giá, đọc kinh xem lễ, chịu một số bí tích, thực hành các Điều răn... Ngoài ra vẫn sống theo thói thường của người đời, ham hưởng thụ, ham giàu sang, nhậu nhẹt, bất công, gian dối, thờ hai ba chủ, sống nước đôi hai mặt...Đối với Kitô hữu, tin hay đúng hơn đức tin phải là ơn Thiên Chúa ban, là sức mạnh thiêng liêng Thiên Chúa soi sáng giúp ta hiểu biết, chọn lựa đi vào mối tương quan mật thiết và tình nghĩa với Đức Giêsu Kitô, đón nhận tất cả những gì Người mặc khải, sống theo Lời Người dạy, sống như Đức Giêsu Kitô sống trong mình (Gl 2,20), sống luôn hiệp thông với Chúa Cha, hiệp thông trong tâm tình cũng như trong hành động, sống thánh thiện như Đức Giêsu Kitô, gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

Như vậy khi giáo hội Phúc âm hóa, giáo hội nhằm biến đổi và phục hồi con người thành một Kitô hữu là bạn thân tình của Đức Giêsu Kitô, luôn sống hiệp thông với Đức Giêsu Kitô trong suốt cuộc đời mình, trong khi sốt sắng tuyên xưng đức tin, sốt sắng cử hành các bí tích, trung thành tuân giữ các Điều răn, ở trong gia đình cũng như xã hội (xem Tài liệu Tân Phúc âm hóa để thông truyền đức tin số 18). Ngày nay giáo hội phải dùng toàn tâm toàn lực để lo Phúc âm hóa con người trở thành bạn hữu của Đức Giêsu Kitô và bạn hữu của nhau. Còn Kitô hữu Việt Nam ngày nay phải Phúc âm hóa thế nào để mọi người công nhận rằng Kitô hữu Việt Nam đã sống đạo thật chứ không phải chỉ giữ đạo bề ngoài; làm sao để cũng như các vị truyền giáo đầu thế kỷ XVIII ở Đàng Ngoài,đã ghi nhận: "Người lương dân gọi bổn đạo là những người theo đạo yêu nhau. (xem linh mục Đỗ Quang Chính sj ). Vì thế mọi người phải lấy Phúc âm của Đức Giêsu Kitô và cách Phúc âm hóa của Đức Giêsu Kitô làm mẫu mực. Tân Phúc Âm Hóa mà xa rời tinh thần Phúc âm và phương cách Phúc Âm Hóa của Đức Giêsu Kitô và các tông đồ, là đi theo vết xe cũ của thời xưa, chắc chắn gặp thất bại như lịch sử giáo hội đã chứng minh.

ĐỂ KẾT:

Toàn thể Giáo hội Công giáo đứng đầu là đức giáo hoàng Phanxicô đang bắt tay vào việc Tân Phúc Âm hóa. Mỗi người mang danh là Kitô hữu phải trở thành bạn hữu chân tình của Đức Giêsu Kitô. Giáo dân và tu sĩ đã được xức dầu Kitô khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội và Thêm sức, giám mục và linh mục còn được xức dầu Kitô thêm lần nữa khi lãnh nhận bí tích Truyền chức thánh. Lãnh nhận có chút xíu dầu Kitô rồi sau đó bị chùi sạch ngay; nhưng cái mà dầu Kitô biểu tượng lại là ơn Chúa Thánh Thần, là sự thánh thiện của Đức Giêsu Kitô, là sự hiệp thông với Thiên Chúa Ba Ngôi và hiệp thông với moi người, được thể hiện trong nếp sống yêu thương, công bình, khó nghèo, khiêm tốn, phục vụ... những gì vừa được kể ra đây phải được nâng niu gìn giữ mãi mãi trong mình, không được để cho thế tục chùi sạch mất hết.

Lạy Chúa Giêsu Kitô, Chúa đã thiết lập Giáo hội Công giáo trên tảng đá Phêrô mà quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. Khi sai giáo hội đi Phúc âm hóa muôn dân, Chúa vẫn luôn ở cùng giáo hội mọi ngày cho đến tận thế. Xin cho giáo hội luôn có những Kitô hữu mang trong mình dầu thánh thiện của Chúa, sống nghĩa thiết như bạn thân tình của Chúa, Phúc âm hóa theo đúng cách Phúc âm hóa của Chúa, chỉ có thế giáo hội mới có thể Phúc âm hóa được cả thế giới. Amen

Linh mục Antôn Nguyễn Mạnh Đồng
Nhà Hưu Dưỡng linh mục Cần Thơ.
Vào Mùa Chay 2014

Nguồn gpcantho.com

->Đọc thêm...

NĂM ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN 2014-2015


Tông Thư Của Đức Thánh Cha Phanxicô gửi Tất Cả Các Người Thánh Hiến
Dịp Cử Hành Năm Của Đời Sống Thánh Hiến

Các Người Thánh Hiến Nam Nữ thân mến,
Cha viết cho Các Con trong tư cách là Người Kế Vị Thánh Phêrô, là Người mà Chúa Giêsu đã trao phó nhiệm vụ làm kiên vững anh em của mình trong đức tin (xem Lc 22, 32), và Cha viết cho Các Con như người Anh của Các Con, được thánh hiến cho Thiên Chúa như Các Con.

Chúng ta cùng nhau tạ ơn Chúa Cha, là Đấng đã kêu gọi chúng ta đi theo Chúa Giêsu trong việc bám sát vào Tin Mừng và trong việc phục vụ Giáo Hội, và Ngài đã đổ tràn đầy trong con tim của chúng ta, Thánh Thần của Ngài, Đấng ban cho chúng ta niềm vui và làm cho chúng ta nên chứng nhân cho toàn thể thế giới về tình yêu của Ngài và về lòng thương xót của Ngài.

Khi làm cho mình trở nên tiếng vọng của việc cảm nghiệm nơi nhiều người trong các Con và của Bộ Về Đời Sống Thánh Hiến Và Các Hiệp Hội Đời Sống Tông Đồ, trong dịp kỷ niệm lần thứ 50 Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội Ánh sáng muôn dân, mà trong chương thứ VI của Hiến Chế này, bàn về các Tu Sĩ, cũng như Sắc Lệnh Đức Ái toàn hảo về việc canh tân đời sống Tu Sĩ, Cha đã quyết định cho mở Năm Về Đời Sống Thánh Hiến. Năm này sẽ bắt đầu vào ngày 30 tháng 11 này, Chúa Nhật thứ I Mùa Vọng, và sẽ kết thúc với Lễ Dâng Chúa Giêsu vào trong Đền Thờ, vào ngày 2 tháng 2 năm 2016.

Sau khi lắng nghe Bộ Về Đời Sống Thánh Hiến và Các Hiệp Hội Đời Sống Tông Đồ, Cha đã chỉ định ra như là những mục tiêu của Năm này, chính những điều mà Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã đề nghị cho Giáo Hội vào lúc khởi đầu Thiên niên kỷ thứ III, lấy lại, một cách nào đó, những gì Ngài đã chỉ ra trong Tông Huấn Hậu Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới về Đời sống Thánh hiến như sau:"Các Con không chỉ có một lịch sử vinh quang để tưởng nhớ tới và để kể lại, nhưng một lịch sử lớn lao để xây dựng! Hãy nhìn về tương lai, trong đó Thánh Thần chuẩn bị các Con để còn cùng làm với các Con những điều các điều vĩ đại" (số 110).

I. Những mục tiêu cho Năm Về Đời Sống Thánh Hiến

1. Mục tiêu thứ I là nhìn vể quá khứ với tâm tình biết ơn. Mỗi Dòng Tu của chúng ta đến từ một lịch sử đặc sủng phong phú. Vào cội nguồn của lịch sử này, hoạt động của Thiên Chúa, Đấng mà, trong Thần Khí của Ngài, kêu gọi một số người đi theo Đức Kitô cách gần gũi hơn, để diễn tả Tin Mừng trong một hình thức đặc biệt của đời sống, để với con mắt đức tin, họ đọc các dấu chỉ của thời đại, để đáp trả, với sự sáng tạo, cho các nhu cầu của Giáo Hội. Kinh nghiệm của thuở ban đầu từ từ được lớn thêm lên và được khai triển ra, bao gồm những thành viên trong những môi trường mới về địa dư và văn hóa, làm cho có sức sống những cách thế mới để thực hiện đặc sủng, với các sáng kiến mới và các cách diễn tả về đức ái tông đồ. Đó như là hạt giống trở nên một cây làm lan tỏa ra các ngành cây xum xuê.

Trong Năm này, đây sẽ là dịp thuận lợi mà mỗi gia đình đặc sủng hãy nhớ lại cội nguồn của mình và sự phát triển lịch sử của mình, để tạ ơn Thiên Chúa là Đấng đã cống hiến cho Giáo Hội biết bao nhiêu hồng ân, và như thế những hồng ân này làm đẹp Giáo Hội và làm cho Giáo Hội được trang bị với từng việc lành thánh thiện (xem Hiến chế tín lý về Giáo Hội, Ánh sáng muôn dân, 12).

Kể lại lịch sử riêng của mình là điều cần thiết để giữ cho căn tính sống động, và như thế để làm vững mạnh sự hiệp nhất của gia đình và đem lại ý nghĩa của việc các thành viên thuộc về gia đình này. Đây không phải là việc bàn thảo như khoa khảo cổ học làm, hoặc trồng tỉa các nỗi nhớ nhung vô ích, mà đúng hơn, là lược lại hành trình của các thế hệ trong quá khứ để đón nhận, trong đó, ánh lửa gợi hứng, các lý tưởng, các dự án, các giá trị, đã thúc đẩy các gia đình, khởi đầu từ các Vị Sáng lập, các Người Phụ Nữ Sáng lập và các cộng đoàn đầu tiên. Đó cũng là một cách để ý thức về việc làm thế nào, thông suốt qua lịch sử, cho đặc sủng được sống, các sáng kiến nào đã thoát ra khỏi cảnh tù túng, đã phải đương đầu với các khó khăn nào và làm sao đã có thể vượt qua các khó khăn đó. Người ta có thể khám phá ra các điều không tương hợp, kết quả của các yếu đuối của con người, và nhiều lần, có thể, ngay cả sự quên đi một vài khía cạnh chính của đặc sủng. Tất cả là điều mang tính cách giáo huấn và cùng trở nên một lời kêu gọi việc trở lại. Kể lịch sử riêng của mình là dâng lời ca tụng Thiên Chúa và tạ ơn Ngài vì tất cả các ơn Ngài ban cho.

Chúng ta cám ơn Chúa một cách đặc biệt vì 50 năm vừa qua tiếp theo sau Công Đồng Chung Vatican II, được coi như là một "làn gió thổi" của Chúa Thánh Thần cho toàn thể Giáo Hội. Nhờ Ngài mà Đời sống thánh hiến đã thực hiện một hành trình thật phong phú trong việc canh tân mà, với các ánh sáng của hành trình này và các bóng tối của hành trình này, đã là một thời điểm của ơn thánh, được đánh dấu bởi sự hiện diện của Thánh Thần.

Chớ gì Năm của Đời Sống Thánh Hiến cũng là một dịp để xưng thú, với tâm tình khiêm nhường, và cùng nhau với lòng tín thác nơi Thiên Chúa Tình Yêu (xem 1Ga 4, 8), sự yếu đuối riêng của mình và để sống đời sống này như là một cảm nghiệm về tình yêu nhân từ thương xót của Chúa; là một dịp để kêu lên cho thế giới với sức mạnh, và với niềm hân hoan, làm chứng tá về sự thánh thiện và sức sống hiện diện trong phần lớn những người được kêu gọi để theo Đức Kitô trong Đời sống thánh hiến.

2. Ngoài ra Năm này còn mời gọi chúng ta sống hiện tại với lòng đam mê.Ký ức biết ơn về quá khứ thúc đẩy chúng ta, trong việc chăm chú lắng nghe những gì mà ngày nay Chúa Thánh Thần còn nói với Giáo Hội, để thực hiện, với một cách thế luôn sâu xa hơn, các khía cạnh làm nên Đời sống thánh hiến.

Ngay từ đầu của thời đan tu, cho tới ngày nay "các cộng đoàn mới:, mọi hình thức của Đời sống thánh hiến, được phát sinh ra từ lời mời gọi của Chúa Thánh Thần, để đi theo Đức Kitô như được dạy do Phúc Âm" (xem Đức ái toàn hảo, 2). Với các Vị Sáng lập Nam Nữ, luật tuyệt đối là chính Phúc Âm, mọi luật khác chỉ muốn là cách diễn tả của Phúc Âm và là dụng cụ để sống Phúc Âm một cách trọn vẹn. Lý tưởng của họ là Đức Kitô, là bám vào Ngài một cách toàn vẹn, cho tới khi có thể nói được như Phaolô: "Sống với tôi là Đức Kitô" (Plp 1, 21); các lời khấn chỉ có ý nghĩa là để thực hiện tình yêu đam mê của họ.

Câu hỏi mà chúng ta được mời gọi để đem chúng ta vào trong Năm này là có không và có như thế nào, ngay cả chúng tôi, cũng để cho mình bị cật vấn bởi Phúc Âm; xem Phúc Âm có thực sự là "cuốn sách gối đầu giường" cho đời sống hằng ngày và cho các chọn lựa mà chúng ta được mời gọi để thực hiện. Phúc Âm mang tính cách đòi hỏi và đòi hỏi được sống cách tận căn và chân thành. Thực không đủ, nếu chỉ có việc đọc Phúc Âm (cho dù việc đọc và học hỏi Phúc Âm vẫn thực sự cực kỳ quan trọng), cũng không đủ, chỉ suy niệm Phúc Âm (và chúng ta làm điều này với niềm vui mỗi ngày). Chúa Giêsu đòi chúng ta phải thực hiện Phúc Âm, phải sống các lời của Ngài.

Với Chúa Giêsu, chúng ta còn phải tự hỏi chính mình, có thực sự là tình yêu thứ nhất và cuối cùng, như chúng ta đã khấn, ta khi chúng ta đọc các lời khấn không? Chỉ khi nào là như thế, chúng ta mới có thể và phải yêu trong chân lý và lòng thương xót mọi người mà chúng ta gặp trên hành trình của chúng ta, để chúng ta hiểu từ Ngài rằng tình yêu là gì và phải yêu như thế nào; chúng ta sẽ biết yêu thương bởi vì chúng ta sẽ có chính con tim của Ngài.

Các Vị Sáng Lập Nam Nữ của chúng ta đã cảm nghiệm được nơi mình lòng cảm thương mà Chúa Giêsu có, khi Ngài nhìn thấy đoàn lũ dân chúng như bày chiên không có người chăn. Như Chúa Giêsu, bị đánh động bởi lòng cảm thương này, đã ban cho lời của Ngài, đã chữa lành các bệnh nhân, đã ban bánh để họ ăn, đã cho chính sự sống của Ngài, như thế cả các Đấng Sáng Lập Nam Nữ đã đặt chính mình để phục vụ nhân loại mà Thánh Thần đã sai họ đến với nhân loại này, trong những cách thế rất khác nhau: như cầu bầu, rao giảng Phúc Âm, dạy giáo lý, giáo dục, phục vụ người nghèo, các bệnh nhân . . . Sự tưởng tượng của đức bác ái đã không biết tới các giới hạn và đã biết mở ra nhiều con đường vô số kể, để mang hơi thở của Phúc Âm vào trong các nền văn hóa và trong các môi trường xã hội rất khác nhau.

Năm Đời Sống Thánh Hiến hỏi chúng ta về lòng trung thành với sứ mệnh đã được trao phó cho chúng ta. Các tác vụ, các hoạt động của chúng ta, sự hiện diện của chúng ta, có đáp lại những gì mà Thánh Thần đã đòi hỏi các Vị Sáng Lập của chúng ta, có xứng hợp với việc đi theo các mục đích của sứ mệnh trong xã hội và trong Giáo Hội ngày nay không? Có điều gì đó chúng ta phải thay đổi không? Chúng ta có cùng một sự đam mê với dân của chúng ta không, chúng ta có ở gần gũi họ không, cho đến mức độ cùng chia sẻ các niềm vui và các đau khổ của họ, và như thế để hiểu được thực sự các nhu cầu và có thể cung ứng sự đóng góp của chúng ta để đáp lại không? "Chính lòng quảng đại và sự từ bỏ đã thúc đẩy các Vị Sáng Lập - Đức Gioan Phaolô II đã hỏi - phải đánh động các Con, con cái tinh thần của các Con, để giữ cho sống động các đặc sủng mà, với chính sức mạnh của Thánh Thần đã thúc giục các ngài, tiếp tục làm cho nên giầu có phong phú và được thích nghi, mà không đánh mất đi đặc tính nguyên tuyền, để đặt mình phục vụ Giáo Hội và mang tới sự toàn vẹn công việc thiết lập Nước của Ngài" [1].

Trong khi việc nhớ lại các nguồn gốc, thì trong óc, một điểm nền tảng nữa về dự án đời sống thánh hiến đã đến. Các Vị Sáng Lập Nam Nữ đã bị làm cho có sức mê hoặc từ sự hiệp nhất của Nhóm 12 bên cạnh Chúa Giêsu, từ sự hiệp thông mà cộng đoàn thứ nhất tại Giêrusalem đã nhận ra. Làm cho sống động cộng đoàn riêng của mình, khi mỗi người trong họ đã biết làm lại các mẫu Phúc Âm, có một con tim và chỉ một linh hồn, vui hưởng sự hiện diện của Chúa (xem Đức ái toàn hảo,15).

Sống hiện tại với đam mê có nghĩa là trở nên "các chuyên viên của tình hiệp thông", "các chứng nhân và người làm nên "dự án hiệp thông" đang ở đỉnh cao của lịch sử của con người theo ý của Thiên Chúa" [2]. Trong một xã hội của các cuộc chống đối nhau, khi sự chung sống thật khó khăn giữa các nền văn hóa khác nhau, của các cách thế áp đặt lên các người yếu thế hơn, của các bất đồng đều, chúng ta được kêu gọi cống hiến một mẫu gương cụ thể về cộng đoàn mà, qua việc nhận ra địa vị của mỗi người và việc chia sẻ ơn huệ mà mỗi người đang mang trong mình, cho phép sống các mối tương quan huynh đệ.

Vậy Anh chị em hãy là những người nam và người nữ của tình hiệp thông, làm cho Anh Chị Em hiện diện, với sự can đảm, ở đâu có các khác biệt và căng thẳng, và Anh Chị Em hãy là dấu chỉ đáng tin của sự hiện diện của Chúa Thánh Thần Đấng đổ vào trong các con tim, sự đam mê để tất cả nên một mà thôi (xem Ga 17, 21). Anh Chị Em hãy sống đời nhiệm hiệp của việc gặp gỡ: "khả năng cảm thấy, lắng nghe các người khác. Khả năng cùng nhau đi tìm con đường, đi tìm phương pháp" [3], trong khi để lóe sáng lên từ mối liên hệ tình yêu xuyên qua giữa 3 Ngôi Thiên Chúa (xem 1Ga 4, 8), là như mẫu gương của mọi mối tương quan giữa các con người.

3. Ôm ấp tương lai với niềm hy vọnglà mục tiêu thứ ba của Năm này. Chúng ta biết các khó khăn, mà Đời sống thánh hiến gặp phải trong các hình thức khác nhau: việc giảm bớt ơn gọi và việc trở nên già nua, nhất là trong thế giới Tây phương, rồi các vấn đề kinh tế, đi theo cuộc khủng hoảng về tài chánh trên thế giới, các thách đố mang tính cách quốc tế và toàn cầu hóa, các mưu cơ của chủ thuyết tương đối hóa, việc loại ra ngoài rìa và việc bị coi là không có giá gì trong xã hội . . . Chính trong các thực tại không chắc chắn này, những điều mà chúng ta chia sẻ với bao nhiêu anh chị em cùng thời với chúng ta, thì niềm hy vọng của chúng ta đang thực hiện, như là kết quả của đức tin vào Chúa của lịch sử trên con đang tiếp tục tái diễn cho chúng ta: "Đừng sợ . . . bởi vì Ta ở cùng con" (Ger 1, 8).

Niềm hy vọng mà chúng ta nói tới không đặt nền tảng trên các con số hoặc trên các công việc, nhưng dựa trên Đấng chúng ta đặt sự tín thác của chúng ta (xem 2Tm 1, 12), vì đối với Ngài "không gì là không thể làm được" (Lc 1, 37). Đó là niềm hy vọng của chúng ta, là điều không làm chúng ta thất vọng và sẽ cho phép Đời sống thánh hiến tiếp tục viết ra một lịch sử vĩ đại trong tương lai, mà chúng ta phải hướng con mắt của chúng ta tới Ngài, ý thức rằng hướng về Ngài Đấng thúc đẩy chúng ta, Chúa Thánh Thần để tiếp tục cùng với chúng ta làm nên những điều cao cả.

Các Con đừng để cho mình bị cám dỗ về các con số và về tính cách hiệu nghiệm, còn kém hơn nữa, là chúng ta chỉ tín thác vào việc tin tưởng nơi sức lực riêng của mình. Các Con hãy đi tìm các chân trời của đời sống và của giây phút hiện thực trong một sự canh chừng cẩn mật. Với Đức Thánh Cha Benedicto XVI, Cha lặp lại cho các Con: "Đừng hiệp nhất với các tiên tri giả chỉ loan báo sự kết thúc hoặc điều vô nghĩa của Đời Sống Thánh Hiến trong Giáo Hội của thời đại chúng ta; đúng hơn, Anh em hãy mặc lấy Chúa Giêsu Kitô và mặc lấy khí giới của ánh sáng - như Thánh Phaolô khuyên (xem Rm 13, 11-14) - ở lại trong thái độ tỉnh thức và canh chừng" [4]. Chúng ta hãy luôn tiếp tục hành trình của chúng ta với niềm tín thác nơi Chúa.

Cha ngỏ lời nhất là với các Con, những người trẻ. Các Con là hiện tại bởi vì các Con đã sống tích cực trong lòng của các Hội Dòng của các Con, khi cống hiến một sự đóng góp quyết định với sự tươi mát và quảng đại của sự chọn lựa của các Con. Đồng thời, các Con cũng là tương lai bởi vì sắp tới đây, các Con sẽ được mời gọi cầm chắc trong tay việc hướng dẫn linh hoạt, việc huấn luyện, việc phục vụ, công tác truyền giáo. Năm này sẽ nhìn thấy các Con là các người đi đầu trong việc đối thoại với thế hệ ở trước mặt các con. Trong tình hiệp thông huynh đệ, các Con sẽ có thể làm cho mình nên phong phú về kinh nghiệm và sự khôn ngoan, và đồng thời, các Con sẽ có thể tái đề nghị cho thế hệ này, lý tưởng mà họ biết ngay từ đầu, đóng góp vào việc làm tung mở ra và sự tươi mát với sự hăng say của các con, như thế để cùng nhau đưa ra các hình thức mới để sống Phúc Âm và các câu trả lời luôn thích hợp cho các đề nghị của chứng từ và việc loan báo.

Cha hài lòng vì biết rằng các Con sẽ có các dịp để gặp nhau giữa các Con, các Tu sĩ trẻ của các Hội Dòng khác nhau. Chớ gì cuộc gặp gỡ này trở nên hành trình thường xuyên để hiệp thông, để nâng đỡ lẫn nhau, để hiệp nhất.

II. Các Mong Chờ Của Năm Đời Sống Thánh Hiến

Đâu là điều Cha mong chờ cách đặc biệt từ Năm của Ơn Sủng này từ Đời Sống Thánh Hiến?

1. Chớ gì là điều luôn đúng, điều mà Cha đã nói một lần: "Ở đâu có các Tu Sĩ, thì có niềm vui". Chúng ta được kêu gọi để cảm nghiệm và tỏ ra rằng Thiên Chúa có thể làm tràn đầy con tim của chúng ta và làm cho chúng ta hạnh phúc, mà không cần tới việc đi tìm nơi khác, hạnh phúc của chúng ta, là tình huynh đệ đích thực được sống trong các cộng đoàn của chúng ta, nuôi dưỡng niềm vui của chúng ta; chớ gì việc hiến thân cách trọn vẹn của chúng ta trong việc phục vụ Giáo Hội, phục vụ các gia đình, các người trẻ, các người già, các người nghèo khó, làm cho chúng ta nên như những con người và ban đời sống của chúng ta được nên toàn vẹn.

Chớ gì giữa chúng ta, không có việc nhìn nhau với những bộ mặt buồn sầu, những con người không hài lòng, và không được thỏa mãn, bởi vì "một việc bước đi theo mà buồn bã, thì là một việc bước đi theo chẳng ra gì". Cả chúng ta nữa, như tất cả mọi người nam nữ khác, chúng ta cũng có các khó khăn, những đêm tối của tinh thần, những thất vọng, những bệnh tật, việc mất đi sức lực phải có do tuổi già. Chính trong điều này mà chúng ta phải tìm ra "niềm vui trọn vẹn", phải học để biết được dung nhan của Đức Kitô là Đấng đã nên giống chúng ta trong tất cả và vì thế chúng ta cảm nghiệm được niềm vui là biết mình giống Người, Đấng mà, vì yêu thương chúng ta, đã không từ chối chấp nhận thập giá.

Trong một xã hội như đang hướng về việc tôn thờ điều gì là hữu hiệu, tôn thờ sức khỏe, thành công và bỏ ra ngoài rìa những người nghèo khổ và loại trừ các "người bị mất mát, chúng ta có thể làm chứng tá, qua đời sống của chúng ta, chân lý của các lời Kinh Thánh: "Khi tôi yếu đuối, thì lúc đó tôi lại mạnh" (2Cr 12, 10).

Chúng ta có thể áp dụng vào Đời Sống Thánh Hiến, điều được viết trong Tông huấn Niềm Vui Của Tin Mừng, khi trích dẫn bài giảng của Đức Beneđicto XVI như sau: "Hội Thánh phát triển không phải bằng việc chiêu dụ, nhưng bằng sức thu hút" (số 14, cuối). Phải, Đời Sống Thánh Hiến không lớn lên nếu chúng ta tổ chức những chiến dịch chiêu mộ ơn gọi, thật đẹp, nhưng nếu các người trẻ nữ và các bạn nam gặp chúng ta, họ cảm thấy bị lôi cuốn bởi chúng ta, nếu họ nhìn nơi chúng ta là những người nam và người nữ thật hạnh phúc! Cũng thế, tính các hữu hiệu tông đồ không tùy thuộc vào sự hữu hiệu và quyền năng của các phương tiện của nó. Chính đời sống của các Con phải nói lên, một đời sống mà từ đó tỏa ra rạng ngời niềm vui và vẻ đẹp để sống Phúc Âm và đi theo Đức Kitô.

Cha cũng lặp lại cho các Con điều mà Cha đã nói trong Lễ Vọng Chúa Thánh Thần vừa qua cho các Phong Trào của Giáo Hội: "Giá trị của Giáo Hội, một cách tự nền tảng, là sống Phúc Âm và làm chứng tá cho đức tin của chúng ta. Giáo Hội là muối đất, là ánh sáng thế gian, Giáo Hội được gọi để làm cho hiện diện trong xã hội men bột của Nước Thiên Chúa và trước hết, Giáo Hội thực hiện điều đó với chứng tá của mình, chứng tá của tình yêu huynh đệ, của sự liên đới và của việc chia sẻ với nhau" (ngày 18 tháng 5 năm 2013).

2. Điều Cha chờ mong là "Các Con hãy đánh thức thế giới", bởi vì điểm làm nên đặc tính Đời Sống Thánh Hiến là ngôn sứ. Như Cha đã nói với các Bề Trên Tổng Quyền "tính cách tận căn của Phúc Âm không chỉ là các Tu Sĩ: điều này đòi hỏi tất cả mọi người. Nhưng các Tu Sĩ theo Chúa một cách đặc biệt, một cách ngôn sứ". Đó là ưu tiên mà bây giờ được đòi hỏi là: "trở nên ngôn sứ làm chứng như Chúa Giêsu đã sống trên trái đất này . . .Nhưng các Tu Sĩ phải để cho mình lo việc làm ngôn sứ" (ngày 29 tháng 11 năm 2013).

Một ngôn sứ nhận được từ Thiên Chúa khả năng soi bói lịch sử trong đó họ sống và giải thích các biến cố: như là các người tuần canh coi chừng trong đêm tối và biết khi nào hừng đông xuất hiện (xem Is 21, 11-12). Biết Thiên Chúa và biết con người nam và người nữ, là những người anh và những người chị của mình. Họ có khả năng phân định và cũng có khả năng tố cáo sự dữ của tội và các bất công, bởi vì sống tự do, họ không phải trả lời cho các người chủ nhân khác ngoài Thiên Chúa, họ không có tư lợi nào ngoài điều thuộc về Thiên Chúa. Ngôn sứ thường đứng về phía các người nghèo và các người không được bênh vực, bởi vì họ biết rằng chính Thiên Chúa đứng về phía họ.



Vậy Cha chờ mong các Con đừng giữ sống động "các ảo tưởng, nhưng các Con biết tạo ra "các nơi khác", ở đó người ta sống lý luận của Phúc Âm của ơn tận hiến, của tình huynh đệ, của việc đón nhận các khác biệt, của tình yêu hỗ tương. Các đan viện, các cộng đoàn, các trung tâm tu đức, các thành trì, các trường học, các nhà thương, các nhà - như gia đình và tất cả những nơi mà đức bác ái và tính sáng tạo theo đặc sủng làm cho nảy sinh ra, và còn làm cho nảy sinh ra tính sáng tạo hơn nữa, phải luôn trở nên hơn nữa men bột cho một xã hội được gợi hứng từ Phúc Âm, "thành trì trên núi", nơi nói sự thật và quyền năng của các lời của Chúa Giêsu.



Nhiều lần, như đã xẩy ra cho ông Elia và ông Giona, có thể tới cơn cám dỗ chạy trốn, để cho mình thoát ra khỏi trách vụ ngôn sứ, bởi vì trách vụ này quá đòi hỏi, bởi vì làm chúng ta nỏi mệt, thất vọng từ các kết quả. Nhưng vị ngôn sứ biết mình không ở một mình. Cả chúng ta, như với ông Giêrêmisa, Thiên Chúa bảo đảm chúng ta: "Đừng sợ, bởi vì Ta ở cùng con để giữ gìn con" (Gr 1, 8).



3. Các Nam Nữ Tu Sỉ, cũng như tất cả các người thánh hiến khác, được kêu gọi để là "các chuyên viên của sự hiệp thông". Vì thế Cha chờ mong rằng "linh đạo hiệp thông", được chỉ ra do Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, trở nên hiện thực và các Con ở hàng đầu phải đón nhận "thách đố lớn lao đang ở trước chúng ta" trong thiên niên kỷ mới này: "hãy làm cho Giáo Hội nên ngôi nhà và trường học dạy sự hiệp thông"[5]. Cha chắc rằng trong Năm này các Con sẽ làm việc cách nghiêm chỉnh để lý tưởng huynh đệ được theo đuổi bởi các Vị Sáng Lập Nam Nữ, tăng thêm hơn nữa ở nhiều cấp bậc khác nhau, như các vòng được quy tụ về trung tâm.



Tình hiệp thông được thể hiện trước tiên ở trong mỗi cộng đoàn của Hội Dòng. Về điều này, Cha mời gọi các Con hãy đọc lại các bài phát biểu của Cha, trong đó Cha không mệt mỏi lặp lại rằng, các chỉ trích, các lời tâng bốc, các ghen tương, tị hiềm, các cách chống ngược lại nhau, là các thái độ không có quyền ở lại trong nhà của các Con. Nhưng, đem ra tiền đề này, hành trình đức bác ái mở ra trước chúng ta hầu như vô tận, bởi vì đó là việc đi tiếp theo, với sự đón nhận và sự chú ý lẫn nhau, thực hành tình hiệp thông về các của cải vật chất và thiêng liêng, việc sửa lỗi cho nhau, việc kính trọng những người bé nhỏ nhất . . . Đó là "huyền nhiệm" của việc sống với nhau", đó là điều làm cho cuộc sống của chúng ta "thành một cuộc hành hương thánh thiện" [6]. Chúng ta phải tự hỏi mình xem cả về mối tương quan của chúng ta giữa các con người với các nền văn hóa khác nhau, khi nhìn thấy rằng các cộng đoàn của chúng ta đang luôn trở thành cộng đoàn quốc tế hơn. Chúng ta đồng ý thế nào khi để cho người khác biểu lộ chính mình họ ra, họ được đón nhận với các ơn huệ riêng của họ, trở nên hoàn toàn đồng trách nhiệm, không?



Ngoài ra Cha còn chờ mong tình hiệp thông tăng lên giữa các phần tử giữa các Hội Dòng khác nhau. Năm nay lại không thể là dịp để đi ra với một sự can đảm hơn khỏi các biên giới của Dòng của mình để cùng làm việc với nhau, ở cấp bậc địa phương và toàn cầu, đưa ra các dự án chung về việc huấn luyện, về việc rao giảng Tin Mừng, về việc tham gia vào các công tác xã hội, được không? Theo cách thế này, người ta có thể có được, một cách hữu hiệu hơn, một chứng tá ngôn sứ. Tình hiệp thông và cuộc gặp gỡ giữa các khác biệt về đặc sủng là hành trình hy vọng. Không ai xây dựng tương lai khi tách riêng mình ra, cũng không thể chỉ với sức lực riêng của mình, nhưng biết mình đang ở trong sự thật về một tình hiệp thông luôn mở ra cho việc gặp gỡ, cho đối thoại, cho lắng nghe nhau, người này nghe người khác và giữ cho mình khỏi căn bệnh tự quy hướng về mình.



Đồng thời, Đời Sống Thánh Hiến được kêu gọi để bước theo việc chung sức chân thành giữa tất cả các ơn gọi trong Giáo Hội, khởi sự từ các linh mục và các giáo dân, như thế để "làm tăng lên linh đạo của tình hiệp thông trước hết ở ngay chính trong mỗi nơi và rồi trong chính cộng đoàn Giáo Hội và rồi đi qua các biên giới ràng buộc chúng ta" [7].



4. Cha còn chờ mong từ các Con điều mà Cha đòi hỏi tất cả các thành phần của Giáo Hội: là hãy đi ra khỏi chính mình để đi tới các vùng ngoại ô của cuộc sống. "Các con hãy đi khắp thế gian" là lời sau cùng mà Chúa Giêsu ngỏ với các môn đệ của Ngài và còn tiếp tục gửi tới tất cả chúng ta hôm nay (xem Mc 16, 15). Có tất cả một nhân loại đang chờ đợi: những con người đã mất đi mọi hy vọng, các gia đình đang gặp khó khăn, các đứa trẻ bị bỏ rơi, các thiếu niên đã bị loại ra trước, khỏi mọi tương lai, những bệnh nhân và những người già, trong khi đó các người giầu có thỏa thuê với của cải, nhưng lại trống rỗng nơi con tim, các người đàn ông và đàn bà đang đi tìm ý nghĩa cuộc đời, đang khao khát Thiên Chúa . . .



Các Con đừng khép mình trong chính các Con, các Con đừng để cho mình bị ngạt thở vì các vật nhỏ bé trong căn nhà, các Con đừng để mình là tù nhân của các vấn đề của các Con. Những điều này tự giải quyết nếu chúng Con đi ra ngoài để giúp người khác giải quyết các vấn đề của họ và để loan báo tn mừng. Các Con sẽ tìm được sự sống khi trao ban sự sống, tìm được niềm hy vọng, khi cho đi niềm hy vọng, tình yêu khi yêu thương.



Cha chờ nơi các Con những cử chỉ cụ thể tiếp đón các người tị nạn, cử chỉ của sự gần gũi những người nghèo khó, tinh thần sáng tạo trong việc dạy giáo lý, trong việc loan báo Phúc Âm, trong việc đưa người ta vào đời sống cầu nguyện. Từ đó Cha cầu chúc việc làm cho nhanh chóng các cấu trúc, việc xử dụng lại các ngôi nhà lớn vaào các công tác thích hợp hơn với các đòi hỏi hiện nay của việc loan báo Tin Mừng và bác ái, việc đưa ra các cách thế xứng hợp với các nhu cầu mới.



5. Cha chờ mong rằng mỗi hình thức của Đời Sống Thánh Hiến tự hỏi mình về điều mà Thiên Chúa và nhân loại ngày nay đòi đang hỏi.



Các đan viện và các nhóm có chiều hướng chiêm niệm có thể gặp nhau giữa họ, hoặc nối kết trong những cách thế khác biệt hơn để trao đổi các kinh nghiệm về đời sống cầu nguyện, việc làm thế nào để tăng lên trong tình hiệp thông với tất cả Giáo Hội, về việc làm sao nâng đỡ các Kitô Hữu bị bách hại, làm thế nào đón nhận và theo dõi những ai đang đi tìm một đời sống thiêng liêng sâu đậm hơn hoặc những người cần tới sự trợ giúp về luân lý hoặc vật chất.



Cũng thế với Các Dòng Tu lo việc bác ái, lo cổ võ văn hóa, những Dòng lăn xả trong việc loan báo Tin Mừng hoặc thi hành các tác vụ đặc biệt về mục vụ, các Tu Hội đời trong sự hiện diện chính của họ giữa các cơ chế xã hội. Sự tưởng tượng của Thần Khí đã làm sinh ra các cách sống thật khác nhau đến nỗi chúng ta không thể dễ dàng liệt kê các cách sống này, hoặc đem vào trong các chế độ đã xây dựng trước. Vì vậy đối với Cha, không thể nói với từng Hình thức đặc sủng. Tuy nhiên không ai trong Năm nay để mình mình ra ngoài khỏi việc xem xét lại sự hiện diện của mình trong đời sống Giáo Hội và trong cách thế đáp lại các đòi hỏi luôn có và luôn mới mẻ, được gợi ra cho chúng ta, với tiếng hò của nhưng người nghèo khổ đang vang lên.



Chỉ trong sự chú ý này vào các nhu cầu của thế giới và trong thái độ dễ bảo với các thúc đẩy của Thánh Thần, mà Năm Của Đời Sống Thánh Hiến biến thành một thời diểm (kairos) đích thực, một thời gian của Thiên Chúa giầu ân sủng và công cuộc biến đổi.



III. Các Viễn Tượng Của Năm Đời Sống Thánh Hiến



1. Với lá thư này, ngoài những người Thánh Hiến, Cha cũng ngỏ lời với các giáo dân, là những người, cùng với các người thánh hiến, chia sẻ lý tưởng, tinh thần sứ mạng. Một số Hội Dòng có truyền thống xưa về điểm này, ngoài ra còn có kinh nghiệm mới đây. Thực thế chung quanh Gia đình Tu sĩ, cũng như các Hiệp Hội Tông Đồ và chính các Tu Hội Đời, còn có một gia đình lớn hơn, "gia đình đặc sủng", gồm có ngoài các Hội Dòng được nhận ra trong cùng một đặc sủng, và nhất là các Kitô Hữu giáo dân, cảm thấy được gọi, chính trong đời sống giáo dân của mình, tham dự vào chính thực tại đặc sủng.



Cha cũng khích lệ các Con, các Giáo Dân, sống Năm Đời Sống Thánh Hiến này như là một ơn có thể làm cho các Con ý thức hơn về ơn các Con đã lãnh nhận. Các Con hãy cử hành Năm này với tất cả "Gia đình", để làm tăng thêm và để cùng nhau đáp trả các ơn gọi của Thánh Thần trong xã hội ngày nay. Trong một số dịp, khi các Người Thánh Hiến của những Hội Dòng khác nhau trong Năm này gặp gỡ nhau giữa họ, các Con hãy làm với cách thế để cũng hiện diện như là diễn tả ơn duy nhất của Thiên Chúa, như thế để biết các kinh nghiệm của các gia đình đặc sủng khác, của các nhóm giáo dân khác và để làm giầu và nâng đỡ lẫn nhau, người này nâng đỡ người khác.



2. Năm Của Đời Sống Thánh Hiến không chỉ nhắm vào các người thánh hiến mà thôi, nhưng nhắm tới toàn thể Giáo Hội. Như thế Cha ngỏ lời với tất cả dân Kitô để họ luôn ý thức hơn về ơn như là sự hiện diện của biết bao nhiêu người thánh hiến Nam Nữ, kẻ thừa kế các Vị Thánh vĩ đại là những Vị đã làm ra lịch sử của Kitô Giáo. Giáo Hội sẽ là gì nếu không có Thánh Beneđictô và Thánh Basilio, nếu không có Thánh Augustino và Thánh Bênađô, nếu không có Thánh Phanxicô và Thánh Đa Minh, nếu không có Inhaxiô Loyola và Thánh Têrêsa Avila, nếu không có Thánh Angela Merici và Thánh Phaolô de Paoli. Bản liệt kê sẽ như là vô tận, cho tới Thánh Gioan Bosco, Thánh Têrêsa Calcutta? Chân Phước Giáo Hoàng Phaolô VI xác quyết rằng: "Không có dấu chỉ cụ thể này, đức ái linh hoạt hóa toàn thể Giáo Hội sẽ rơi vào nguy cơ là sẽ lạnh nhạt đi, mối mâu thuẫn cứu chuộc của Phúc Âm sẽ cùn nhụt đi, "muối" của đức tin sẽ loãng tan ra trong một thế giới đang ơ giai đoạn bị tục hóa" (Evangelica testificatio, 3).



Vậy Cha mời tất cả các cộng đoàn Kitô hãy sống Năm này trước hết để tạ ơn Chúa và nhớ lại với lòng biết ơn các ân sủng đã nhận được và rồi chúng ta đã nhận được các ân sủng này nhờ sự thánh thiện của Các Vị Sáng Lập Nam và Nữ và về sự trung thành của biết bao nhiêu người thánh hiến cho đặc sủng riêng biệt. Cha mời tất cả hãy nắm tay nhau chung quanh các Người thánh hiến, để vui mừng với họ, để chia sẻ các khó khăn của họ, và để cộng tác với họ trong cách thế có thể được, vì họ thực hiện tác vụ của họ và công việc của họ, rồi những điều đó là của toàn thể Giáo Hội. Các Con hãy làm cho cảm nghiệm được tâm tình và sức nóng của tất cả dân Kitô.



Cha chúc tụng Chúa vì sự trùng hợp hạnh phúc này của Năm Về Đời Sống Thánh Hiến với Thượng Hội Đồng Giám Mục về Gia Đình. Gia Đình và Đời Sống Thánh Hiến là các ơn gọi mang theo sụ phong phú và ơn thánh cho tất cả, là những khoảng không gian của việc nhân bản hóa trong việc xây dựng các mối tương quan sống động, các nơi của việc loan báo Tin Mừng. Người ta có thể giúp nhau, người này giúp người khác.



3. Với lá thư này Cha cũng dám ngỏ lời với các người thánh hiến và các thành viên của các huynh đoàn và các cộng đoàn thuộc về các Giáo Hội của truyền thống khác với truyền thống công giáo. Cuộc sống đan sĩ là một di sản của Giáo Hội không bị phân chia, từ lúc đó đã linh động hết sức hoặc trong các Giáo Hội Chính Thống cũng như trong Giáo Hội Công Giáo. Với họ, cũng như với các kinh nghiệm kế tiếp của thời gian trong đó Giáo Hội bên Tây Phương còn đang hiệp nhất, thì các sáng kiến tương tự cũng được gợi hứng nảy sinh trong phạm vi của các Cộng Đoàn Giáo Hội của Thời Canh Tân, là những sáng kiến sau đó đã tiếp tục nảy sinh ra trong giữa lòng của họ các biểu lộ về sau của các cộng đoàn huynh đệ và phục vụ.



Bộ Các Hiệp Hội Về Đời Thánh Hiến và Các Hiệp Hội Về Đời Tông Đồ đã có chương trình về các sáng kiến để làm cho các thành viên thuộc về các kinh nghiệm của đời sống thánh hiến và huynh đệ của các Giáo Hội khác nhau. Cha cổ võ cách nồng nhiệt những cuộc gặp gỡ này để làm tăng lên sự biết nhau, sự trân trọng nhau, sự hợp tác lẫn nhau, theo cách thế mà việc đại kết của đời sống thánh hiến trở nên sự trợ giúp cho hành trình lớn hơn hướng về sự hiệp nhất giữa tất cả các Giáo Hội.



4. Rồi chúng ta không thể quên đi rằng hiện tượng của Đan viện và các hình thức biểu lộ khác của huynh đoàn tu sĩ hiện diện trong mọi tôn giáo. Không thiếu các kinh nghiệm, cũng được làm cho vững vàng, về việc đối thoại giữa lên đan viện giữa Giáo Hội Công Giáo và một số các truyền thống tôn giáo lớn. Cha cầu mong rằng Năm về Đời Sống Thánh Hiến là dịp để thẩm định hành trình đã đi qua, để làm cho nhạy cảm các người thánh hiến trong phạm vi này, để tự hỏi chính chúng ta xem đâu là các bước sẽ tới phải thực hiện hướng về một sự nhận biết lẫn nhau luôn luôn thêm sâu xa và một sự hợp tác trong biết bao nhiêu phạm vi của việc phục vụ cho đời sống của con người.



Cùng nhau bước đi là điều luôn làm cho phong phú và có thể mở ra các nẻo đường mới cho các mối liên hệ giữa các dân tộc và các nền văn hóa mà trong giai đoạn này xem ra đang bị đụng tới các khó khăn.



5. Sau cùng Cha ngỏ lời các đặc biệt với các Người Anh Em của Cha trong hàng Giám Mục. Chớ gì Năm này là một dịp cho việc tiếp đón một cách chân tình và vui tươi Đời Sống Thánh Hiến như là một vốn thiêng liêng đóng góp vào lợi ích chung của toàn thể Thân Thể Đức Kitô (xem Hiến Chế tín lý Ánh sáng muôn dân, 43) và không chỉ các gia đình tu sĩ. "Đời sống thánh hiến là ơn ban cho Giáo Hội, sinh ra trong Giáo Hội, lớn lên trong Giáo Hội, tất cả hướng về Giáo Hội" [8]. Vì thế, như là ơn ban cho Giáo Hội, đó không phải là một thực thể biệt lập hoặc ở ngoài rìa, nhưng một cách thân thiết thuộc về Giáo Hội, ở ngay giữa chính con tim của Giáo Hội như là yếu tố quyết định của sứ mệnh của Giáo Hội, như là diễn tả bản tính thân mật của ơn gọi Kitô và việc Giáo Hội là Hiền Thê hướng về Lang Quân duy nhất; vì thế "thuộc về . . . một cách không thể rời bỏ đi vào đời sống của Giáo Hội và sự thánh thiện của Giáo Hội" (xem nt. 44).



Trong bối cảnh đó Cha mời gọi Anh Em, các Mục Tử của các Giáo Hội địa phương, có một sự lo lắng ân cần đặc biệt trong việc cổ võ trong các cộng đoàn của Anh Em các đặc sủng riêng biệt, hoặc là các đặc sủng đã có trong lịch sử, hoặc các đặc sủng mới, nâng đỡ, linh hoạt hóa, trợ giúp trong việc phân định, làm cho Anh Em gần gũi với lòng hiền dịu và tình yêu thương cho các hoàn cảnh đau khổ và yếu đuối trong đó có thể có một số các người thánh hiến, và nhất là soi sáng với việc giáo huấn của Anh em Dân Thiên Chúa về giá trị của Đời sống thánh hiến, làm như thế để làm cho sáng ngời ra vẻ đẹp và sự thánh thiện của Giáo Hội.



Cha trao phó nơi Đức Maria, Trinh Nữ của việc lắng nghe và chiêm ngắm, môn đệ đầu tiên của Người Con yêu quý của Mẹ, Năm Của Đời Sống Thánh Hiến này. Mẹ, người con yêu quý hơn của Chúa Cha và mặc lấy mọi ơn điển, chúng ta nhìn vào Mẹ, như là mẫu gương không ai vượt qua được của việc đi theo trong tình yêu của Thiên Chúa và trong việc phục vụ người thân cận.

Giờ đâyvới tất cả các Con Cha tạ ơn vì các ơn và vì ánh sáng mà Chúa muốn làm phong phú chúng ta, tất cả các Con, Cha đồng hành với Phép Lành Tông Tòa.

Từ Điện Vatican, ngày 21 tháng 11 năm 2014, Lễ Dâng Mình của Đức Trinh Nữ Maria.



Phanxicô



_________________

[1] Tông Thư Los caminos del Evangelio, cho các Tu Sĩ Nam Nữ Châu Mỹ Latin dịp kỷ niệm 500 Năm rao giảng Tin Mừng của Tân Lục Địa, ngày 29-6-, 26.

[2] Thánh Bộ Các Tu Sĩ Và Các Hiệp Hội Tu Đời, Các Tu Sĩ và việc thăng tiến con người, ngày 12-8-1980, 24: trong Báo L’Osservatore Romano, Suppl. 12-11-1980,tr. I-VIII.

[3] Bài Diễn Văn cho các Viện Trưởng và các Sinh Viên các Học Viện Giáo Hoàng, và Các Nhà và Cơ Sở ở Roma, ngày 12-5-2014.

[4] Bài Giảng Lễ Dâng Chúa Giêsu trong Đền Thờ, ngày 2 -2-2013

[5] Tông Thư, Ngàn năm thứ ba đang đến, ngày 6-1-2001, 43.

[6] Tông Huấn Niềm Vui của Tin Mừng, ngày 24-11-2013, 87.

[7] Gioan Phaolô II, Tông Huấn Hậu Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới, Đời sống thánh hiến, ngày 25-3-1996, 51.

[8] Đức Cha J. M. Bergoglio, Bài Phát biểu tại Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới về Đời Sống Thánh Hiến và sứ mạng của họ trong Giáo Hội về trên thế giới, Đại hội XVI ngày 13-10-1994.



___________________



(Dịch từ nguyên bản tiếng Ý do Phòng Báo Chí của Tòa Thánh phổ biến ngày 21-11-2014. Linh mục Phanxicô Borgia Trần Văn Khả, ngày 29-11-2014. Bản dịch để làm việc).


http://danvienphuocly.com

->Đọc thêm...

23.4.15

Tại Sao Các Nữ Tu Đội Lúp?


Tôi không biết rõ lịch sử của đời tu bên Phật giáo, cho nên không dám so sánh ý nghĩa giữa các nữ tu với các ni-cô. Tuy nhiên, dù không phải là một chuyên viên về y phục chúng ta thấy rằng ở Việt Nam không phải chỉ có các nữ tu hay là các ni cô mới đội khăn che đầu. Có rất nhiều miền tại Việt Nam, các phụ nữ luôn đội khăn trên đầu, nổi tiếng là lối chít khăn mỏ quạ. Tôi xin để cho các nhà khảo cứu nhân văn nghiên cứu nguồn gốc lai lịch của tục lệ đó.

Tại sao các nữ tu đội lúp? Các ni cô Phật giáo cũng bịt đầu như vậy. Cái lúp có ý nghĩa gì không?


Tôi không biết rõ lịch sử của đời tu bên Phật giáo, cho nên không dám so sánh ý nghĩa giữa các nữ tu với các ni-cô. Tuy nhiên, dù không phải là một chuyên viên về y phục chúng ta thấy rằng ở Việt Nam không phải chỉ có các nữ tu hay là các ni cô mới đội khăn che đầu. Có rất nhiều miền tại Việt Nam, các phụ nữ luôn đội khăn trên đầu, nổi tiếng là lối chít khăn mỏ quạ. Tôi xin để cho các nhà khảo cứu nhân văn nghiên cứu nguồn gốc lai lịch của tục lệ đó. Riêng tôi, hồi nhỏ sống ở Đàlạt, tôi thấy rất nhiều phụ nữ đội khăn trùm đầu. Lý do rất dễ hiểu: bởi vì Đàlạt là xứ lạnh cho nên các ông tìm cách che đầu bằng các thứ mũ len, còn các bà thì lấy khăn mà trùm. Nếu các bà đã có tóc dài mà còn phải đội khăn, thì các bà tóc ngắn hay không có tóc lại càng có lý để mà đội khăn hơn nữa. Đến đây, ta thấy có một sự khác biệt lớn giữa các ni cô và các nữ tu: đó là ở dưới cái khăn, một bên đã cạo tóc, còn một bên thì để tóc, ngắn dài tùy trường hợp.

Như vậy, các nữ tu đội lúp để che bộ tóc thôi hay sao?

Tôi không có ý nói như vậy! Đó mới chỉ là giáo đầu mà thôi, nhằm cho thấy rằng việc đội khăn lên đầu là một phong tục gặp thấy ở nhiều nơi trên thế giới. Vấn đề được đặt ra là tìm hiểu ý nghĩa, nguồn gốc và công dụng của nó. Như đã nói trên, tôi sẽ không bàn tới nguồn gốc các khăn đội đầu của các phụ nữ Việt Nam, tôi cũng sẽ không đi vào ý nghĩa của các khăn đội đầu của các ni cô, nhưng chỉ muốn trình bày nguồn gốc và ý nghĩa của các lúp của các nữ tu. Thoạt tiên, khi mở Tân ước chúng ta thấy một đoạn văn trong thư thứ nhất Côrintô, chương 11, thánh Phaolô muốn rằng khi cầu nguyện các phụ nữ phải đội khăn che đầu, nhưng mà người nam thì không che đầu. Thánh tông đồ cũng lại thêm rằng các phụ nữ mà không đội khăn thì như là trọc đầu vậy, và đó là một điều xấu hổ, bởi vì phụ nữ phải để tóc dài. Ngược lại, người nam thì không nên để tóc dài và cũng không đội khăn lên đầu. Thánh Phaolô đã đưa ra những lý do thần học để giải thích cho tục lệ này, như ta đọc thấy ở câu 7: “người nam không được che đầu, bởi vì là hình ảnh và vinh quang của Thiên Chúa; còn người nữ là vinh quang của người nam”. Các nhà chú giải Kinh thánh đã tranh luận rất nhiều về ý nghĩa của đoạn văn này. Không rõ là thánh Phaolô muốn biện minh cho một tục lệ địa phương về việc các phụ nữ đội khăn lên đầu; hay là ngài chỉ muốn bài trừ một thói tục hỗn độn ở Côrintô, nơi mang tiếng là phong tục suy đồi, không còn phân biệt phái tính nữa: các cậu thì để tóc dài, còn các cô thì cắt tóc ngắn. Theo một vài nhà chú giải gần đây, thánh Phaolô chủ trương rằng người nam cần tỏ ra nam tính qua việc cắt tóc ngắn, để đầu trần; còn người nữ thì hãy biểu lộ nữ tính, qua việc để tóc dài và trùm khăn đầu.

Phải chăng đây là nguồn gốc của việc các nữ tu đội lúp?

Có lẽ kết luận như vậy thì hơi vội vàng. Thánh Phaolô không có ý định bắt buộc hết mọi phụ nữ phải để tóc dài và trùm khăn. Ngài chỉ giới hạn vào kỷ luật trong các buổi hội cầu nguyện tại Côrintô mà thôi. Ở câu 16 của chương 11, thánh Phaolô chấp nhận rằng không phải là đâu đâu cũng có thói tục như vậy. Dù sao theo các nhà sử học, cần phải tìm nguồn gốc cái lúp của các nữ tu ở chỗ khác, tức là ở nghi lễ hôn nhân tại Rôma. Tại đây các cô dâu khi làm lễ cưới thì đội chiếc khăn lên đầu, Đến khi phụng vụ muốn tìm ra một biểu hiệu cho nghi thức cung hiến các trinh nữ, thì người ta quy chiếu vào nghi thức hôn nhân. Tại sao vậy? Lý do là vì các giáo phụ (tựa như thánh Ambrôxiô) đã ví các trinh nữ như là Hiền thê, bạn trăm năm với đức Kitô. Bởi đó, lễ cung hiến trinh nữ cũng được ví như là lễ kết hôn với đức Kitô, gắn bó với Ngài như là bạn trăm năm.

Nhưng mà ngày nay, khi cưới nhau, thì các cô dâu chú rể trao nhẫn cho nhau như biểu hiệu của lòng chung thủy chứ đâu có đội khăn trùm mặt gì nữa đâu?

Tại Âu châu, nhiều nơi vẫn còn giữ tục lệ là cô dâu đội khăn voile trong nghi thức hôn nhân. Nếu tôi không lầm thì tại một vài thành thị Việt Nam, người ta cũng du nhập tục lệ đó. Cô dâu mặc y phục trắng, với tấm khăn voile không những trùm đầu mà trùm cả thân người và kéo dài thành cái đuôi nữa. Nhưng chỉ có trong lễ cưới thôi, chứ sau đó thì cô ta chẳng bao giờ trùm voile nữa. Còn các nữ tu thì khác, họ đội cái lúp suốt đời. Dù sao thì đó mới chỉ là vắn tắt để cho chị có một cái khái niệm về nguồn gốc và ý nghĩa của tục lệ các nữ tu đội lúp. Chúng ta cần phải đi sâu vào vấn đề hơn tí nữa.

Tôi không rõ là chữ “lúp” bởi đâu mà có. Không hiểu nó có họ hàng gì với tiếng “lấp” hay không? Xin để dành việc tầm nguyên cho các nhà ngữ học. Trong tiếng Pháp, người ta gọi nó là “voile”. Và ở Việt Nam, chúng ta thấy rằng cái voile không chỉ hiểu về cái lúp của các nữ tu mà còn hiểu cho cả thứ hàng vải thưa. Tại sao lại có chuyện đó? Chúng ta phải trở về với nguồn gốc lịch sử của nó. Voile trong tiếng Pháp dịch từ velum của tiếng La-tinh. Danh từ “velum” gốc bởi động từ “velare” có nghĩa là che đậy. Có lẽ là chị sẽ liên tưởng ngay tới tấm khăn che đầu, nhưng không phải như vậy. Các cô vẫn được tiếng là thuộc phái đẹp. Người ta đã chẳng ví các thiếu nữ như là bông hoa biết nói đó là gì? Ấy nhưng mà bông hoa đẹp thì phải cho vào chậu kiểng thì mới giữ được lâu, chứ phơi ngoài trời thì chỉ được mấy tiếng đồng hồ là héo tàn! Xin lỗi, có lẽ tôi đang tán bậy. Nhưng mà ta thấy phong tục của nhiều nơi đã muốn rằng khi các cô đi ra đường thì không những phải che đầu cho khỏi nắng mà còn phải che mặt nữa, kẻo bị người khác hái mất cái đẹp của mình. Nói cách khác, vào thời xưa cái voile không phải chỉ trùm đầu mà còn trùm cả khuôn mặt nữa. Và thiếu nữ chỉ vén màn che mặt cho người nào đáng được chiêm ngắm sắc đẹp của mình.

Trong phong tục hôn nhân tại Rôma thời cổ, việc che và vén màn là cao điểm của lễ nghi. Cô dâu che mặt của mình, dĩ nhiên là không phải là trùm chăn bít kín đầu, nhưng là với vải thưa (mà ta gọi là vải voile), và chỉ có người chồng mới được vén khăn lên. Từ đó, người Rôma gọi việc hôn nhân là nubere, có nghĩa là che mặt. Tục lệ này cũng được du nhập vào nghi thức hôn nhân Kitô giáo, từ thế kỷ IV.

Tuy nhiên, một cuộc tranh luận đã nảy ra giữa các nhà nghiên cứu lịch sử phụng vụ, bắt nguồn từ chỗ nghi thức chúc lành cái voile của các trinh nữ và nghi thức chúc lành cái voile của các cô dâu đều xuất hiện vào thế kỷ IV. Thế thì ai mượn của ai? Phải chăng các trinh nữ muốn bắt chước các cô dâu, hay là các cô dâu cũng muốn cho cái voile của mình được chúc lành theo gương các trinh nữ? Cho đến nay, cuộc tranh luận vẫn chưa có ngã ngũ. Tuy nhiên, có điều cần lưu ý là tại một số Dòng nữ cận đại, vào ngày mặc áo dòng, các thỉnh sinh bận y phục sang trọng như các cô dâu, rồi sau đó, họ đã cởi bộ đồ cưới đó, để khóac vào chiếc áo dòng hèn mọn. Đó là một nghi thức nhằm nêu bật rằng giữa hôn nhân trần thế và hôn nhân thần bí, có những điểm tương đồng nhưng cũng không thiếu những điểm khác biệt. Vào thời cổ, điểm khác biệt đó được diễn tả một cách đơn giản hơn. Trong khi mà các thiếu nữ ngoài đời đội voile với hàng đắt tiền quý giá, thì các trinh nữ đội voile hàng rẻ tiền, và với màu đen, màu của tang chế, thường dành cho các bà góa.

Nhưng mà cũng có nhiều nữ tu đội lúp trắng đấy chứ?

Vào các thế kỷ đầu tiên, chưa có các nữ tu khấn dòng, mà chỉ có các trinh nữ tận hiến. Họ là những phu nữ tận hiến cho Thiên Chúa qua một lễ nghi do Đức Giám mục chủ sự, với nghi thức chính là lời nguyện thánh hiến, và chúc phúc cái voile. Kế đó, các trinh nữ trở về sống tại gia đình giống như các thiếu nữ khác. Đến khi xuất hiện các Dòng tu (với các đan viện hay tu viện), thì các nữ tu cũng mang cái lúp như là biểu hiệu của sự tận hiến. Và các nữ tu chỉ mang lúp từ khi dấn thân vĩnh viễn. Dần dần, các tập sinh cũng được đội lúp, nhưng mà để phân biệt với các người đã khấn trọn đời, thì các tập sinh đội lúp màu trắng. Đó là hai cái màu căn bản của các lúp: màu đen dành cho những ai đã khấn, và màu trắng dành cho các tập sinh. Dần dần, con số các Dòng tu tăng gia, và mỗi Dòng cố gắng trình bày căn cước của mình qua màu áo cũng như là qua màu lúp. Từ đó mà ta thấy hiện tượng trăm hoa đua nở.

Tóm lại, thời xưa, dấu hiệu của đời tận hiến là cái lúp chứ không phải là chiếc nhẫn hay sao?

Đúng như vậy. Nhưng mà cần phải thêm rằng nghi thức hôn nhân và nghi thức cung hiến không phải chỉ bao gồm việc trùm mặt hay vén voile. mà còn có nhiều chi tiết khác nữa, chẳng hạn như việc đội triều thiên lên đầu.

Trong các nghi thức cung hiến trinh nữ, bên cạnh việc chúc lành tấm voile, từ thế kỷ XIII, người ta du nhập thêm tục lệ trao nhẫn, như là biểu hiệu của sự chung thủy. Ngày nay, chúng ta thấy nhiều nữ tu chỉ có đeo nhẫn, chứ không còn mặc tu phục, lại càng không có chuyện đội lúp. Tôi không dám phê phán thói tục đó, bởi vì phần nào trong xã hội ngày nay, cái lúp không còn ý nghĩa đối với phụ nữ như là thời xưa nữa. Tại Âu châu, có lẽ chỉ còn các nữ y tá trong các bệnh viện là còn duy trì cái lúp như là biểu hiệu của nghề nghiệp của mình. Tại Âu châu ngày nay, biểu hiệu của hôn nhân là chiếc nhẫn. Chỉ cần xem tay có đeo nhẫn hay không, đủ biết là người đó đã kết hôn hay chưa. Các nữ tu đã khấn dòng đeo nhẫn như dấu hiệu của việc kết hôn thiêng liêng với Chúa Kitô.

Vậy vấn đề đặt ra là: tại sao các nam tu sĩ, tuy đã khấn dòng lại không đeo nhẫn? Xin thưa rằng có lẽ tại vì đã có người khác lấy mất rồi. Đó là các giám mục. Trong nghi lễ tấn phong các giám mục lãnh nhận chiếc nhẫn, biểu hiệu cho lòng tận tụy với Hội thánh, hiền thê của đức Kitô. Tuy nhiên, ý nghĩa của từ ngữ “Hội thánh” ngày nay không còn như xưa nữa. Thời nay, người ta hiểu Hội thánh theo nghĩa là Hội thánh toàn cầu. Thời xưa, người ta hiểu Hội thánh như là một giáo đoàn địa phương. Giám mục được đặt lên để phụ trách giáo đoàn đó, và phải gắng mà chung thủy cho đến chết. Bởi thế, thời xưa không có chuyện thuyên chuyển từ giáo phận này sang giáo phận khác; bởi vì làm như vậy là ngoại tình, thiếu chung thủy. Nhưng mà tôi xin gác chuyện của các Giám mục vào dịp khác. Chỉ cần ghi nhận rằng các đôi hôn nhân hay các giám mục thì mang nhẫn vàng, chạm trổ ngọc quý, còn các nữ tu chỉ mang nhẫn bằng kẽm, bằng thiếc gì đó. Nó là biểu hiệu của cuộc hôn nhân với Chúa Kitô khó nghèo, chết trần trụi trên thập giá.

Lm. Giuse Phan Tấn Thành, OP.
http://baoconggiao.com

->Đọc thêm...

19.4.15

Giáo Hội Và Việc Tiêu Hôn Tại Hoa Kỳ


Tiêu hôn là việc Giáo Hội xác định khế ước hôn nhân bất thành vì thiếu điều kiện đòi buộc giữa đôi bên, theo lời yêu cầu của một trong đôi vợ chồng và sau khi đã điều tra, suy xét. Tiêu hôn là đề tài bàn cãi sôi nổi giữa Giám Mục Mỹ, giới chức Tòa Thánh và Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II. Ðức Hồng Y Achille Silvestrini, chánh thẩm tối cao pháp viện Vatican, cho rằng con số khổng lồ của những vụ tiêu hôn tại Mỹ là điều đáng ngạc nhiên và ẩn chứa một khó khăn trầm trọng. Ðức Hồng Y Achille nêu lên con số thống kê của Tòa Thánh, trong số 45,632 vụ tiêu hôn trên thế giới trong năm 1985 nước Mỹ chiếm 36,000 vụ tức 80%. Ngài thắc mắc phải chăng khái niệm cao xa về sự trưởng thành tâm lý, thay vì trưởng thành theo Giáo Luật, đưa đến kết luận Bí Tích Hôn Phối thành tựu là việc ít xảy ra? Theo Giáo Luật, điều kiện tối thiểu cần thiết cho Bí Tích Hôn Phối là chủ ý và ước muốn.

Tháng Giêng năm 1990, Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã kêu gọi sự dè dặt hơn trong vấn đề tiêu hôn tại Mỹ. Trong diễn văn tại Tòa Án Hôn Phối Vatican, Ngài đã nói những khó khăn trong đời hôn nhân là căn bệnh cần được chữa trị bằng mục vụ hơn là bằng một lời phủ nhận cuộc hôn phối chân thật. Mối giây hôn phối có thể thành tựu cho dù có nhiều khó khăn, nếu tuyên bố cuộc hôn nhân này bất thành khó có thể tránh tổn thương chân lý và một cách nào đó phá hoại nền tảng vững chắc của đời sống cá nhân, hôn nhân, và xã hội.

Dầu vậy các Giám Mục Mỹ vẫn đương nhiên bênh vực cho tòa án hôn phối Hoa Kỳ. Tại Roma trong cuộc họp năm 1989, Ðức Hồng Y Edmund C. Szoka của tổng giáo phận Detroit, và Ðức Hồng Y Roger M. Mahony của Tổng Giáo Phận Los Angeles đã biện hộ cho lập trường tiêu hôn tại Mỹ, mặc dù hai vị có đường lối bảo thủ. Các ngài mời giới chức Vatican sang Mỹ tranh tra và sẽ thấy rằng tòa án hôn phối Hoa Kỳ làm việc rất hữu hiệu.

Ðức Hồng Y Mahony cho rằng thống kê của Tòa Thánh không hoàn toàn diễn tả sự thật. Tổng Giáo Phận Los Angeles với 5 triệu giáo dân, mỗi năm tòa án hôn phối ban phép 1,000 vụ tiêu hôn trong khi 13,000 thỉnh nguyện không được cứu xét.

Cha Edward Pfnausch, chủ tịch ban chấp hành hội Giáo Luật Hoa Kỳ đưa ra hai điểm cá biệt tại Mỹ:

- Thứ nhất là con số khủng khiếp của nạn ly dị, 1 triệu 8 trong năm 1988.

- Ðiều thứ hai quan trọng hơn là hiện tượng hợp hôn khác tôn giáo xảy ra quá nhiều. Hơn nửa tổng số những vụ tiêu hôn liên quan đến người không Công Giáo, không có một chút khái niệm nào về sự bền vững tuyệt đối của Bí Tích Hôn Phối. Theo thống kê của Tòa Thánh trong năm 1989, 30% tổng số vụ tiêu hôn tại Hoa Kỳ dính líu đến những cặp vợ chồng hoàn toàn ngoài Công Giáo. Có nhiều đôi vợ chồng theo Do Thái Giáo rồi ly dị và sau đó một người muốn kết hôn với người Công Giáo. Giáo Hội phải xác nhận cuộc hôn nhân kia bất thành trước khi người Công Giáo thành hôn với người đã ly dị. Do đó, con số tiêu hôn cho những đôi vợ chồng hoàn toàn Công Giáo ở Mỹ không cao hơn các quốc gia khác.

Còn một nguyên nhân khác làm tăng số vụ tiêu hôn tại Mỹ là việc áp dụng bộ luật hôn phối mới năm 1970. Bộ luật này bãi bỏ thủ tục tự động kháng tố sang Tòa Thánh, do đó giảm thiểu trường hợp Tòa Thánh từ chối phép tiêu hôn.

Cho dù nguyên nhân gì đi nữa, con số vụ tiêu hôn gia tăng vùn vụt từ năm 1968 là sự kiện hiển nhiên. Năm 1968 chỉ có 338 vụ tiêu hôn. Hai mươi năm sau, con số lên tới 38,000. Nhiều nhà Giáo Luật giải thích rằng đây chỉ là phản ảnh của lối sống hiện đại, lối sống cuồng vội, với những cuộc hôn nhân vội vã thiếu chuẩn bị, với căn bệnh truyền nhiễm buông thả tính dục, với nạn ly dị lan tràn. Căn gốc của các quan niệm hiện đại về tiêu hôn nằm sâu trong Giáo Luật và Giáo Lý Hôn Nhân theo truyền thống của Giáo Hội.

Theo ý luật sư Joseph P. Zwack, một chuyên gia về tòa án hôn phối, chính Thiên Chúa thiết lập Bí Tích Hôn Phối và buộc trung thành trọn đời. Nhưng người trần gian cho rằng việc hôn nhân dễ lập và cũng dễ bỏ. Trong thời gian gần đây Tòa Thánh chủ trương rằng Bí Tích Hôn Phối mang dấu ấn vĩnh viễn nhưng Bí Tích không thành sự trong nhiều cuộc hôn nhân.

Giáo Hội xác quyết rằng hôn nhân là một Bí Tích Thiên Chúa thiết lập, một dấu bề ngoài tượng trưng cho ơn thánh bên trong. Công Giáo là tôn giáo duy nhất trên thế giới không chấp nhận ly dị theo giáo huấn Chúa Kitô "điều gì Thiên Chúa đã kết hợp loài người không được phân ly". Nhưng theo các nhà Giáo Luật, dù đôi bạn thành hôn theo nghi thức phụng vụ không nhất thiết là Bí Tích Hôn Phối thành tựu. Bí Tích Hôn Phối chỉ hiện thực khi đôi bên có chủ ý ngay thật và trọn vẹn khả năng để sống đời hôn nhân thủy chung vững bền và sinh sản con cái.

Có nhiều căn bản khác nhau cho việc tiêu hôn, ba điều thông dụng nhất là:

-Thiếu hiểu biết trách nhiệm và khả năng chu toàn đời sống hôn nhân (Canon 1095). Ðiều này dựa trên căn bản tâm lý phát xuất từ Giáo Luật cũ về sự tự tình trong cuộc hôn nhân.

- Không thật lòng ưng thuận những đòi buộc của khế ước hôn phối (Canon 1101), có nghĩa là một trong hai người không có ý sống thủy chung trọn đời với nhau, hoặc không muốn tiếp nhận con cái.

- Bị cưỡng ép và vì sợ sệt. Ðó là những cuộc "ép duyên" hoặc "vợ bố lấy cho", những cuộc thành hôn vì việc làm ăn, thương mại, chính trị. Ngày nay những trường hợp thực tế hơn là việc mang thai ngoại hôn, đương sự sợ phản ứng của cha mẹ, của xã hội nên phải thành hôn.

Lý do tâm lý trong khoản luật 1095 là lý do thông dụng nhất trong các vụ tiêu hôn, trong đó phản ảnh mối quan tâm đến chủ ý ngay thật và khả năng chu toàn đời sống hôn nhân là hai điều kiện căn bản lập thành giáo lý Bí Tích Hôn Phối, giao ước thánh thiện trong lễ cưới.

Các nhà Giáo Luật Mỹ khẳng định rằng khả năng chu toàn trách nhiệm hôn nhân không được lưu tâm đúng mức trong quá khứ. Mặt khác, có người cho rằng tòa án hôn phối hiện nay quá chú trọng về mặt tâm lý. Ít người có thể chu toàn những đòi hỏi quá lý tưởng của sự trưởng thành tâm lý mà tòa án cho là tuyệt đối cần thiết để lập thành Bí Tích Hôn Phối. Những trường hợp đáng lo ngại như trường hợp của đôi vợ chồng lấy nhau hơn 20 năm còn được phép tiêu hôn. Năm 1986, tòa án ban phép tiêu hôn cho đôi vợ chồng, một Công Giáo một Tin Lành, sau 38 năm chung sống. Lý do là cả hai bên đều thiếu chủ ý ngay thật và ước muốn vì chưa trưởng thành đủ. Người vợ Tin Lành kháng tố sang Tòa Thánh vì tin rằng cuộc hôn nhân thành sự. Tòa Án Vatican bãi bỏ phán quyết tòa án Hoa Kỳ.

Cha James Burtchaell thật sự lo ngại khi thấy tòa án ban phép tiêu hôn cho những người cao niên lấy nhau từ thời xa xưa, con cháu đầy đàn. Thật là oái oăm khi món quà lễ bạc kỷ niệm ngày thành hôn là lời phán quyết của Giáo Hội cuộc hôn nhân không hề thành tựu. Ðiều này khiến nhiều người suy nghĩ kỹ hơn trước khi thành hôn và cũng khiến nhiều người cặp tay nhau lên bàn thánh lòng mở cờ hân hoan vì "lấy chồng như gông đeo cổ, cưới vợ như mang nợ vào thân" bây giờ đã có lối thoát.

Theo lời Cha James, khi làm việc trong tòa án hôn phối, ngài cảm thương nhiều đôi bạn và nhận thực họ đáng được phép tiêu hôn mà không được. Do đó, ngài ước mong có một cuộc cải cách lớn lao. Các linh mục và các vị hướng dẫn giáo lý hôn nhân phải chịu trách nhiệm cho những đôi bạn thành hôn chưa đủ chín chắn. Thủ tục tiêu hôn cần được đem ra ánh sáng công cộng, nhờ đó mọi người có thể xem xét các quyết định, phán quyết, lời chứng. Theo ý Cha James, thông thường quyết định của tòa án bị che dấu trong bí mật, ngay cả một trong đôi bạn cũng không được xem tài liệu liên quan đến mình. Cha James cũng phê bình là nhân chứng hoàn toàn do bên thỉnh nguyện cung cấp. Những người chứng quan trọng như cha mẹ, người chứng hôn, linh mục chủ hôn phải là những người chứng chuyên môn trong cuộc điều tra.

Cho dù với những phê bình trên, không thể chối cãi được rằng tòa án hôn phối là cơ quan cần thiết và quan trọng trong Giáo Hội. Quan trọng hơn hết là khía cạnh mục vụ, việc ly dị gây thương tích và xúc động lớn cho đương sự và họ thường mang mặc cảm bị loại trừ khỏi Giáo Hội như quan niệm xưa. Vì thế, các giới chức trong tòa án hôn phối đồng ý không nên ngăn cản việc tiêu hôn. Ða số các giáo hữu chịu tốn hơi sức thời giờ thỉnh nguyện tiêu hôn tỏ ra họ còn lòng đạo, còn muốn liên kết với Thiên Chúa, với Giáo Hội. Chỉ một số ít lạm dụng việc tiêu hôn với những mưu đồ khác.

Nhiều người lo ngại việc tiêu hôn trở nên quá phổ thông làm mất Ðức Tin nơi Bí Tích Hôn Phối. Nhưng thực tại trong xã hội còn đáng sợ hơn nhiều. Con số những gia đình bị băng hoại đầu độc bởi vấn đề tính dục, bạo động, nghiện ngập, rượu chè vượt sức tưởng tượng của nhiều người.

Nguyên tắc nòng cốt của việc tiêu hôn, theo quan niệm hiện nay, là người ta làm lễ cưới nhưng không đủ khả năng chu toàn trách nhiệm của khế ước hôn nhân theo tiêu chuẩn của Giáo Hội, là cuộc giao kết trong yêu thương một cách vững bền chung thủy, và tiếp nhận con cái. Ðiều này khiến ngày nay con số thỉnh nguyện tiêu hôn lên cao. Có những trường hợp mối tương quan trong đời hôn nhân quá lộn xộn và què quặt, bị băng hoại vì đau khổ và tội lỗi, vì thế có nhiều căn cớ để ban phép tiêu hôn. Giới hữu trách thường chọn những căn cớ hiển nhiên có bằng chứng đầu đủ để phán quyết.

Xin phép tiêu hôn đòi thời gian và phải qua nhiều thủ tục khó khăn, dầu vậy đa số những người thỉnh nguyện đều thoải mái cho dù được phép hay không. Theo lời những người từng trải, xin phép tiêu hôn bớt cay cực khổ sở hơn xin ly dị tại tòa đời. Người ta không bị các luật sư chất vấn nhiều lần với cùng câu hỏi, không phải đối đầu tranh cãi với phía bên kia. Cả hai bên đều không gặp mặt vị thẩm phán. Người thỉnh nguyện phải đóng một phí khoản để đài thọ các phí tổn văn phòng. Thời gian chờ đợi có thể từ sáu tháng tới hai năm. Ngoài ra, phép tiêu hôn không ảnh hưởng gì đến con cái trên pháp lý. Theo Giáo Luật, hai người vẫn buộc phải chu toàn trách nhiệm với con cái như bậc cha mẹ khác.

Sau đây là thứ tự các giai đoạn trong thủ tục tiêu hôn:

1. Phép ly dị tại tòa đời

Trước khi tiêu hôn đương sự phải có phép ly dị tại tòa đời, và phải chắc chắn, chứng minh được rằng không còn chút hy vọng tái lập cuộc sống hôn nhân. Giáo Hội không chấp nhận quyền hành tòa đời trong Bí Tích Hôn Phối, nhưng đòi buộc khế ước đời bị hủy bỏ trước khi xét đến việc tiêu hôn.

2. Thẩm vấn sơ khởi

Ðương sư phải trình bày với một linh mục để xác định địa phương xin tiêu hôn. Giáo luật năm 1983 chỉ định rõ các tòa hôn phối địa phương người thỉnh nguyện được phép xin để tránh nạn "người khôn tìm chỗ dễ mà nhờ", là một tệ trạng rất thịnh hành trước đây. Theo bộ luật mới, người thỉnh nguyện phải nộp đơn tại địa phương của người bạn phối ngẫu. Có thể nộp đơn ở nơi khác nhưng phải có lý do chính đáng như không thể tìm được người phối ngẫu cũ ở đâu. Hay có thể vì những người chứng sống ở nhiều nơi xa nhau.

3. Thẩm vấn chính thức

Ðương sự phải gặp cha xứ hoặc vị trạng sư để được chính thức thẩm vấn. Vị trạng sư là một nhà Giáo Luật được chỉ định để trình bày thay đương sự trước tòa án hôn phối. Ðôi khi chính cuộc thẩm vấn sơ khởi trở thành cuộc thẩm vấn chính thức.

4. Ðiền đơn

Tiêu hôn là một thủ tục hành chánh nên đòi nhiều dữ kiện, giấy tờ. Giáo Hội đòi buộc tài liệu ghi nhận đầy đủ các tương quan đưa đến cuộc hôn nhân, do đó các đơn từ bao gồm rất nhiều chi tiết cá nhân. Các nhà Giáo Luật khẳng định rằng đó không phải để coi lỗi về ai nhưng để xác định hôn phối có thành sự không. Các chi tiết thường xoay quanh những liên lạc, qua lại trước và sau lễ cưới, những tệ trạng nghiện ngập, rượu chè, mối tương quan với thân nhân, cách xử thế với con cái, sự thủy chung bậc hôn nhân, việc giao hợp vợ chồng. Ngoài ra, đương sự phải xuất trình chứng thư rửa tội, thêm sức, hôn thú đạo và đời, phép ly dị đời. Ðương sự cũng cần cung cấp tên và địa chỉ những người chứng. Nhân chứng thường chỉ trả lời những câu hỏi qua giấy tờ về những vấn đề liên quan đến căn bản để tiêu hôn. Ðương sự phải tự liên lạc với nhân chứng để xin họ làm chứng.

5. Xác định căn cớ

Vị trạng sư sẽ cố vấn cho đương sự để xin tiêu hôn dựa trên căn cớ nào. Ðiều này thường được thực hiện trước hoặc trong khi điền các giấy tờ. Những căn cớ thông thường là:

- Thiếu ý thức và chủ ý ngay thật trong khế ước hôn nhân.

- Thiếu khả năng chu toàn trách nhiệm đời hôn nhân.

- Không nhất tâm thuận ý trong giao ước hôn nhân.

- Bị cưỡng ép thành hôn.

- Bất lực, không thể sinh sản con cái, vô cảm trong việc vợ chồng.

- Một trong hai người giữ kín bí mật về bản thân có thể làm cản trở đời sống gia đình như có án tù, nghiện ngập để khỏi ngăn trở hôn sự.

6. Chỉ định phiên tòa

Tòa án hôn phối sẽ báo cho đương sự biết đã chỉ định một phiên tòa cứu xét thỉnh nguyện tiêu hôn, vị trạng sư sẽ đại diện đương sự trước phiên tòa. Ðương sự có thể cần ký giấy ủy quyền cho vị trạng sư.

7. Cuộc dự thính sơ khởi

Ở đây tòa chỉ xét xem thỉnh nguyện này có đúng quyền hạn địa phương không và ước lượng có đủ dữ kiện để tiếp tục tiến hành hay không. Nhiều thỉnh nguyện bị ngưng ở đây vì thiếu dữ kiện.

8. Thâu thập dữ kiện

Trước hết tòa phải liên lạc với người phối ngẫu bên kia. Nhiều người không hề hồi âm bao giờ. Tòa cũng liên lạc, bằng thư từ hoặc đối diện, với các nhân chứng đương sự đưa ra với sự đồng ý của đôi bên. Ðôi khi tòa cũng cần phỏng vấn một nhà tâm lý quen biết hai người.

9. Phiên xử

Rất ít khi đương sự hoặc người chứng phải có mặt trong phiên xử. Trong đó có ba vị thẩm phán đứng xét xử. Vị trạng sư trình bày vụ kiện đồng thời kiểm soát để Giáo Luật được thi hành nghiêm chỉnh. Người phối ngẫu bên kia không có trạng sư trừ khi thỉnh nguyện. Ngoài ra còn có một viên chức gọi là bảo hệ, với nhiệm vụ kiểm soát để khoản luật "bất khả phân ly" của hôn phối không bị vi phạm cách nào, đồng thời cũng kiểm soát luật lệ về các dữ kiện, bằng chứng.

10. Phán quyết

Phán quyết của tòa hôn phối sẽ tới tay đương sự qua văn thư.

11. Tự động tái duyệt

Bộ Giáo Luật mới bắt buộc phán quyết của tòa hôn phối địa phương được duyệt lại ở tòa cao hơn. Thông thường tòa cao cấp không đối lập phán quyết tòa dưới nhưng chỉ tái xác nhận hoặc cho xét xử lại. Nếu có sự bất đồng giữa hai tòa án, vụ kiện tự động được chuyển sang Rôma xét xử.

12. Kháng tố

Ðôi khi thỉnh nguyện bị bác bỏ, đương sự có thể kháng tố lên tòa cao cấp. Trong thực tế rất ít khi xẩy ra như vậy vì những người không đủ dữ kiện thường biết trước sẽ bị bác bỏ. Nếu muốn kháng tố, đương sự tự tìm liên lạc với tòa cao cấp và nộp đơn kháng tố liền sau đó.

13. Cơ hội cuối

Nếu đương sự không hài lòng với phán quyết của tòa cao cấp, thỉnh nguyện sẽ được chuyển sang Vatican, những trường hợp này rất hiếm, mỗi năm chỉ một vài vụ. Tòa hôn phối tối cao tại Vatican sẽ cứu xét những thỉnh nguyện này. Theo ý các chuyên gia Giáo Luật, những thỉnh nguyện bị bác bỏ tại hai tòa dưới thường không chút hy vọng nào được chấp thuận ở Vatican. Thông thường những vụ kháng tố sang Rôma vì cho rằng phép tiêu hôn không chính đáng vì hôn nhân đã thành sự.

Tiêu hôn là một thủ tục pháp lý, đồng thời cũng là một biến cố để đôi bạn ý thức trách nhiệm bản thân. Cả hai bên cũng như các nhân chứng phải nghiêm chỉnh xét lại ý nghĩa mối tương quan trong đời hôn nhân, mục đích cuộc hôn nhân, những trách nhiệm chu toàn hoặc thiếu sót, hôn nhân là một bí tích như thế nào, và thành thực tìm kiếm sự thật trong đáy lòng. Ðây có thể là một sự thật đau lòng, nhưng, theo lời Chúa Kitô, là chân lý mang lại ơn giải thoát.



(Trích Bài Giáo Lý của Thanh Lâm

trên Nguyệt San Trái Tim Ðức Mẹ Số Tháng 7 năm 1992)
http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/tieuhon

->Đọc thêm...