CLICK HERE FOR THOUSANDS OF FREE BLOGGER TEMPLATES »
“Hỡi anh em, ta hãy trung tín cùng Đức Chúa Trời cho đến chết ; cho đến chết, không một điều gì có thể dập tắt lòng thương mến Chúa Giêsu Kitô trong trái tim ta" (Những lời sau cùng của Chân Phước Anrê Phú Yên)

31.8.14

Vai Trò Tu Sĩ Trong Xã Hội Hôm Nay


1. Đời Sống Thánh Hiến trong Mầu nhiệm Giáo Hội và trong xã hội

* Dấn thân trọn vẹn vào Nước Trời

Giáo Hội như một chiếc xe đang hướng đi về Nước Trời. Đường còn xa, mưa gió và bão tố vẫn không ngừng quăng quật; con đường thì gập ghềnh sỏi đá; xung quanh đầy những thế lực trần gian đe dọa. Đó là một cuộc hành trình hiểm nguy, bấp bênh đến độ những người bình thường, với sự khôn ngoan của một đầu óc thế gian, sẽ chẳng dại gì lao vào cuộc.

Giáo dân là những người có trách nhiệm chất hàng lên xe (lòng tận tụy ấy chỉ có thể có được khi nhận ra trên xe “còn có người”, nghĩa là là nhận ra chứng tá của tu sĩ); giáo sĩ là những người có nhiệm vụ lôi kéo vào điều khiển chiếc xe (cũng thế, người giáo sĩ mà không thấy có người trên xe thì cũng khó lòng dồn sức mạnh của mình để kéo một cỗ xe không); còn tu sĩ là những người leo hẳn lên xe, dấn thân trọn vẹn vào “cỗ xe gian nguy của Nước Trời”, dám đánh đổi cuộc đời mình vào mầu nhiệm Nước Trời. Trên cỗ xe ấy, người tu sĩ chăm sóc cho mọi thành phần, vẫn có khả năng vui đùa đầy lạc quan; vẫn có khả năng thể hiện tình nghĩa, an ủi và làm vơi đi những nhọc nhằn trên hành trình về Nước Trời. . . .

* Đấu tranh cho Nước Trời trong đời sống xã hội

Cuộc sống xã hội Việt Nam hôm nay đầy những vấn đề : kinh tế suy thoái, quốc nạn tham nhũng, khoảng cách giầu nghèo quá cách biệt, bất công và những khiếu kiện đất đai lan rộng khắp nơi, vấn đề ô nhiễm môi trường và vấn đề an toàn thực phẩm đã đến lúc báo động đỏ… tình trạng giáo dục tụt hậu quá xa so với thế giới, đạo đức xã hội xuống cấp trầm trọng, phẩm giá con người bi coi thường, nhân cách con người bị phá sản, gian dối trong mọi lãnh vực, giới trẻ mất định hướng …

Nếu ví cuộc sống xã hội như hai đứa trẻ chơi game trên vi tính, thì tình hình sẽ là : trong khi người ta giành nhau để đạt được những điểm cao trên màn hình, thì người tu sĩ lại giống như những đứa trẻ vui chơi không phải vì số điểm, mà là vì niềm vui cùng chơi với nhau. Cách nhìn của người tu sĩ giống như, trong đời sống gia đình, khi tổng kết cuối năm, người ta không đánh giá thành quả của năm qua bằng những thành công cụ thể (xây nhà, thi đậu, trúng mánh…), nhưng nhận ra niềm vui được sống thêm một năm và “dầy thêm nghĩa tình” trong đời sống gia đình.

Cuộc đấu tranh chống thế lực của “trần gian” không phải chỉ là phá đổ cái xấu, nhưng sâu xa hơn, là gieo mầm cái tốt. Có thể nói, cuộc đấu tranh của tu sĩ giống như cuộc “thi tuyển” nhiều hơn là cuộc chiến tranh. Người tu sĩ trong xã hội có thể bị coi như một kẻ “thả mồi bắt bóng”, hơi giống như một “gã khờ” trong cuộc sống hôm nay, hơi giống như “thằng bờm” đối với phú ông…

Người tu sĩ sống trong xã hội trần thế có đầy những quy luật cạnh tranh khốc liệt của trần thế, nhưng không rơi vào qui luật “giang hồ” của cuộc đấu tranh, mà lại tha thiết “đi tìm kiếm Nước Thiên Chúa trước”.

2. Nhìn về cuộc sống từ quan điểm Nước Trời

* Nước Trời khác với thế gian trong mức độ phẩm chất

Ba mức độ quy luật của cuộc sống:

- Thế giới mạnh được yếu thua: thế giới của sinh vật là thế giới của sức mạnh, của răng nhọn và móng vuốt.

- Thế giới thuận mua vừa bán: con người ta muốn vươn tới một thế giới công bằng hơn, thể hiện một sự trao đổi sòng phẳng thuận mua vừa bán. Nhưng thật ra, thế giới dù có văn minh đến đâu cũng không thể vượt qua được tính chất “cá lớn nuốt cá bé” vẫn ngấm ngầm chia phối sâu xa.

- Thế giới tặng không và lãnh nhận với lòng tri ân: Nước Trời là thế giới của tình nghĩa, nơi đó con người được Thiên Chúa ban tặng một cách nhưng-không (Tám Mối Phúc). Người tu sĩ là người sống mầu nhiệm Nước Trời trong lòng thế giới, nghĩa là sống Tám Mối Phúc, nghĩa là sống trong sự lãnh nhận với lòng tri ân và trao tặng nhưng-không.

* Nước Trời khác với thế gian trong khía cạnh phương pháp

Trình thuật Cám Dỗ trong Tin Mừng cho chúng ta thấy rõ những khía cảnh của cám dỗ muốn sống theo kiểu thế gian, giải quyết cuộc đời theo kiểu thế gian :

- Cám dỗ của bánh mì: chinh phục người ta bằng lợi lộc

- Cám dỗ của sự lạ: chinh phục người ta bằng cách khống chế trí khôn

- Cám dỗ của quyền lực: chinh phục người khác bằng quyền lực thống trị.

+ Cái gì là cứu cánh thì cũng là nguyên lý và cái gì là nguyên lý thì cũng là cứu cánh. Nếu Nước Trời được xây dựng bằng nguyên lý lợi lộc vật chất, nguyên lý tri thức khôn ngoan hoặc nguyên lý quản trị thì sẽ không thể đạt đến cứu cánh là Nước Yêu Thương được.

3. Tu sĩ Việt Nam trong xã hội hôm nay

* Sống sung mãn nguyên lý của Nước Trời

- Sống sự công chính mới: không phải là sống theo luật như một đòi buộc bên ngoài, nhưng là tự nguyện đón nhận Thánh Ý Chúa (vượt trên luật). Khi đó, trọng tâm làm nên ý nghĩa cuộc đời người Kitô hữu không còn dựa vào bất cứ một luật lệ vô ngã nào, những là dựa vào mối tương quan ngôi vị. Đây quả thật là một cuộc phiêu lưu; cuộc phiêu lưu chỉ có thể có tình yêu và lòng tin tưởng như điểm tựa duy nhất. Mẫu gương cao đẹp nhất là cung cách của Mẹ Maria và thánh Giuse.

- Sống niềm tin trong tự do và tự nguyện : Chỉ khi tự do và tự nguyện, người ta mới có thể đi vào thế giới nghĩa tình. Trong thế giới ấy, nghĩa tình của ta với Chúa được thăng tiến dần dần theo “quy luật” đắp đổi, theo kiểu “bánh ít cho đi, bánh quy cho lại”.

- Sống tâm tình tri ân và dám dâng tặng chính bản thân : Khi không còn giản lược tương giao vào sự vật, người sống sự công chính mới sẽ nhận ra trong mọi tình tiết của đời sống đức Tin, một sự trao đổi bản thân cho nhau, một sự trao đổi chính tình nghĩa; và khi đó, người tu sĩ sẽ được thôi thúc sống lòng tri ân.

* Trở nên dấu chỉ Nước Trời

- Khám phá những hạt men Nước Trời đang ẩn khuất trong cuộc sống hôm nay, ngay trong gia đình, ngay trong cộng đoàn, ngay trong lớp học….

- Trân trọng và tin tưởng vào sức mạnh của men Nước Trời hơn tất cả những sức mạnh của thế gian. Hạt men Nước Trời trong cuộc sống thật bé bỏng, bé bỏng như hạt cải, nhưng người tu sĩ lại nhận ra tất được sức mạnh cứu độ của Hạt Men Nước Trời.

- Góp phần vun trồng, chăm bón, và nếu cần, phải dám hy sinh chính bản thân để làm chứng cho sự hiện diện của Nước Trời trong xã hội hôm nay.

Kết

- Hiên ngang với ngọn cờ của người tu sĩ: Hiến Chương Nước Trời - Tám Mối Phúc. Không phải người tu sĩ luôn luôn là những người sống trọn tám mối phúc, nhưng vẫn phải luôn luôn là những người giương cao ngọn cờ.

* Gợi ý thảo luận

1. Bạn có nhận ra được sự hiện diện của Nước Trời trong xã hội hôm nay không? Thử chia sẻ kinh nghiệm của bạn.

2. Bạn có xác tín sự chiến thắng của Nước Trời trong xã hội hôm nay trong mọi lựa chọn của mình?

3. Bạn có dám làm chứng cho Nước Trời đến độ dám lao cả bản thân mình vào cuộc?

Nguyễn Trọng Viễn, O.P.

(Nguồn: Đa Minh Việt Nam)

->Đọc thêm...

ĐIỀU CON NGƯỜI CẦN NHẤT


1. Đó là một buổi tối rất bình yên, cả nhà tôi đang cùng xem bộ phim truyền hình yêu thích thì chuông điện thoại reo. Mẹ nhấc máy. Chăm chú lắng nghe, nói “Vậy à, vậy à, ừ…”. Rồi đặt máy. Tôi thoáng thấy mẹ làm một việc rất lạ nữa – rút “giắc” cắm điện thoại. Rồi mẹ lại cùng bố con tôi xem phim. Đó là đêm cháy chợ Đồng Xuân. Bạn hàng hốt hoảng báo cho mẹ biết là lửa đã cháy đến sạp vải của nhà chúng tôi. Sau đó là những năm vay mượn, đầu tắt mặt tối, gây dựng lại từ đầu. Có lần tôi hỏi mẹ về tối hôm đó, mẹ trả lời êm ả: “Mẹ không muốn bố cuống lên rồi lao đến đó, nhỡ có làm sao…”. Cả cơ nghiệp lao đao, nhưng trong giây phút đó, mẹ chỉ nghĩ đến bố tôi.

2. Chị tôi dành dụm vốn liếng định mua một mảnh đất ở ngoại thành. Hẹn được với người ta mang tiền đến đặt cọc, chị vội vã gọi taxi. Dọc đường, chị bắt gặp một đoàn nam phụ lão ấu hớt hơ hớt hải bồng một cô bé bị trâu húc vẫy xe xin đi nhờ lên Hà Nội cấp cứu. Chị tôi lập tức bảo anh lái xe quay xe, đưa cô bé con, người mẹ, và cả chị thẳng về Hà Nội. Mẹ cô bé tê liệt vì sợ hãi, chỉ biết ôm con khóc ròng. Một mình chị lo toan cho cô bé vào phòng cấp cứu, nhập viện, thậm chí đóng luôn cả tiền viện phí khi biết người mẹ không có nổi 100 nghìn trong túi… Khi chắc chắn là cô bé an toàn, chị mới trở về nhà. Không bao giờ nhắc đến chuyến xe ấy tốn kém bao nhiêu, tiền viện phí thế nào, hay buồn vì mảnh đất ưng ý kia không kịp đặt cọc đã qua tay người khác. Và cứ đến Tết, nhà chị lại có thêm những người khách từ quê ra.

3. Cha tôi là một người thành đạt, cha rất yêu công việc, đi sớm về khuya, mất ăn mất ngủ. Còn mẹ tôi, trong mắt mọi người, là một phụ nữ thật bình thường với những lo toan giản dị. Nhưng có lần cha nói với tôi rằng dù cha rất yêu thích công việc, nhưng cha không cần nó, cũng như cha cũng chẳng cần lắm nhà cửa, tiền bạc. Tất cả những gì cha cần là mẹ, có mẹ là cha có tất cả, kể cả những thứ rất quý giá, như là… chúng tôi.
Đôi khi bạn phải ngạc nhiên về những người mà bạn yêu quý. Sự an nhiên nơi tâm hồn họ. Những quyết định đơn giản mà quyết liệt. Sự bình thản của họ trước những thứ tưởng chừng rất quan trọng, nhưng lại không thật sự quan trọng. Cái cách mà họ tha thiết với con người. Giản đơn, nhưng mãnh liệt.

Nhưng hiểu được họ, bạn sẽ hiểu được niềm vui của thuỷ thủ đoàn khi nhìn thấy đất liền, của khách lữ hành khi nhìn thấy làng mạc, của nhà du hành vũ trụ qua khung cửa tàu nhìn thấy Trái Đất, của Robinson khi có được Thứ Sáu, nụ cười âu yếm của bất kỳ ai khi thấy một em bé sơ sinh. Cả việc tại sao, con người cứ mải mê tìm kiếm những nền văn minh ngoài Trái Đất… Và nỗi đau đớn khôn nguôi trào ra thành nước mắt và tiếng thét khi con người vì thiên tai, vì chiến tranh, vì bệnh tật, mà phải mất nhau trong cõi nhân gian…

Liệu bạn có nhận thấy, điều mà con người cần nhất trên thế gian này không phải danh vọng, không phải tiền bạc, không phải nhà cửa, không phải đất đai…

Bạn có nhận ra không, điều mà Con Người cần nhất chính là Con Người…

Ngô Thị Phú Bình (gocsuyngam.com)

->Đọc thêm...

Năm Ngôn Ngữ Tình Yêu


Trong đề tài Năm Ngôn Ngữ Tình Yêu, tiến sĩ tâm lý Gary Chapman có khám phá ra được điều thú vị này: Mỗi người đều có những ước muốn và cách thể hiện tình yêu khác nhau.

Vậy nên, khi chúng ta hiểu được điều bí ẩn đó, và biết sử dụng đúng ngôn ngữ của tình yêu của mỗi người, thì bạn sẽ mở được trái tim của người bạn yêu thương và làm cho họ tràn ngập hạnh phúc.

Tình yêu của bạn sẽ ngày càng bền chặt khi cả hai đều cảm thấy mình được quan tâm và chia sẻ.

Và 5 cách biểu đạt tình yêu cơ bản đó là:

1. Lời Khẳng Định (Word of Affirmation).

2. Thời Gian Chất Lượng (Quality Time).

3. Quà Tặng (Gift).

4. Hành Động Phục Vụ (Act of service).

5. Và Cử Chỉ Trìu Mến (Physical touch).

Thực ra, có lẽ ai trong chúng ta cũng có cả 5 ngôn ngữ này, vì nó đều là những cách quan trọng để bày tỏ tình yêu.

Tuy nhiên, nếu có cơ hội làm bài trắc nghiệm, bạn sẽ khám phá ra rằng mỗi người trong chúng ta đều có một ngôn ngữ tình yêu cơ bản, hay nói khác đi là điều bạn cảm thấy được yêu thương nhất trong năm điều trên chính là ngôn ngữ yêu thương của bạn.

Bên cạnh đó, việc biết được ngôn ngữ tình yêu của người phối ngẫu mình là gì cũng rất quan trọng, vì nó giúp cho chúng ta hiểu được cách làm thế nào để họ luôn cảm thấy được yêu thương.

Ngôn ngữ đầu tiên này là:

1. Lời Khẳng Định:

“Lời Khẳng Định” (Words of Affirmation). “Lời Khẳng Định” là những lời nói chân thành để khẳng định giá trị công việc mà người yêu hay người phối ngẫu đang thực hiện.

“Lời Khẳng Định” là sự bày tỏ tấm lòng biết ơn của ta về những gì mà người vợ hay chồng đang làm.

Tiến sĩ Gary Chapman trình bày như sau:

“Mark Twain có lần nói “Tôi có thể sống được hai tháng nhờ vào một lời khen.” Nếu chúng ta hiểu Twain theo nghĩa đen, thì sáu lời khen mỗi năm sẽ giữ cho bể chứa tình cảm yêu thương của ông ta ở mức hoạt đông tốt.

Người phối ngẫu của bạn chắc hẳn cần nhiều hơn”

Có một câu chuyện nói về sức mạnh của sự động viên như sau:

Một đàn ếch đi ngang qua một khu rừng và hai con ếch bị rơi xuống một cái hố. Khi thấy cái hố quá sâu những con ếch còn lại bèn nói với hai con ếch kia rằng chúng sẽ phải chết.

Hai con ếch mặc kệ những lời bình luận và cố hết sức nhảy ra khỏi cái hố. Đàn ếch nhao nhao bảo chúng đừng nhảy vô ích, hãy chấp nhận cái chết không thể tránh khỏi.

Cuối cùng, một con ếch nghe theo lời của đàn ếch. Nó gục xuống chết vì kiệt sức và tuyệt vọng. Con ếch còn lại vẫn dồn hết sức lực cuối cùng tiếp tục nhảy lên. Đàn ếch trên bờ lại ầm ĩ la lên bảo nó hãy nằm yên chờ chết.

Con ếch nọ lại càng nhảy mạnh hơn nữa. Và thật kỳ diệu, cuối cùng nó cũng thoát ra khỏi cái hố sâu ấy.

Đàn ếch xúm lại:

“Không nghe chúng tôi nói gì à?”

Chúng cứ hỏi mãi trong sự ngạc nhiên, lúng túng của con ếch nọ.

Cuối cùng sự thật cũng được một con ếch già hé lộ rằng: Con ếch vừa thoát khỏi cái hố kia bị điếc và nó cứ nghĩ là những con ếch khác hò reo đang cổ vũ cho nó, và chính điều đó đã làm nên một sức mạnh kỳ diệu giúp cho nó tìm được sự sống mong manh trong cái chết.

Một cách biểu lộ tình cảm yêu thương, ấy là dùng những lời nói để động viên, gây dựng đối với người xung quanh.

Sa-lô-môn, tác giả của những tuyệt tác cổ tiếng Hebrew chứa đựng đầy sự khôn ngoan, đã viết: “Sống chết ở nơi quyền của lưỡi”. Nhiều cặp vợ chồng chưa bao giờ học biết sức mạnh lớn lao của việc nói những lời khẳng định lẫn nhau.

Sa-lô-môn lưu ý thêm: “Sự buồn rầu ở nơi lòng người làm cho nao sờn, nhưng một lời nói lành khiến lòng vui vẻ”.

“Lời khen, hoặc lời cảm ơn, là những cách truyền thông cho tình yêu thật mạnh mẽ. Cách phát biểu hay nhất là qua những lời khẳng định đơn giản, thẳng thắn như: “Trông anh thật nổi trong bộ đồ đó”, hay “Chà! Em mặc áo đó rất đẹp!”, hay “Em hẳn là đầu bếp giỏi nhất thế giới về món bột chiên này.

Anh thích món bột chiên này lắm”, hoặc như “Em thực tình cám ơn anh đã rửa chén tối nay” hay như “Em thật cảm ơn anh đã mang rác ra giúp em”.

“Không khí gia đình, tình cảm hôn nhân sẽ ra sao nếu vợ chồng thường xuyên được nghe những lời khẳng định như vậy.”

Chắc chăn ai trong chúng ta cũng muốn được nghe những lời khích lệ, gây dựng, động viên mỗi ngày. Đắc biệt trong đời sống vợ chồng thì những câu nói như “Anh yêu em” hay “Anh giỏi thật đấy” “Bộ quần áo này mẹ mặc rất đẹp”…là những câu nói luôn bày tỏ sức mạnh yêu thương.

Và nếu như khi nghe những lời yêu thương âu yếm đó, bạn luôn cảm thấy hạnh phúc hơn những điều khác mọi người làm cho bạn thì đây chắc chắn là ngôn ngữ tình yêu của bạn.

2. Thời gian chất lượng

Trong các khóa hôn nhân, khi chúng tôi hỏi các cặp vợ chồng rằng, các bạn có thường ở bên nhau không, thì họ thường ngạc nhiên và trả lời rất quả quyết rằng: Chúng tôi luôn bên cạnh nhau mà. Ấy thế mà khi bàn đến vấn đề thế nào là việc giành thời gian có chất lượng cho nhau, thì gần như cặp vợ chồng nào cũng thiếu.

Nhiều khi chúng ta dễ ngộ nhận rằng, chỉ cần sống chung trong một mái nhà, cùng nhau làm một việc gì đó, cùng ở trong một căn phòng là đã giành thời gian cho nhau rồi. Thật ra, theo tiến sĩ Gary Chapman, thì “ngôn ngữ tình yêu” này đò hỏi nhiều hơn thế.

Đó là lúc bạn giành thời gian để bày tỏ tình yêu đối với người bạn đời của mình, bằng cách chuyện trò, tâm sự và chia sẻ cùng nhau. Giành thời gian để lắng nghe và bày tỏ cảm xúc cùng nhau là điều các cặp đang yêu thường làm rất tốt, nhưng phần lớn khi đã thành vợ chồng thì chúng ta lại dễ cho qua việc này.

Ví dụ như khi cùng ở trong phòng khách, mà người chồng vừa xem ti vi vừa nói chuyện cùng vợ thì anh ta đang chỉ truyền thông tin chứ không truyền tình yêu trong đó. Trong ngôn ngữ của người Trung Hoa thì chứ “Lắng Nghe” được ghép lại bởi năm chữ khác nhau, bao gồm: Tai, Bạn, Mắt, Sự Tập Trung và Tấm Lòng.

Việc giành thời gian để ngồi lại chuyện trò, chia sẻ cùng nhau là cách chúng ta bày tỏ quan tâm, tình cảm yêu thương, trìu mến giành cho người bạn đời của mình. Và đặc biết nó luôn có ý nghĩa rất quan trong đối với cuộc sống tình cảm của những người trong nhóm này.

3. Hành động phục vụ

Có ai đó đã nói: anh yêu em nhưng công việc nhà là của em đấy nhé. Thật buồn cười khi chúng ta không muốn biến tình yêu của mình thành hành động. Trong xã hội ngày nay, khi áp lực công việc tại công sở quá nhiều, thì phần lớn chúng ta trở về nhà đều đã mệt nhoài.
Tuy nhiên, việc chia sẻ gánh nặng công việc cùng nhau là một cách thể hiện tình cảm rất hữu hiệu. Những công việc tường chừng nhỏ nhặt như quét dọn, rửa chén, sửa chữa đồ đạc, giặt giũ hay nấu ăn đôi khi lại là cách bạn có thể bày tỏ tình yêu đối với nhóm người này.

Khi ngôn ngữ yêu thương của một ai đó là hạnh đồng phục vụ, thì người đó cũng luôn có xu hướng phục vụ người khác, và muốn được ai đó phục vụ lại. Sự quan tâm, chăm sóc có thể được thể hiện bằng nhiều cách khác nhau trong cuộc sống, chứ không nhất thiết chỉ là “làm việc nhà” hay phục vụ một điều gì đó.

Tuy nhiên, đây thực sự là cách giúp cho nhóm người này bày tỏ và cảm nhận được tình yêu thương.

4. Quà tặng

Có một điều rất thú vị là đối với một số người, thì tình yêu luôn đi liền với quà tặng. Việc tặng quà là cách họ bày tỏ tình yêu và sự quan tâm với ai đó, nên cũng vậy, họ coi việc được yêu thương trong khi nhận được một món quà.

Có thể ai trong chúng ta cũng muốn được tặng quà, nhưng nếu bạn có ngôn ngữ này, thì chắc chắn không gì làm bạn cảm thấy hạnh phúc hơn là nhận được quà từ ai đó. Và nếu như người thân của chúng ta ai đó cũng có ngôn ngữ này, thì xin đừng quên những dịp kỷ niệm liên quan đến họ và hãy nhớ mua một món quà gì đó.

Ngôn ngữ quà tặng không đòi hỏi giá trị vật chất trong món quà, đôi khi chỉ là một bông hoa, hay một chiếc vé đi xem phim, một chiếc áo len khi trời vào đông….tất cả những gì họ nhận được từ bạn, sẽ luôn là thông điệp hữu hiệu nhất về tình yêu của bạn giành cho họ.

Và chắc chắn, họ sẽ luôn giữ gìn cẩn thận những gì đã được tặng, họ cũng là người luôn vui thích mua quà tặng cho người khác nữa.

5. Cử chỉ yêu thương

Mọi đứa trẻ đều thích được ôm ấp vuốt ve, vậy nên cách tốt để bày tỏ tình yêu với con cái là hãy giành cho chúng thật nhiều cái ôm, hôn.

Tuy nhiên, có nhiều người lớn vẫn luôn yêu thích điều này. Với những người có ngôn ngữ tình yêu là cử chỉ âu yếm, vuốt ve thì họ sẽ luôn cần những nụ hôn, những cái ôm, hôn của người bạn đời. Sự đụng chạm về mặt thể chất luôn có tác dụng về mặt tâm lý đối với họ.

Họ cảm nhận được yêu thương, được che chở qua những nụ hôn và vòng tay ôm ấp. Họ trân trọng và được phấn chấn rất nhiều từ những hành động này. Cử chỉ yêu thương trong hôn nhân không luôn có nghĩa là quan hệ chăn gối.

Vì nếu chúng ta nghĩ đến ôm hôn là nghĩ đến “quan hệ” thì có lẽ hôn nhân của chúng ta hoặc sẽ rất “bận rộn” hoặc sẽ rất “khô khan”.

Vì có nhiều người trong chúng ta không có nhu cầu chăn gối thường xuyên, nhưng có lẽ ai trong chúng ta cũng cần những cái ôm của người bạn đời giành cho mình mỗi ngày.

Bạn thân mến, có ai đó đã nói rằng: trong yêu thương mọi vật đều lớn lên. Hãy cố gắng để khám phá ra ngôn ngữ yêu thương của bạn và những người xung quanh, đặc biệt là người bạn đời bạn.

Khi chúng ta hiểu điều mình muốn và điều người khác muốn thì chắc chắn chúng ta sẽ mở được cánh cửa hạnh phúc của nhau. Đối với những người có ngôn ngữ yêu thương là sự phục vụ thì có lẽ đối với họ: Con đường dẫn đến trái tim thường phải đi qua dạ dày.

Nhưng đối với những người có ngôn ngữ yêu thương là thời gian chất lượng thì lại dễ phàn nàn: Vợ tôi tất bật trong bếp suốt cả ngày, trong khi với tôi ăn uống thật đơn giản. Tôi chỉ muốn cô ấy đi bộ trò chuyện cùng mình mà cũng khó.

Khi yêu một ai đó, chúng ta luôn muốn làm cho họ cảm thấy hạnh phúc. Đó là điều rất tự nhiên, nhưng không phải ai cũng được công nhận về những gì mình đã làm, bởi đơn giản có lẽ là chúng ta đã không chịu tìm hiểu hiểu ngôn ngữ yêu thương của họ là gì.

Để khoang tinh yêu được đầy tràn, chúng ta phải tìm cách khám phá ra ngôn ngữ tình yêu của nhau. Tình yêu luôn đi kèm với hành động để chứng minh nó. Và bất kỳ ai trong chúng ta đều có thể làm một điều gì đó mang lại hạnh phúc cho người mình yêu trong ngày hôm nay.

Thân ái

Hải & Hằng – CGTV Hôn Nhân Gia Đình

->Đọc thêm...

Độc thân một con đường sống - FULL (Đọc Truyện Đêm Khuya)

->Đọc thêm...

26.8.14

Giáo Hội là một dân tộc được xây dựng trên đức tin


Giáo Hội mà Chúa Giêsu có ý khai sinh là một dân tộc không dựa trên huyết thống nữa mà dựa trên đức tin, nghĩa là dựa trên tương quan với chính Người, một tương quan của tình yêu thương và sự tin tưởng.

Đức Thánh Cha Phanxicô đã khẳng định như trên với hàng chục ngàn tín hữu và du khách hành hương trong buổi đọc kinh Truyền Tin trưa Chúa Nhật 24-8-2014 tại quảng trường thánh Phêrô.

Trong bài huấn dụ Đức Thánh Cha đã quảng diễn ý nghĩa bài Phúc Âm theo thánh Mátthêu chương 16 kể lại biến cố Chúa Giêsu hỏi các môn đệ cho biết người ta nói Người là ai, và đối với các ông Chúa là ai. Đại diện cho Nhóm Mười Hai ông Phêrô nói: ”Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”. Và Chúa Giêsu gọi ông là ”có phước” vì lòng tin mà Thiên Chúa Cha đã ban cho ông, và Ngài nói với ông: ”Con là Phêrô nghĩa là Đá Tảng, và trên tảng đá này Thầy sẽ xây Giáo Hội của Thầy”.

Chúng ta hãy dừng lại một chút trên điểm này, trên sư kiện Chúa Giêsu gán cho Simon tên gọi mới này: Phêrô trong tiếng nói của Chúa Giêsu là ”Kêpha”, có nghĩa là ”đá tảng”. Trong Thánh Kinh từ ”đá tảng” được quy chiếu về Thiên Chúa. Chúa Giêsu gán cho Simon tên gọi này không phải vì các đức tính hay công nghiệp loài người của ông, mà vì lòng tin tinh tuyền và vững chắc của ông, lòng tin đến từ trên cao.

Chúa Giêsu cảm nhận trong tim Người một niềm vui lớn lao, bởi vì Người nhận ra nơi ông Simon bàn tay của Thiên Chúa Cha và hoạt động của Chúa Thánh Thần. Người nhận ra rằng Thiên Chúa Cha đã ban cho ông Simon một đức tin ”có thể tin cậy được”, trên đó Chúa Giêsu có thể xây dựng Giáo Hội Người, nghĩa là cộng đoàn của Người. Đức Thánh Cha giải thích điểm này như sau:

Chúa Giêsu có trong tâm trí ý muốn khai sinh ra Giáo Hội ”của Người”, một dân tộc không xậy dựng trên huyết thống, nhưng trên đức tin, nghĩa là trên tương quan với chính Người, một tương quan của tình yêu thương và sự tin tưởng. Như thế để bắt đầu Giáo Hội của Người Chúa Giêsu đã cần tìm ra nơi các môn đệ một đức tin ”có thể tin cậy đươc”. Và đó là điều Người phải kiểm thực tại thời điểm này của lộ trình.

Đức Thánh Cha nói tiếp trong bài huấn dụ: Chúa đã có trong trí hình ảnh của vịệc xây dựng, hình ảnh của một cộng đoàn như một ngôi nhà. Chính vì thế khi nghe lời tuyên xưng đức tin thẳng thắn của ông Simon, Người gọi ông là ”đá tảng”, và bầy tỏ ý định xây dựng Giáo Hội của Người trên đức tin ấy.

Anh chị em thân mến, điều đã xảy ra một cách duy nhất nơi thánh Phêrô, cũng xảy ra nơi mọi tín hữu kitô có niềm tin chín chắn và chân thành nơi Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống. Phúc Âm hôm nay cũng gọi hỏi từng người trong chúng ta. Đức Thánh Cha nói thêm:

Nếu Chúa tìm thấy trong con tim chúng ta một đức tin, tôi không nói là toàn vẹn, nhưng chân thành, tinh tuyền, thì khi đó Người cũng thấy nơi chúng ta các viện đá sống động để xây dựng cộng đoàn của Người. Đá tảng của cộng đoàn này là Chúa Kitô, viên đá góc duy nhất. Về phần mình, thánh Phêrô là đá tảng, vì là nền tảng hữu hình sự hiệp nhất của Giáo Hội. Nhưng mỗi một tín hữu đã được rửa tội đều được mời gọi cống hiến cho Chúa Giêsu niềm tin nghèo nàn, nhưng chân thành của họ, để Người có thể tiếp tục xây dựng Giáo Hội của Người ngày hôm nay trên mọi phần đất của thế giới này.

Cả ngày nay nữa ”người ta” nghĩ rằng Chúa Giêsu là một ngôn sứ lớn, một bậc thầy của sự khôn ngoan, một mẫu gương của sự công chính... Và cả ngày nay Chúa Giêsu cũng hỏi các môn đệ Người: “Còn các con, các con nói Thầy là ai?” Chúng ta sẽ trả lời như thế nào? Hãy nghĩ tới điều đó. Nhưng nhất là hãy cầu xin Thiên Chúa Cha, để qua lời bầu cử của Đức Trinh Nữ Maria, cầu nguyện để xin Chúa ban cho chúng ta ơn trả lời với con tim chân thành:
“Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”.

Tiếp đến Đức Thánh Cha đã đọc kinh Truyền Tin và ban phép lành tòa thánh cho mọi người.

Sau Kinh Truyền Tin Đức Thánh Cha đã mời gọi mọi người cầu nguyện cho hòa bình tại Ucraina. Ngài nói: Tôi đặc biệt nghĩ tới vùng đất Ucraina yêu dấu, mà ngày hôm nay là lễ quốc khánh, tới tất cả các con cái và những người khao khát hòa bình và an ninh, bị đe dọa bới một tình trạng căng thắng và xung khắc không lắng dịu, gây ra biết bao nhiêu đau khổ cho thường dân. Chúng ta hãy phó thác cho Chúa Giêsu và Mẹ Maria toàn quốc gia này, và hiệp ý cầu nguyện cho mọi nạn nhân, gia đình họ và cho những người đang đau khổ.

Đức Thánh Cha đã chào nhiều nhóm hiện diện đến từ Tây Ban Nha, Chile, Pháp. Ngài cũng chào đặc biệt các tân đại chủng sinh trường Bắc Mỹ về Roma để học thần học, trong đó có một thày gốc Việt Nam. Ngài cũng chào 600 bạn trẻ giáo phận Bergamo cùng Đức Giám Mục sở tại hành hương đi bộ từ Roma tới Assisi. Đức Thánh Cha cầu chúc các bạn trẻ trở về nhà sống làm chứng cho vẻ đẹp của đức tin kitô.

Linh Tiến Khải

vatican

->Đọc thêm...

19.8.14

Đức Phanxicô phong chân phúc cho 124 vị tử đạo Đại Hàn


Kitô Giáo Đại Hàn có mặt từ thế kỷ 18, lúc các học giả Đại Hàn nghe biết sự phát triển đức tin tại Trung Hoa. Họ tới Trung Hoa để học hỏi Kitô Giáo nơi các nhà truyền giáo Dòng Tên. Rồi trở lại quê hương để giảng dạy đức tin, thu hút hàng ngàn tân tòng dù không có linh mục.

Theo tin CNA, Đức Phanxicô, hôm nay, 16 tháng Tám, đã phong chân phúc cho các vị Tử Đạo Đại Hàn là Phaolô Yun Ji-chung và123 đồng bạn, ca ngợi các hy sinh vĩ đại của họ và lời kêu gọi “đặt Chúa Kitô lên trên hết” của họ.

Trong Thánh Lễ tại Cổng Gwanghwamun ở Hán Thành, trước hàng chục ngàn người, ngài nói rằng “Tất cả các vị đã sống và chết cho Chúa Kitô, và nay các vị đang trị vì với Người trong hân hoan và vinh quang. Chiến thắng của các vị tử đạo, chứng tá của các vị đối với sức mạnh của tình yêu Thiên Chúa, tiếp tục mang nhiều hoa trái hiện nay tại Đại Hàn, trong Giáo Hội từng nhận được sự lớn mạnh do chính các hy sinh của các vị”.

“Việc chúng ta cử hành Chân Phúc Phaolô và Các Bạn Tử Đạo đem lại cho chúng ta cơ hội trở về với những giờ phút đầu tiên, thời sơ sinh, có thể nói như thế, của Giáo Hội tại Đại Hàn. Nó mời gọi chúng ta, người Công Giáo Đại Hàn, nhớ tới các việc lớn lao mà Thiên Chúa đã thực hiện tại đất nước này và trân qúi di sản đức tin và đức ái từng được các bậc cha ông ủy thác cho anh chị em”.

Kitô Giáo Đại Hàn có mặt từ thế kỷ 18, lúc các học giả Đại Hàn nghe biết sự phát triển đức tin tại Trung Hoa. Họ tới Trung Hoa để học hỏi Kitô Giáo nơi các nhà truyền giáo Dòng Tên. Rồi trở lại quê hương để giảng dạy đức tin, thu hút hàng ngàn tân tòng dù không có linh mục.

Các nhà cầm quyền Đại Hàn bắt đầu bách hại các Kitô hữu và ngăn cấm sách vở Công Giáo.

Phaolô Yun Ji-chung và Giacôbê Kwong Sang-yon, cả hai đều là người Công Giáo thuộc giai cấp quí tộc, bị chém đầu năm 1791 vì vi phạm lễ nghi Khổng Giáo. Việc xử trảm họ đánh dấu việc khởi đầu cuộc bách hại lớn hàng giáo dân Đại Hàn.

Chỉ có một linh mục duy nhất, xuất thân từ Trung Hoa, trong số 124 vị tử đạo được phong chân phúc hôm nay.

Lời tuyên bố chính thức của Đức Giáo Hoàng về việc phong chân phúc đã khiến công chúng hoan hô vang dội trong khi kèn đồng và trống phách trổi lên trong Công Trường Gwanghwamun. Những màn ảnh truyền hình khổng lồ dựng hai bên bàn thờ chiếu hình ảnh các vị tử đạo.

Bài giảng của Đức Phanxicô nói rằng nguồn gốc Kitô Giáo Đại Hàn chứng tỏ “tầm quan trọng, phẩm giá và vẻ đẹp” của ơn gọi làm người Công Giáo giáo dân.

Ngài nói: “Trong ơn quan phòng mầu nhiệm của Thiên Chúa, đức tin Kitô Giáo đã được mang tới các bờ biển Đại Hàn không qua các nhà truyền giáo; đúng hơn, nó đi thẳng vào tâm trí người dân Đại Hàn. Nó được dẫn khởi từ sự tò mò trí thức, muốn đi tìm sự thật tôn giáo. Nhờ gặp gỡ sơ khởi với Tin Mừng, các Kitô hữu Đại Hàn tiên khởi đã mở tâm trí mình cho Chúa Giêsu. Họ muốn hiểu biết nhiều hơn về Chúa Kitô, Đấng chịu đau khổ, chịu chết và đã sống lại từ cõi chết”.

Các vị tử đạo Đại Hàn đã được thừa nhận là Thánh. Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II phong hiển thánh cho 103 vị tử đạo Đại Hàn vào ngày 6 tháng Năm năm 1984 trong một cuộc viếng thăm Nam Hàn.

Trong bài giảng của ngài, Đức GH Phanxicô khẩn cầu các vị thánh này, Thánh Anrê Kim Taegon, Phaolô Chong Hasang và các bạn tử đạo, cùng với các vị mới được phong chân phúc.

Ngài nói “Tất cả các vị đã sống và đã chết cho Chúa Kitô, và giờ đây, các vị đang hiển trị với Người trong hân hoan và vinh quang”.

Đức Giáo Hoàng thảo luận bài đọc Tin Mừng trích từ chương 17 Tin Mừng theo Thánh Gioan và sự liên quan của nó đối với các vị vừa được phong chân phúc.

Ngài cho hay: “…Điều có ý nghĩa là khi Chúa Giêsu cầu xin Chúa Cha thánh hiến và che chở chúng ta, Người không xin Chúa Cha lấy chúng ta ra khỏi thế gian này. Chúng ta biết rằng Người sai các môn đệ ra đi làm men thánh thiện và sự thật trong thế gian: làm muối đất, làm ánh sáng thế gian. Về điều này, các vị tử đạo chỉ đường cho ta”.

Các vị tử đạo Đại Hàn “đã phải chọn giữa việc theo chân Chúa Giêsu hay theo thế gian. Họ biết cái giá của việc làm môn đệ. Họ sẵn sàng thực hiện những hy sinh lớn lao và tự để mình bị tước đoạt bất cứ những gì tách biệt họ khỏi Chúa Kitô: của cải, đất đai, danh tiếng và vinh dự, vì họ biết rằng chỉ một mình Chúa Kitô mới là trân châu ngọc qúi thực sự của họ”.

Đức GH lưu ý sự cám dỗ “muốn thỏa hiệp đức tin, muốn hạ thấp các đòi hỏi triệt để của Tin Mừng và sống theo tinh thần thời đại. Ấy thế nhưng các vị tử đạo kêu gọi chúng ta đặt Chúa Giêsu lên trên hết và nhìn mọi sự khác trên thế gian này trong tương quan với Người và vương quốc đời đời của Người. Các vị thách thức chúng ta suy nghĩ về điều ta sẵn sàng chết cho”.

Đức Phanxicô kết thúc bài giảng của ngài bằng một lời cầu nguyện: “Ước chi lời cầu nguyện của mọi vị tử đạo Đại Hàn, kết hợp với lời cầu nguyện của Đức Mẹ, Mẹ Giáo Hội, giúp chúng ta nhận được ơn kiên nhẫn trong đức tin và trong mọi việc lành phúc đức, ơn thánh thiện và trong sạch tâm hồn, và lòng nhiệt thành tông đồ trong việc làm chứng cho Chúa Giêsu trên quê hương yêu quí này, trên khắp Á Châu, và cho tới tận cùng trái đất”.

Vũ Văn An (Theo vietcatholic)

->Đọc thêm...

Hai mặt của một cuộc đời linh mục


Nếu các Linh mục luôn hăng hái vun tưới và ươm trồng cây thánh thiện này mỗi ngày một mạnh mẽ hơn, thì chắc chắn Ơn Thánh của Chúa được tràn ngập nơi các ngài.
Thoáng nhìn vào cuộc sống của Linh mục, ai ai cũng cảm thấy đời sống đó thật đơn giản, thoải mái, dễ chịu và sung túc về mọi mặt. Nhưng nhìn kỹ và đi sâu vào cuộc sống của Linh mục, chúng ta mới thấy rõ được những ngổn ngang, phức tạp, những trăn trở, giằng co, và những nhức nhối, khó khăn về nhiều mặt cả Đạo lẫn Đời.

Con người Linh mục chắc hẳn không phải là thần thánh, là thiêng liêng, mà thật sự là một con người như muôn người khác đang sống giữa dòng đời - phải bôn ba, va chạm và giao tiếp với mọi hạng người. Có những người hiểu và thông cảm, nhưng cũng có nhiều kẻ không hiểu và chẳng muốn cảm thông gì cả !

Chính vì Linh mục là “con người”, nên cũng mang thân phận của con người với một thân xác nặng nề, yếu hèn, dễ vấp ngã như mọi người, và cũng có hỉ - nộ - ái - ố và tham - sân - si … không thể nào khác hơn “ông bà nguyên tổ, A-Đam - E-Và trong vườn Địa Đàng, mặc dù đã được Thiên Chúa ưu đãi đó”. Đặc biệt là những cám dỗ thật hấp dẫn của thời đại về: Tiền - Tài - Tình, từ đó phá hủy con người chúng ta ra tro bụi cách dễ dàng !

Mặt khác, Linh mục là con người nhưng mà phải làm những việc thần thiêng “Một KiTô khác” (Alter Christus), để đem thế giới loài người phàm trần tạm bợ này về với Thế Giới Thiên Đường vĩnh cửu mà Thiên Chúa Ba Ngôi cực Thánh đang chờ đón những thành quả của các ngài.

- Về mặt con người, Linh mục có một cuộc sống độc thân : nên phải tự chăm lo mọi sự trong ngoài cho đời sống của mình, để có đủ điều kiện sức khoẻ thân thể cũng như tinh thần minh mẫn mà hoạt động cho Cộng đoàn Giáo hữu luôn được tốt đẹp. Và chính đời sống độc thân đó mới tích cực giúp Linh mục gặt hái được những thành quả cách mỹ mãn, công bằng và không bị chi phối bởi bất cứ ai hay điều gì ràng buộc cả ! Và cũng chính đời sống độc thân này giúp cho Linh mục không phải lo lắng, ưu tư gì về cuộc sống vật chất hiện tại hay tương lai sẽ ra sao !

Một mình chẳng nghĩ chẳng lo,
Đặt mình là ngáy kho kho ngủ liền.
Tâm tư chẳng nghĩ gì tiền,
Tương lai, hiện tại chẳng phiền vào thân !

Và từ đời sống độc thân đó, Linh mục là của mọi người, không thuộc về bất cứ ai hết, và cũng chẳng là của phe nhóm nào cả !

Nếu ý thức được như thế, mọi người chúng ta sẽ tích cực giúp các Linh mục có một đời sống thật trong sáng, thoải mái, vui tươi và hạnh phúc trong Tình Yêu duy nhất của Thiên Chúa, để từ đó các ngài chiếu giãi Thiên Chúa Tình Yêu đến cho mọi người bằng chính “đời sống gương sáng” là Chứng nhân đích thực của Chúa Kitô giữa trần gian.

Quả thật, Xây Dựng thì khó, mà phá đổ thì quá dễ ! vì thế, tuỳ khả năng và thời giờ mà mỗi người giáo hữu chúng ta phải tiếp tay, cộng tác, đóng góp và giúp sức với Linh mục, để cùng xây dựng một Giáo Hội tươi sáng, thánh thiện và bác ái ngay ở trần gian này.

Đó là cách truyền giáo hữu hiệu nhất và là dấu hiệu mọi người nhận biết tất cả chúng ta là Môn đệ của Chúa Kitô : vì “Các con yêu thương nhau” (Jn.13,35;15,9-17), nên sẵn sàng chia sẻ và giúp đỡ lẫn nhau trong mọi việc cho vinh Danh Chúa.

- Còn về mặt thần thiêng, thánh chức, Linh mục là vị Đại Diện của Thiên Chúa trên trần gian, để ban phát các Ơn thánh qua Bảy Bí tích và các Á Bí tích nữa, hầu cho con người được sự trợ lực linh thiêng mà vượt thắng mọi gian tà thế tục.

Và cũng là người hướng dẫn tinh thần, để mọi người sống đúng Lời Chúa mà giáo Hội “vị Hiền Thê của Chúa Kitô” mới am tường và chỉ dạy cách trung thực cho tất cả chúng ta được hiểu biết rõ ràng và đem ra thực hành trong cuộc sống và hoàn cảnh cụ thể của riêng mỗi người.

Chính đây là mặt tích cực, luôn luôn lôi kéo Linh mục tiến lên và vượt thẳng đến mức độ toàn thiện, như Chúa Giêsu Kitô đã khẳng định : “các con hãy nên trọn lành, như Cha các con trên Trời là Đấng trọn lành” (Mt.5,48).

Nếu các Linh mục luôn hăng hái vun tưới và ươm trồng cây thánh thiện này mỗi ngày một mạnh mẽ hơn, thì chắc chắn Ơn Thánh của Chúa được tràn ngập nơi các ngài, và từ đó tưới gội trên toàn thể mọi người chung quanh qua việc gặp gỡ, giao tế, trò chuyện và bàn hỏi cách thiết thực, làm cho cuộc sống tạm bợ này được biến đổi thành một Hạnh Phúc vĩnh cửu ngay từ tại thế.

Còn nếu Linh mục quên đi cái mặt tích cực này, thì thật là một thảm họa cho mọi người mọi nơi, không hưởng được Ơn Thánh dồi dào và không thể có một Hạnh Phúc chân thật nơi trần gian này. Và từ đó, sinh ra nhiều giống tội, và làm thiệt hại cho Giáo Hội là Mẹ của chúng ta, không thể sinh hoa kết trái thánh thiện được nơi dương thế này, và như vậy làm sao chúng ta có thể mai sau cùng hưởng Hạnh Phúc bất diệt tuyệt vời trên Nước Trời được !!!

- Nếu mọi người chúng ta đều hiểu rõ Hai khía cạnh của Một cuộc đời Linh mục như thế, thì chắc chắn chúng ta phải cùng nhau tích cực hỗ trợ, giúp sức, và góp phần cải thiện cho các Linh mục mỗi ngày một hoàn hảo, thánh thiện, sáng ngời và tươi đẹp hơn, bằng những hành động cụ thể :

Cùng Linh mục, chúng ta tích cực góp phần mình để xây dựng mọi mặt của Giáo Hội được tốt đẹp hơn.

Cùng Linh mục, chúng ta luôn luôn chia sẻ mọi gánh nặng, mọi công việc cả Đạo lẫn Đời mỗi ngày cho được hoàn thành cách mỹ mãn như ý Chúa muốn nơi chúng ta.

Ý thức Linh mục có chức thánh, chúng ta phải tỏ lòng kính trọng và giúp các ngài hoàn thành chức vụ mỗi ngày một thêm thánh thiện hơn.

Ý thức Linh mục cũng là con người yếu hèn như chúng ta, nên chúng ta phải giúp các ngài xa tránh mọi dịp : “nhàn cư vi bất thiện” - “ăn chơi cách phàm tục quá độ”(kiểu Tứ đổ tường), và đặc biệt đừng làm cớ vấp phạm cho các ngài, nhất là nữ giới.Vậy các giáo dân nữ nên ăn mặc kín đáo hơn, không nên phơi bày quá đáng những nét đẹp của mình trước mặt các vị tu hành, cũng như hạn chế mọi giao tiếp không cần thiết, vô bổ, và những cử chỉ thân mật với các ngài. Chúng ta tin rằng việc làm này sẽ có ảnh hưởng rất tích cực trong việc giúp các ngài đi trọn quãng đường dâng hiến cho Chúa. Đó cũng là một việc hi sinh lớn lao giúp các Linh mục được luôn sống thánh thiện. Và chúng ta chắc rằng sự hi sinh đó sẽ được thánh Phêrô ghi công để rồi ngài sẽ mở cửa Thiên Đàng đón mừng các thánh nữ sau này.

Trong tinh thần anh em của Chúa Kitô, chúng ta sẵn sàng đóng góp ý kiến xây dựng chân tình,cụ thể và đầy thánh thiện, để mọi thành phần Dân Chúa được trở nên hoàn thiện.

Ước gì Cuộc đời Linh mục sống giữa trần gian, nhưng không bị biến dạng, đổi thay vì thời gian, và cũng không bị nhuốm mùi đời mà trái lại thêm “Hương” cho đời, giống như BÔNG HOA SEN ở giữa đầm lầy:

Trong đầm gì đẹp bằng Sen,
Lá xanh bông trắng lại chen nhụy vàng.
Nhụy vàng bông trắng lá xanh,
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

Mặc dầu, Linh mục là con người, nhưng được mang sứ mệnh của Chúa Kitô, nên phải hoàn tất con đường Thập Giá của Chúa Kitô đến cùng, và mang lại Ơn Cứu Rỗi cho muôn dân nữa:

Đã mang thân kiếp con người,
Ốm đau, yếu đuối, biếng lười thường xuyên.
Ân cần giúp đỡ lời khuyên,
Chớ nên ăn nói huyên thuyên hại đời.
Linh mục là của mọi người,
Chúa Trời ban tặng cho đời thêm Ơn :
An bình, Hạnh Phúc đẹp hơn,
Thiên Đàng sum họp cô đơn không còn !

Hy vọng đôi dòng suy tư cùng chia sẻ với mọi người về Cuộc đời Linh mục có Hai mặt phải trái nói trên, sẽ giúp mọi người chúng ta ý thức hơn và đóng góp thêm những kinh nghiệm cụ thể, để cuộc sống Linh mục mỗi ngày được thêm phong phú và tuyệt vời hơn.
Gs Thiện Nhân

->Đọc thêm...

Cuộc đời và sứ mạng Linh mục đứng trước thực tại tội lỗi


Kính thưa quí Cha thân mến,
Một lần nữa tôi lại có dịp được trao đổi đôi tâm tư với quí Cha là những người cộng tác và chia sẻ với tôi trách nhiệm mục tử trong giáo phận Xuân Lộc chúng ta. Đề tài của suy tư lần này là “Cuộc đời và sứ mệnh của Linh mục đứng trước thực tại tội lỗi”.
1. Lời mời gọi hối cải của Chúa và sứ mệnh của Giáo Hội
Trong hành trình cuộc đời, ai cũng có lúc phải đối diện với một thực tại làm nhức nhối tâm hồn : đó là tình trạng yếu đuối và tội lỗi. Thời đại nào cũng có hoàn cảnh tội lỗi và những con người tội lỗi, nhưng trong thế giới hôm nay, nhiều khi tội lỗi còn được nhiều người, nhiều phương tiện truyền thông quảng bá rộng rãi và rủ rê, khích lệ làm điều tội. Người ta cũng tìm cách ru ngủ lương tâm con người, biến tội lỗi thành đức tính. Thực tại tội lỗi trở thành một đám mây đen bao trùm môi trường sống, gây ra rất nhiều khó khăn trong cuộc sống cá nhân và trong các liên hệ giữa các cá nhân và các nhóm người. Chính vì vậy, hơn bao giờ hết, Giáo Hội cần phải làm vang lên lời mời gọi đầu tiên của Chúa Kitô khi Ngài bắt đầu cuộc đời công khai : “Thời gian đã mãn hạn, Nước Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy hối cải và tin vào Tin Mừng.” (Mc 1,15).
Linh mục chúng ta là những người đầu tiên phải nhận lấy sứ vụ này của Giáo Hội và chúng ta có bổn phận phải nhắc nhở mọi thành phần Dân Chúa nhớ và cố gắng đáp lại lời mời gọi của Chúa.
Các Kitô hữu được sinh ra cũng là những kẻ có tội như mọi ngươi, nhưng khác một điều là chân thành đón nhận lời mời gọi hối cải của Chúa Kitô : “Anh em hãy hối cải và tin vào Tin Mừng”. Các Kitô hữu và ngay cả anh em linh mục chúng ta không phải đã là thánh khi được sinh ra, nhưng là những kẻ có tội, trông cậy vào ơn cứu độ của Chúa Kitô, đang cố gắng thay đổi con người của mình để trở nên thánh. Đây là chứng tá đầu tiên các Kitô hữu và các cộng đoàn Kitô hữu phải dâng tặng cho thế giới. Dĩ nhiên, trong cộng đoàn các môn đệ của Chúa Kitô, anh em linh mục chúng ta phải là những người dẫn đầu trên hành trình hối cải này. Đó là chứng tá của những kẻ có tội đang vươn mình lên để nên thánh và mời gọi tất cả thế giới cùng đi vào hành trình đó để tìm lại được niềm vui và sức sống.
Sứ điệp kêu gọi hối cải có thể đi vào lòng người và có tính cách thuyết phục khi nó không phải là một lời kêu gọi suông, hay một lời trách móc, ta thán, nhưng là lời phát xuất từ lòng của một người đã vui mừng cảm nghiệm được ơn tha thứ và sự nâng đỡ của Chúa Kitô trước những yếu đuối và lỡ lầm của chính mính. Do đó, để kêu gọi hối cải, chính mình phải đi vào hành trình hối cải.
1. Thái độ trước những dịp tội
Người ta thường ghét bỏ tội lỗi nơi người khác và có khi còn chửi bới, rêu rao sai lầm của những người đó. Còn đối với tội lỗi của chính mình, người ta lại nhắm mắt làm ngơ, coi như không có gì, và còn tìm lý lẽ để chống chế và biện minh cho chính mình, hoặc sau khi đã cố gắng mà không được thì buông xuôi chạy theo sức quyển rũ của tội lỗi.
Trong bài giảng ngày 2 tháng 7 năm 2013, dựa vào các bài Sách Thánh theo phụng vụ (St 19,15-29 ; Mt 8,23-27), Đức Thánh Cha Phanxicô đã mời gọi phải “chạy trốn” và đó là can đảm trong sự yếu đuối. Đó chính là lời của Thiên sứ nói cho ông Lot và gia đình ông : “Hãy chạy trốn ngay. Ngươi không thể chống chọi được sức mạnh của núi lửa. Nó sẽ thiêu rụi ngươi”.
Dựa vào bài sách Sáng Thế (St 19,15-29), Đức Thánh Cha Phanxicô đã phân tích ra hai thái độ. Thái độ thứ nhất là chần chừ. Đây là thái độ của ông Lot không chịu đi ngay. Dính bén với tội lỗi, không quyết định dứt khoát. Thái độ thứ hai là thái độ của bà vợ : quay lại nhìn ! Đây là thái độ tiếc nuối. Đã bỏ đi, nhưng lòng vẫn thèm khát. Có khác chi việc người ta ăn chay, kiêng thịt và lòng vẫn mơ ước, hay còn làm đồ giả cho đỡ thèm. Như vậy, người ta không những thèm khát mà còn nuôi dưỡng sự thèm khát trong lòng ! Đứng trước những quyến rũ và cạm bẫy của tội lỗi trong xã hội hôm nay, Đức Thánh Cha còn thêm vào yếu tố tò mò. Người ta tò mò, muốn thử, muốn biết. Nhưng một khi đã nhúng chân vào thì rút không ra !
Suy niệm bài sách Tin Mừng (Mt 8,23-27), Đức Thánh Cha Phanxicô chỉ ra thêm hai thái độ nữa. Thái độ thứ ba là lo sợ. Các môn đệ chèo thuyền sang bên kia bờ biển hồ, có Chúa Giêsu trên thuyền. Bỗng nhiên, biển nổi sóng lớn, bao trùm cả con thuyền. Các môn đệ lo sợ, la hoảng ! Tội lỗi có một mãnh lực lớn lao, trong khi con người lại hết sức yếu đuối và mỏng dòn ! Do đó, người ta không chỉ phạm tội mà còn bất lực và xem ra không có khả năng không phạm tội ! Kinh nghiệm này, một phần nào, đã được thánh Phaolô diễn tả trong thư gửi giáo đoàn Roma : “Tôi làm gì tôi cũng chẳng hiểu : Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm.” (Rom 7,15.19). Người ta lo sợ, buông xuôi và hết khả năng chiến đấu chống lại sức mạnh quyền rũ của tội lỗi. Thái độ thứ bốn là với lòng tin cậy, phó thác, kêu cầu Chúa : “Lạy Thầy, xin cứu chúng con ! Chúng con chết mất !”. Chúa chỉ nói một lời, biển yên lặng như tờ. Chỉ có sức mạnh thần linh của Chúa mới giữ chúng ta đứng vững và mới có khả năng kéo chúng ta ra khỏi sức quyển rũ của tội lỗi.
Tin tưởng chạy đến kêu cầu Chúa, nhưng lắm khi sóng vỗ con thuyền bập bềnh, mà xem ra Chúa vẫn ngủ. Chúa xem ra vẫn ngủ, nhưng có Chúa, con thuyền không chìm ! Cần phải trải qua kinh nghiệm của sự yếu đuối của mình mà không mất lòng tin tưởng vào lòng thương xót và sức mạnh của ơn thánh Chúa mới có được lòng xót thương và bao dung mà cảm thông với những con người đang gù lưng trước sức nặng của sự quyến rũ và mê hoặc của tội lỗi, đồng thời thông truyền cho họ niềm hy vọng vào lòng thương xót của Chúa để vươn lên khỏi sức mạnh của sự tội.
1. Sứ mệnh tham dự chương trình cứu độ
Để cứu vớt nhân loại tội lỗi, Chúa Kitô đã xuống thế làm người, đã chia sẻ thân phận con người với mọi người, đã giảng dạy để soi sáng tâm trí, đã gần gũi, chữa lành các bệnh nhân, đã tỏ uy quyền xua đuổi qủy dữ... Tất cả là tốt và quan trọng, nhưng vẫn chưa đủ. Sau cùng, Chúa Giêsu đã chấp nhận đau khổ trong Tuần Thương Khó với cái chết nhục nhã trên Thánh Giá.
Sứ mệnh tham dự thiên chức Linh mục của Chúa Kitô đòi một bước đắt giá mà thánh Phaolô gọi là sự điên rồ của tình yêu Thánh Giá. Chấp nhận chịu đau khổ để cứu vớt kẻ có tội. Khi hiện ra ở Lộ Đức, Đức Mẹ đã nói với em bé Bernadette : “Mẹ hứa cho con được hạnh phúc, nhưng là hạnh phúc ở đời sau kia. Còn ở đời này, con có chấp nhận chịu đau khổ để cầu nguyện cho các kẻ có tội được ơn ăn năn trở lại không ?” Em bé Bernadette đã chấp nhận và sau đó, tất cả cuộc đời của em đã trải qua trong đau khổ của sự khinh thường và của cơn bệnh cho đến chết.
Kính thưa quí Cha,
Tôi xin cám ơn quí Cha đã lắng nghe đôi tâm tư phát xuất từ lòng tôi. Xin Chúa chúc lành cho quí Cha, xin Đức Mẹ che chở quí Cha và xin quí Cha cũng cầu nguyện cho tôi, cho Đức Cha Phụ tá và Đức Ông - Tổng Đại Diện.
Với lòng quí mến, xin kính chào quí Cha.
+ Đaminh Nguyễn Chu Trinh
Giám mục Giáo phận Xuân Lộc
Trích : "Tĩnh tâm Linh mục Xuân Lộc tháng 09"


->Đọc thêm...

VATICAN YÊU CẦU CÁC VỊ HỮU TRÁCH HỒI GIÁO LÊN ÁN SỰ DÃ MAN CỦA NHÀ NƯỚC HỒI GIÁO


Trong một thông cáo hôm 12/8/2014, Hồi đồng Tòa Thánh về đối thoại liên tôn đã yêu cầu các vị hữu trách Hồi giáo có một « lập trường rõ ràng » liên quan đến « các hành vi tội ác khôn tả » do nhóm chiến binh Nhà Nước Hồi Giáo thực hiện.

Theo thông cáo này, việc không lên án các tội ác vi phạm nhân danh tôn giáo sẽ dẫn đến sự mất « tính khả tín » của « việc đối thoại liên tôn được theo đuổi cách kiên nhẫn những những năm qua ».

Thông cáo nhấn mạnh : « Hoàn cảnh bi kịch của các Kitô hữu, của các yézidis và các cộng đồng tôn giáo và sắc tộc khác thiểu số ở I-rắc đòi hỏi một lập trường rõ ràng và can đảm về phía các vị hữu trách tôn giáo, nhất là Hồi giáo, về phía những người dấn thân đối thoại liên tôn và tất cả những người thiện chí ». « Tất cả mọi người phải đồng thanh lên án cách rõ ràng những tội ác này và tố giác việc nại đến tôn giáo để biện hộ cho chúng ».

« Các vị hữu trách tôn giáo cũng được mời gọi thực thi sự ảnh hưởng của họ đối với các vị lãnh đạo nhằm ngưng các tội ác này, trừng phạt những ai vi phạm chúng và tái lập một tình trạng pháp quyền trên toàn lãnh thổ, đồng thời đảm bảo sự quay trở về nhà của mình của những người bị trục xuất ».

Thông cáo cũng cám ơn những ai đã « lên tiếng chống lại khủng bố ». Theo thông cáo, các vị lãnh đạo tôn giáo phải nhắc nhở cho các tín hữu của họ rằng « việc ủng hộ, cung cấp tài chính và trang bị vũ khí cho khủng bố là bị lên án về mặt luân lý ».

Thông cáo tố giác một loạt « những hành vi tội ác khôn tả » : những cuộc tàn sát, « cách làm bỉ ổi của việc chặt đầu, đóng đinh và treo thi thể ở những nơi công cộng », « sự chọn lựa áp đặt cho các Kitô hữu và Yézidis giữa việc trở lại đạo Hồi, đóng thuế hay trục xuất », « bắt cóc các thanh nữ và phụ nữ thuộc về các cộng đoàn Yézidis và Kitô hữu như là chiến lợi phẩm », « việc áp đặt lối thực hành man rợ tục khâu vòng ngăn ngừa giao cấu, phá hủy các nơi thờ phượng và các lăng của người Kitô hữu và Hồi giáo ».

Thông cáo khẳng định : « Không có lý do nào có thể biện minh cho một thói man rợ như thế, và chắc chắn không phải là một tôn giáo ».

Tý Linh

theo La Croix

->Đọc thêm...

TẠI SAO VATICAN CHO RẰNG CẦN THIẾT CÓ MỘT CUỘC CAN THIỆP QUÂN SỰ Ở I-RẮC?


Đang khi từ thập niên 1960, lập trường của Vatican là rất dè dặt đối với việc sử dụng lực lượng quân sự trong việc giải quyết các xung đột, thì Đức cha Silvano Tomasi, Quan sát viên thường trực của Tòa Thánh tại Liên Hiệp Quốc, đã tuyên bố hôm 9/8/2014, rằng một cuộc can thiệp quân sự ở I-rắc là “cần thiết vào lúc này để ngăn chặn đà tiến công của nhóm chiến binh Hồi giáo ở I-rắc”.

Trao đổi với Christian Mellon, dòng Tên, thành viên của Trung tâm nghiên cứu và hoạt động xã hội (Ceras).

Đức cha Tomasi đã cho là “cấp bách” làm thế nào để tìm ra các nước cung cấp vũ khí và tiền bạc cho nhóm chiến binh của Nhà Nước Hồi Giáo và ngưng kiểu ủng hộ này.

Về phần mình, Đức Phanxicô đã yêu cầu có một “giải pháp chính trị hữu hiệu để tái lập luật pháp” ở I-rắc. Ngài đã xác nhận rằng đặc phái viên của ngài, ĐHY Fernando Filoni, sẽ đến Kurdistan để bày tỏ tình liên đới với người dân ở đó.

Ý kiến của Christian Mellon về vấn đề này:

“Quả thực, theo “học thuyết về chiến tranh chính đáng”, tức là lập trường truyền thống của Giáo Hội Công Giáo về tính chính đáng luân lý của cuộc chiến, một cuộc can thiệp quân sự là hiếm hoi được hợp pháp hóa. Nhưng nó được hợp pháp hóa trong trường hợp có sự thanh trừng sắc tộc hay tội diệt chủng, và cách chung chung hơn khi “thường dân có nguy cơ chết dưới những phát súng của một cuộc xâm lược bất chính”, như Đức Gioan-Phaolô II đã từng nói vào ngày 16/1/1993 với ngoại giao đoàn, khi xảy ra những biến cố bi thảm của Bosnia.

Cũng vậy, ngày 1/1/2000, nhân Sứ điệp Ngày Thế Giới Hòa Bình, Đức Gioan-Phaolô II đã nhắc lại rằng, “khi thường dân có nguy cơ chết và những nỗ lực chính trị và những công cụ phòng vệ bất bạo động không có kết quả nào, thì thật là hợp pháp, và thậm chí đó là một bổn phận, nại đến những sáng kiến cụ thể để tước vũ khí của kẻ xâm lược. Tuy nhiên, những sáng kiến này phải được hạn chế trong thời gian, có những mục tiêu rõ ràng, được vận dụng trong sự tôn trọng trọn vẹn luật pháp quốc tế, được bảo đảm bởi một thẩm quyền được nhìn nhận trên bình diện quốc tế và không bao giờ phó mặc cho lô-gíc thuần túy của vũ khí”.

Còn về sự khác nhau của lối diễn tả giữa Đức cha Tomasi, nói về một cuộc can thiệp quân sự, và Đức Phanxicô nói đến một “giải pháp chính trị” (một cuộc can thiệp chính trị phải nhắm đến một giải pháp chính trị), quả thế nó có thể gây ngạc nhiên, vì lập trường của Đức cha Tomasi rõ ràng được đưa ra với sự đồng thuận của Đức Thánh Cha. Nhưng sự khác nhau này có thể được hiểu do những hoàn cảnh riêng biệt của những lời này. Một buổi cầu nguyện ở quảng trường Thánh Phêrô không thể so sánh với một lời phát biểu tại Liên Hiệp Quốc”.

Tý Linh

theo La Croix

Về việc can thiệp này, ở đây cũng cần nhắc lại bài phát biểu của Đức Bênêđíctô tại trụ sở Liên Hiệp Quốc ngày 18/03/2008, trong đó Đức Thánh Cha đã đề cập đến « trách nhiệm bảo vệ » người dân phù hợp với luật pháp quốc tế. Đối với ngài, trong những trường hợp nghiêm trọng, nếu không can thiệp, thí “chính sự dửng dưng hay việc không can thiệp mới gây nên những thiệt hại thực sự ». Ngài nói:

« Mọi Nhà Nước đều có bổn phận hàng đầu bảo vệ người dân của mình chống lại những vi phạm nhân quyền nghiêm trọng và lặp đi lặp lại… Nếu có lúc các Nhà Nước không thể đảm nhận được sự bảo vệ như thế, thì cộng đồng quốc tế có phận vụ can thiệp bằng các phương thế pháp lý đã được dự kiến bởi Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và bởi những phương tiện quốc tế khác. Hành động của cộng đồng quốc tế và của các thể chế của nó, trong chừng mực nó tôn trọng các nguyên tắc đặt nền tảng cho trật tự quốc tế, sẽ không bao giờ được giải thích như là một sự cưỡng bức vô cớ hay như là một sự hạn chế chủ quyền. Ngược lại, chính sự dửng dưng hay việc không can thiệp mới gây nên những thiệt hại thực sự. Cần phải thực hiện một sự nghiên cứu sâu xa các hình thái để ngăn ngừa và giải quyết các xung đột, bằng cách sử dụng mọi phương tiện mà hoạt động ngoại giao có được và bằng việc dành sự chú tâm và nâng đỡ cho dấu chỉ nhỏ nhất của đối thoại và ý muốn hòa giải.

Nguyên tắc « trách nhiệm bảo vệ » đã được ius gentium (luật của các dân tộc) cổ đại xem như là nền tảng của mọi hành động được quyền bính thực hiện đối với những người được nó cai trị : vào thời kỳ mà khái niệm « Nhà Nước quốc gia có chủ quyền » bắt đầu được phát triển, thì tu sĩ dòng Đa Minh Francisco De Vitoria, người được coi như là vị tiên phong về ý tưởng Liên Hiệp Quốc, đã mô trả trách nhiệm này như là một khía cạnh của lý trí tự nhiên được mọi quốc gia chia sẻ, và là hoa trái của một bộ luật quốc tế mà nhiệm vụ của nó là điều chỉnh các tương quan giữa các dân tộc. Ngày nay cũng như thời đó, một nguyên tắc như thế phải cho thấy ý tưởng « nhân vị » như là hình ảnh của Đấng Tạo Hóa, cũng như là ước muốn tuyệt đối và yếu tính của tự do. Chúng ta biết rõ, việc thành lập Liên Hiệp Quốc đã trùng với các xáo trộn sâu xa mà nhân loại đã chịu khi việc quy chiếu đến ý thức về siêu việt và lý trí tự nhiên đã bị bỏ rơi và do đó tự do và phẩm giá con người đã bị vi phạm hàng loạt. Trong những hoàn cảnh như thế, điều đó đe dọa các nền tảng khách quan của các giá trị mà gợi hứng và điều chỉnh trật tự quốc tế và điều đó phá ngầm các nguyên tắc bất khả xâm phạm và bó buộc được Liên Hiệp Quốc trình bày và củng cố… »

Tags: Giáo-Hội-&-Nhà-Nước, Hòa-bình, Nhân quyền, Phanxicô-I

->Đọc thêm...