
Kế hoặch thành lập chợ trên phố Marywilska cho người buôn bán từ sân vận động Muời năm. Giai đoạn đầu sẽ hoàn tất vào năm sau. Đến năm 2011 hội những người buôn bán muốn xây chợ trên phố Marywilskiej chứa khoảng 1,5 nghìn chỗ theo hình thức hala buôn bán.
Hội những người buôn bán như thông báo ở bài trước đã thắng đấu thầu thuê khu đất 20 ha của thành phố trong 25 năm. Trên khu đất này sẽ mọc lên khu hala buôn bán với tổng số quầy là 3 nghìn chỗ. Mô hình của nó là dạng cửa hàng với diện tích 25 m2, có khả năng nối thông các quầy lại (Tiền thuê cho 25 m2 này cỡ 2 nghìn zł./tháng). Nó sẽ là trung tâm bán buôn và bán lẻ.
Đến cuối tháng 08/09 Họi những người buôn bán sẽ nhận hợp đồng giữ chỗ. Cho một chỗ phải trả 6.000(sáu nghìn) zł. Những người đang buôn bán trên sân vận động sẽ được ưu tiên trước, nhưng cũng khuyến khích những người buôn bán khác - ông phó giám đốc Jarosław Jarosz thông báo như vậy.
Để cho khu đầu tư xúc tiến được Liên doanh cần có ít nhất 1 nghìn người đăng kí, nhưng dân buôn bán trên sân vận động không hào hứng lắm.
Còn chợ hiện nay phần bên phố Zieleniecka thuộc quyền quản lí của hãng Vipol tại thời điểm này cũng hết hạn. Thành phố đang tổ chức đấu thầu cho thuê tiếp, nhưng thời hạn hợp đồng chỉ cho đến hết năm nay 2009.
ivietbao theo PAP đăng tải: 29-07-2009 12:56:02
11.11.09
Chợ sân vận động sẽ về ul. Marywilskiej ?
Autor: conggiao o 09:27 0 komentarze Linki do tego posta
Etykiety: CHIA SẺ
9.11.09
Kỷ niệm 20 năm ngày Bức tường Berlin sụp đổ

Judith Latham
06/11/2009
Ngỏ lời trong một cuộc họp liên đảng tại Quốc hội Hoa Kỳ tuần này, Thủ Tướng Đức Angela Merkel đã kêu gọi Mỹ hãy sát cánh với Đức để cùng vượt qua những “bức tường” của thế kỷ 21. Đương nhiên Bà muốn nói tới Bức tường đã chia cắt nước Đức trong bao nhiêu năm trời, đó là Bức tường Berlin. Bức tường Berlin đã bị phá sập vào ngày 11 tháng 9 năm 1989, cách đây 20 năm, và bà Merkel cám ơn nhân dân Hoa Kỳ đã hỗ trợ cho sự thống nhất nước Đức tiếp theo đó.
Khúc Hoan Ca của Schiller do Beethoven phổ thành Bản Giao Hưởng số 9 quả rất thích hợp để mô tả niềm vui cùng cực sau khi Bức Tường Berlin sụp đổ. Ông Matthias Rueb, trưởng văn phòng nhật báo Frankfurter Allgemeine Zeitung tại Washington, gọi đây là giờ khắc hạnh phúc nhất trong lịch sử Đức. Nhưng ông cũng mô tả chính phản ứng sơ khởi của mình đối với các sự kiện ngày 9 tháng 11 năm 1989 là lạc quan quá mức.
Ông Rueb nói: “Khác với phần lớn những người cùng thế hệ với tôi, tôi vẫn thường đi thăm không những Đông Đức mà cả Đông Âu và Trung Âu nhiều lần khi lục địa này vẫn còn bị chia cắt. Tôi quen nhiều người và chia sẻ niềm vui, niềm hạnh phúc và sự lạc quan của họ. Nhưng rồi sự lạc quan đó đã nhanh chóng phai nhạt. Và tôi hiểu rằng phải mất cả một thế hệ người ta mới vượt qua được sự chia cắt không phải từ bên ngoài mà từ nội tâm. Sự thống nhất phải trả bằng giá rất đắt. Vẫn còn một bức tường dựng lên trong tâm trí, với tất cả những mối xung đột giữa Đông Đức và Tây Đức. Hệ thống chính trị tại Đông Đức hoàn toàn khác biệt với Tây Đức.”
Mặc dù cuộc chuyển thể chính trị rất khó khăn trên khắp các nước thuộc khối Đông Âu, ông Rueb nói một điều thực sự mầu nhiệm đã xảy ra.
“Dù phải thừa nhận là giai đoạn chuyển tiếp vô cùng khó khăn đối với các nước đó, tôi cho rằng đa số mọi người đều đồng ý rằng sự kiện 1989 đã là, và vẫn còn là ‘phép mầu của năm.’ Đó là một phép mầu xảy ra đột nhiên, và ngoại trừ tại Ru-ma-ni, phép mầu đó đã xảy ra một cách êm thắm. Cảm nhận về một cái gì mầu nhiệm và độc đáo xảy tới không khác biệt gì nhiều giữa hiện tại và cách đây 20 năm. Người ta vẫn còn khó mà hiểu nổi, tại sao bỗng dưng cả một hệ thống đã sụp đổ và điều đó diễn ra một cách êm thắm.”
Nhưng theo ký giả Nga Masha Lipman thuộc Viện Carnegie ở Moscow, đối với những người thuộc Liên Xô cũ, những mối xúc động xung quanh sự sụp đổ của Bức Tường Berlin 20 năm trước còn phức tạp hơn nhiều.
Berliners sing and dance on top of the Berlin Wall to celebrate the opening of East-West German borders, 10 Nov 1989
Sự sụp đổ của Bức tường Berlin ngày 9/11/1989 sau gần ba thập kỷ tồn tại đã mở đường cho một nước Đức thống nhất.
Cô Lipman cho rằng: “Khác với Đức, khối Trung Âu và khối Đông Âu, tại Nga sự giải phóng khỏi chủ nghĩa Cộng Sản không được coi như hoàn toàn là điều hay. Sự sụp đổ của chủ nghĩa Cộng Sản tại đây được coi như sự sụp đổ của toàn thể Liên Bang Xô Viết. Nước này vốn là một siêu cường, nay bị mất tầm ảnh hưởng, mất một phần lãnh thổ, và trở nên suy yếu nhiều.”
Nữ ký giả Lipman nhớ lại vào tháng 11 năm 1989, cô đang thực hiện một chuyến viếng thăm ngắn tại Munich và cô đã theo dõi trên màn ảnh truyền hình những chuỗi sự kiện diễn ra tại Berlin.
Cô cho biết: "Vào thời kỳ đó nước Nga đang ở cao điểm của phong trào Đổi Mới Perestroika, và có một sự say mê về tiến trình giải phóng, với sự tiết lộ của cả chuỗi sự kiện về quá khứ của Liên Xô, và những tin tức từ các nước về những cuộc “cách mạng nhung”: sự kiện Bàn Tròn tại Ba Lan và sự sụp đổ Bức tường. Vào thời điểm đó chúng tôi cũng đang ở cùng một tiến trình đó. Thật sự thì người Tổng Bí Thư sau cùng cũng như người Chủ Tịch Nước sau cùng của Liên Xô chính là người giải phóng. Ông cũng thật sự là người đã góp phần vào cuộc giải phóng Trung Âu và Đông Âu."
Ông Timothy Garton Ash, sử gia người Anh, tác giả cuốn Cây đèn Thần: Cuộc Cách Mạng 89 mục kích tại Warsaw, Budapest, Berlin, và Prague đã chứng kiến việc các cuộc cách mạng Trung Âu đã gây ra sự cáo chung của chủ nghĩa Cộng Sản tại châu Âu.
Ông nói: “Tôi cùng nhiều người khác mô tả những diễn tiến tại Ba Lan, Đông Đức và Hung Ga Ri là ‘cách mạng nhung’ - diễn tiến hòa bình. Trong 20 năm, chúng ta đã có một loạt những diễn tiến hòa bình tương tự tại các nước vùng Baltic, Slovakia, Croatia, Serbia, Gruzia, Ukraina, Nam Phi, và riêng Chi Lê với tính cách thương lượng nhiều hơn. Có thể là điều xảy ra vào năm 1989 đã tạo ra một khuôn thức cách mạng mới thay thế cho khuôn thức của các cuộc Cách Mạng Pháp 1789, Cách Mạng Nga 1917 và cuộc Cách Mạng của Cộng Sản Trung Quốc 1949. Khuôn thức 1789 mạnh bạo, không tưởng, và đặt trên cơ sở giai cấp. Khuôn thức cách mạng 1989 không bạo động, không ảo tưởng, không có cơ sở giai cấp, nhưng chỉ xây dựng trên cơ sở liên kết xã hội càng rộng rãi càng tốt. Hình tượng cách mạng 1789 là chiếc máy chém. Hình tượng 1989 là chiếc bàn tròn quanh đó người ta có thể thương lượng.”
Cuốn sách mới nhất của giáo sư Timothy Garton Ash, nhan đề ‘Civil Resistance and Power Politics’ mà ông cùng biên tập với giáo sư Sir Adam Roberts, đồng nghiệp của ông tại Đại học Oxford, đã kể lại về những cuộc đấu tranh bất bạo động từ thời Thánh Gandhi tới nay. Ông Ash ghi nhận rằng giới truyền thông thường đóng vai trò quan yếu trong những sự kiện này.
Giáo sư Ash cho hay: “Điều rất đáng kinh ngạc là trong hầu hết các vụ việc, sự chú ý của báo chí đóng vai trò cấp thiết trong động cơ dynamic của chính các sự kiện, kể cả sự kiện sụp đổ của Bức Tường Berlin. Trong phân nửa các trường hợp này, cái tên được đặt cho các sự kiện, chẳng hạn như ‘cuộc Cách Mạng Nhung’ - thật sự đã được một ký giả nước ngoài đặt ra.”
Ông Ash gợi ý rằng trong vòng 5 năm qua, các chính thể độc đoán chuyên quyền tại Iran, Nga, Belarus và Trung Quốc đã coi ‘cách mạng nhung’, hay là diễn tiến hòa bình, như là một mối đe dọa cho quyền hành của họ và như một âm mưu gây loạn của phương Tây. Nhưng ông nói không phải phương Tây, mà chính là người dân tại chỗ đã tạo ra các sự kiện đó.
http://www.voanews.com/vietnamese/2009-11-06-voa17.cfm
Autor: conggiao o 08:49 0 komentarze Linki do tego posta
Etykiety: CHIA SẺ
2.11.09
XIN ĐƯỢC LÀM THÁNH VÔ DANH
Có lẽ trong suốt cả năm Phụng vụ không có thời điểm nào mà mầu nhiệm hiệp thông được Giáo Hội đề cao một cách sống động khác thường như là thời gian đầu tháng 11 này. Ngày hôm nay, Giáo hội hướng chúng ta về các thánh, tức là Giáo Hội chiến thắng. Ngày mai Giáo Hội hướng chúng ta về các đẳng linh hồn, tức là Giáo Hội đang thanh luyện. Hướng nhìn như thế để cho chúng ta, những người đang sống trong Giáo hội tại thế, tức là Giáo Hội chiến đấu, biết tìm cho mình một hướng đi, để mai sau chúng ta cũng đạt được vinh quang như các thánh mà chúng ta mừng kính hôm nay.
1. Các thánh là những ai ?
Sách khải huyền cho ta câu trả lời : “Các ngài là những người từ đau khổ lớn lao mà đến và đã giặt áo mình trong máu con chiên”. Rõ ràng các thánh không phải là những con người của quá khứ, cũng không phải là những nhân vật thần thiêng, siêu phàm, bẩm sinh đã là thánh, càng không phải là những con người lập dị. Các ngài cũng là những con người như chúng ta, đã giữ đạo, đã sống đạo và đã phản chiếu được sự thánh thiện của Thiên Chúa khi sống triệt để các mối phúc Chúa dạy, tức là “đã giặt áo mình trong máu con chiên”. Các ngài dám sống đức tin, dám dấn thân vì đức tin, dù có phải gặp “đau khổ lớn lao”. Các ngài có thể là những người thuộc gia đình, gia tộc của chúng ta; có khi là những người hàng xóm láng giềng của chúng ta nữa.
Nếu chúng ta được lên trời để thăm các thánh, chắc hẳn chúng ta sẽ không khỏi ngỡ ngàng trước sự đa dạng của các ngài. Các Ngài thuộc đủ bậc đủ hạng (Tông đồ, tử đạo, hiển tu, đồng trinh; là giáo hoàng, giám mục, linh mục, phó tế, giáo dân….), thuộc đủ màu da, tiếng nói, nghề nghiệp, tuổi tác, hoàn cảnh, giới tính… (có thánh già, có thánh trẻ; có thánh nam, có thánh nữ. Có người còn nói là có cả thánh pêđê nữa kìa. Tại sao không ?) Đại đa số các thánh là vô danh. Bởi chưng con số được Giáo hội tôn phong là rất ít. Còn con số chưa được tôn phong là vô cùng lớn, như sách Khải Huyền đã nói : “Tôi thấy một đoàn người thật đông không tài nào đếm nổi, thuộc mọi nước mọi dân và mọi ngôn ngữ” (Kh 7,9). Trong số đó chắc chắn là có những người thân yêu của chúng ta. Chúng ta hãnh diện vì có các ngài cầu bầu cho chúng ta trước tòa Chúa.
2. Sứ điệp ngày Lễ Các Thánh muốn nói điều gì với chúng ta ?
Thiết tưởng ngày lễ Các Thánh muốn nói với chúng ta 2 điều. Thứ nhất, lời mời gọi nên thánh không dành riêng cho một ai, hay một nhóm người nào. Chúng ta thường nghĩ rằng nên thánh là chuyện cao siêu dành cho một thiểu số đặc biệt nào đó, như các đấng, các bậc trong Hội Thánh. Nên thánh không có chuyện độc quyền. Mọi Kitô hữu đều được mời gọi nên thánh, và nên thánh là là bổn phận của hết mọi người chúng ta, như lời Chúa Giêsu đã dạy : “Anh em hãy nên thánh như Cha anh em trên trời là Đấng Thánh”. Thứ hai, nên thánh là bổn phận của hết mọi người. Vì sao? Bởi vì tất cả những ai được lên thiên đàng thì đều là thánh, ít là cũng thánh vô danh. Nói cách khác, muốn lên thiên đàng, phải sống thánh. Mọi Kitô hữu dù sống trong chức phận nào, địa vị nào cũng được mời gọi sống thánh, sống thánh ngay giữa đời. Được lãnh nhận bí tích rửa tội, được làm con cái Chúa, con cái của Giáo hội. Mà con cái Chúa, con cái của Giáo hội là con cái của sự sáng; con cái của sự sáng, nghĩa là phải trở nên thánh.
3. Cách thế nào để nên thánh ?
Tâm lý thường tình ai cũng muốn được phong thánh, nhưng lại sợ, lại ngại sống thánh. Thế nhưng, nên thánh không hệ tại ở nỗ lực sống luân lý, hay tuân giữ lề luật như quan niệm của những người Luật sĩ và Biệt phái Do thái.
Nên thánh là để cho tình yêu chi phối toàn bộ cuộc sống, là ra khỏi cái tôi hẹp hòi ích kỷ của mình để sống hết tình cho Thiên Chúa và sống hết mình cho tha nhân. Nên thánh là luôn lắng nghe tiếng Chúa và nỗ lực đáp trả trong từng giây phút hiện tại. Nên thánh là yêu mến cuộc sống mà Chúa đã tặng ban, là để cho Chúa yêu mình, nắm lấy tay mình dắt mình vào tình yêu diệu huyền của Ngài. Tắt một lời, nên thánh hệ tại ở việc thuộc trọn về Chúa, kết hiệp với Chúa là Đấng Thánh, đồng thời trung thành sống giới răn của Ngài là mến Chúa và yêu người.
Vậy mừng lễ các thánh hôm nay, chúng ta hãy cầu xin với các ngài cầu bầu cùng Chúa cho chúng ta, để chúng ta có thêm sức mạnh và lòng can đảm sống đức tin như các ngài đã sống, hầu mai sau cũng được hưởng vinh phúc với các ngài trên thiên quốc. Amen.
Lm Giuse Nguyễn Thành Long
dacsangiaosivn
Autor: conggiao o 16:51 0 komentarze Linki do tego posta
Etykiety: 06. SUY NIỆM - LỜI CHÚA, 10. SỐNG ĐẠO
30.10.09
Wszystkich Świętych i Dzień zaduszny



Nhiều người khi đến Ba lan, hay những người đã từng sống trên đất nước này sẽ không khỏi ngạc nhiên, vì sao Ba lan có nhiều lễ hội. Gần như các lễ hội ấy đều mang đậm bản sắc văn hóa Ki-tô giáo, nhưng không như thế mà mất hẳn đi bản sắc văn hóa dân tộc. Để hiểu được văn hóa Ba lan, thiết nghĩ rằng cần phải biết về văn hóa Ki-tô giáo. 1000 năm Ki-tô giáo đã để lại trên mảnh đất này nhiều bản sắc văn hóa độc đáo pha trộn lẫn bản sắc văn hóa địa phương, điển hình như lễ Các Thánh, tiếng Ba lan gọi là Wszystkich Świętych. Để biết về phong tục lễ này, trước tiên cũng nên tìm hiểu về nguồn gốc của nó.
Trước hết đây là lễ các Thánh tử đạo. Vào đầu thế kỷ V, Đức giáo hoàng Bonifaciô IV đã nhận từ tay hoàng đế một đền thờ ngoại giáo, đền Panthéon. Được dựng để tôn vinh các thần. Ngài đã biến thành đền thờ dâng kính Đức Trinh Nữ Maria và các thánh tử đạo. Xác các thánh an nghỉ trong các hang toại đạo được chuyển về nhà thờ trong một cuộc lễ huy hoàng. Mỗi năm các tu viện đều nhắc lại kỷ niệm này.
400 năm sau, Đức Giáo hoàng Grêgôriô IV quyết định rằng việc tôn kính long trọng này phải hướng về các thánh nam nữ đã được tôn phong hay chưa được biết đến vì không có sự đặc biệt nào của các Ngài chói sáng trên trần thế, nhưng ý chí và việc làm lành thánh của các Ngài được Thiên Chúa thấu suốt cõi lòng biết đến.
Trong thánh lễ ngày hôm nay, Phúc âm kể ra những người chiếm hữu được hạnh phúc chân thật, những người có tinh thần nghèo khó hiền lành biết thương xót, có lòng trong sạch ăn ở thuận hòa, sẵn sàng bách hại vì sự công chính. Tất cả đều vui sướng vì phần thưởng bội hậu chờ đón họ trên trời. Lễ các thánh là lễ của người muốn nên lành thánh.
LỊCH SỬ
Lễ các thánh nam nữ đã có từ thế kỷ thứ IV. Thánh Ephraim người Syrie và thánh Gioan Kim Khẩu đều biết đến một ngày lễ mừng các thánh tử đạo vào ngày 13.5 hằng năm, hay rõ hơn là Chúa Nhật thứ nhất sau lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống. Lễ này vẫn còn trong lịch sử phụng vụ của Giáo Hội Hy Lạp và được gọi là Chúa nhật chư thánh.
Trong Giáo Hội Tây Phương cũng có một thánh lễ từ thế kỷ thứ VII, lễ toàn thể các thánh tử đạo mừng vào ngày 13.5. Đó là ngày lễ thánh hiến đền Panthéon của Rôma, để Kính Đức Trinh Nữ Maria và toàn thể các thánh tử đạo vào ngày 13.5.609.
Lễ chư thánh (toàn thể các thánh, chứ không dành riêng cho các thánh tử đạo) được mừng vào ngày 1.11 hằng năm, chỉ xuất hiện từ thế kỷ thứ VIII do các thầy Dòng Irland, và Anh Quốc, khi sang truyền giáo ở Âu Châu đã đem theo và trong thời gian ngắn đã phổ biến rộng khắp Âu Châu. (Lm Nguyễn văn Trinh, Phụng vụ chư thánh)
Tiếp theo sau ngày lễ Các Thánh là ngày lễ cầu cho các linh hồn, tiếng ba lan gọi là DZIEŃ ZADUSZNYęłęón.
Theo sách vở ghi lại, thì thánh Odilo (962-1048) là Viện phụ Đan viện Cluny. Đan viện này thời đó nằm trong phần đất của nước Đức. Ngài là người thánh đức, thường cầu nguyện, hy sinh, và dâng lễ cầu cho các linh hồn đã qua đời. Truyện kể rằng: Một hôm, một đan sĩ Dòng ngài đi viếng Đất Thánh Giêrusalem. Trên đường trở về Đan viện Cluny, tàu chở đan sĩ bị bão đánh giạt vào một hòn đảo. Tại đó, đan sĩ gặp một ẩn sĩ và được ẩn sĩ cho biết: "Trên đảo này có nhiều hang lửa, trong hang có nhiều người bị hành hạ, đánh đập. Tôi thường nghe các tên quỷ phàn nàn với nhau về Viện phụ Odilo và các đan sĩ Dòng của ngài rằng: ngày nào họ cũng giải thoát một số linh hồn ra khỏi hang lửa đó. Vì thế, xin thầy về nói với Cha Odilo và các anh em trong Dòng cứ tiếp tục cứu giúp các linh hồn đau khổ. Đó cũng là niềm vui cho các thánh trên Thiên đàng và là sự đau khổ cho quỷ dữ dưới Hoả ngục". Sau khi nghe biết sự việc này, Cha Odilo đã lập lễ Cầu hồn vào ngày 2-11 và trước hết cử hành trong Đan viện Cluny của ngài vào năm 998 (có sách nói năm 1030). Về sau lễ cầu hồn đã được truyền sang nuớc Pháp, và tới giữa thế kỷ X, Đức Giáo hoàng Gioan XIV đã lập lễ Cầu hồn trong Giáo hội Rôma.
Ngày lễ cầu cho các linh hồn được lưu truyền vào Ba lan từ thế kỷ thứ 12, nhưng mãi đến cuối thế kỷ 15 mới phổ biến trên khắp đất nước. Theo truyền thống văn hóa Ba lan, ngày 1 tháng 11 là ngày rất quan trọng để tưởng nhớ đến người quá cố. Vào các ngày trước của lễ này, nhiều gia đình đi thăm viếng nghĩa trang, vun lại những nấm mồ, làm cỏ, sửa sang , tu bổ phần mộ những người quá cố trong gia đình, và cả những phần mộ của các vị tổ tiên nhiều đời trước đó. Tương tự như ngày lễ Thanh Minh hay Ngày Tảo Mộ trước Tết trong văn hóa Á Ðông.
Tại Ba lan, ngày 1 và 2 tháng 11 không chỉ là ngày nghỉ của người Công giáo, mà cũng là ngày nghỉ của quốc gia. Ngày tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ và những chiến sĩ vô danh đã hy sinh vì tổ quốc. Đối với người Công giáo, thì từ buổi chiều sau thánh lễ Các Thánh được cử hành tại nhà thờ, mọi người trong giáo xứ đạo kéo nhau ra nghĩa trang, vừa đi vừa hát để cầu nguyện cho ông bà, cha mẹ, và người thân của mình. Bầu khí tại các nghĩa trang hôm nay khác hẳn như thường, cảnh người lớn trẻ em tấp nập ra vào rất vui vẻ, người ta dự lễ và xin lễ rất nhiều để cầu cho Tổ tiên, Ông bà, cha mẹ sớm về hưởng Nhan Thánh Chúa.
Phong tục thờ cúng “người chết” của người Ba lan là một phong tục cổ, xuất phát từ tín ngưỡng dân gian của người Sla-vơ (Đông âu). Cho đến mãi thế kỷ thứ 19, ở niềm Đông Ba lan, người ta đã tìm thấy những hình thức “cúng” thức ăn và đồ uống cho người chết, như là; bánh mì, bánh ngọt, kiebasa, mật ong, rượu...Theo tín ngưỡng cổ, người Ba lan tin rằng; chết chưa phải là hết, nhưng linh hồn vẫn còn lui tới hưởng dùng các thức ăn, và phù hộ cho con cháu.
Tại miền quê Ba lan, người ta kể: nửa đêm Lễ Cầu hồn, người ta thắp điện sáng cả nhà thờ, để các linh hồn trong xứ đạo đã qua đời về quanh bàn thờ cầu ơn giải thoát khỏi luyện ngục. Người ta nói là, sau đó trở lại thăm lại nhà mình, thăm nơi mình quen thuộc, làm việc mình đã làm khi còn sống. Và để đón tiếp những linh hồn này, người ta để cửa sổ mở suốt đêm mồng 2.
Ngày nay hình thức „cúng thức ăn” không còn nữa, nhưng thay vào đó là; đặt những chậu hoa, thắp những ngọn nến trên phần mộ, cầu nguyện cho ông bà tổ tiên là để nối tiếp truyền thống cổ xưa ấy. Ngoài ra tục viếng mồ tổ tiên là nét đặt trưng cổ truyền của văn hóa Ba lan. Dù tất bật thế nào đi chăng nữa trong cuộc sống mưu sinh, dù cả năm bôn ba làm ăn ở nơi xa, nhưng chốn quay về vẫn là gia đình. Nhiều gia đình người Ba lan cho rằng dịp lễ này cũng là dịp giãi bày tâm sự với ông bà tổ tiên và là dịp đoàn tụ gia đình. Nhiều nơi còn có thói quen làm tuần cửu nhật (chín ngày) để cầu nguyện cho các linh hồn.
Người Ba lan không có bàn thờ tổ tiên trong nhà như người Việt ta, không còn hình thức cúng bái, mâm cổ, vào các ngày giỗ hay ngày Tết, nhưng không hẳn như vậy mà họ thiếu đi tinh thần hiếu thảo đối với ông bà tổ tiên. Việc hiếu thảo của họ thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau như là: xin lễ, tham dự thánh lễ và cầu nguyện cho ông bà cha mẹ, những người thân đã ly trần và làm việc lành phúc đức để cứu rỗi các linh hồn.
Thương nhớ người quá cố, nhất là cha mẹ, anh chị em trong gia đình là chuyện tự nhiên của con người. Ao ước cho người thân mình được "nghỉ yên muôn đời trong nơi mát mẻ hạnh phúc" cũng là tâm lý thông thường. Do đó, việc cầu cho người thân đã qua đời là việc cần thiết, vừa cho linh hồn người chết được cứu thoát khỏi Luyện ngục, vừa cho người sống được tỏ lòng hiếu thảo đền ơn. Những điều trên không những hợp lòng người, mà còn hợp giáo lý trong đạo.
Lễ Các Thánh Nam Nữ 2009
Łukasz Vũ, SVD
Autor: conggiao o 23:27 0 komentarze Linki do tego posta
Etykiety: 10. SỐNG ĐẠO, 12. PHONG TỤC BALAN
Tháng Cầu cho Các Linh hồn Luyện ngục (Tháng Cầu hồn)

1. Có Luyệnngục thật không???
Trước khi nói tới việc cứu các LH Luyện ngục, cần biết chắc có LN không?
1- Tiếng gốc Latin "Pugare" nghĩa là Rửa sạch. Theo ngôn ngữ GHCG ,LN là một tình trạng linh hồn phải chịu phạt tạm thời, vì còn những tội nhẹ, hay khi sống chưa đền tội đủ...(New Catholic Dictionnary-Purgatory)
2- Theo tâm lí chung của con người:
Khi cha mẹ, vợ chồng, anh chị em, họ hàng, bạn hữu ta qua đời, ai lại không muốn các ngài được siêu thoát, được sống trong nơi hạnh phúc, mát mẻ, an nhàn. (Người CG gọi nơi hạnh phúc là Thiên đàng muôn đời). Nhưng nếu các ngài chưa đáng được vào nơi hạnh phúc Thiên đàng ấy, nếu các ngài chưa thanh sạch để vào gặp Chúa thanh sạch vô cùng, nếu các ngài chưa thánh thiện để vào gặp Chúa thánh thiện vô cùng, tự các ngài sẽ muốn có một thời gian, một nơi để tẩy luyện, để chuẩn bị gặp Chúa.
Đàng khác, bởi con người yếu đuối lầm lỗi, ta không dám nghĩ rằng, người thân yêu của ta sẽ được lên Thiên đàng ngay. Nhưng ta cũng không muốn nghĩ rằng người thân yêu của ta đã làm điều gian ác đến nỗi phải vào Hỏa ngục, nếu suốt đời đã cố gắng giữ đạo Chúa. Vậy, chúng ta muốn có nơi cho người quá cố được nên thanh sạch, để đền tội. Nơi đó người Công giáo gọi là Luyện ngục (Purgatory).
3- Theo giáo lý đạo Công giáo:
Giáo lý đạo CG từ trước tới nay vẫn dạy: "Có Luyện ngục". Sách Giáo lý GHCG (Đức GH Gioan Phaolô 2 ban hành năm 1992) xác định: "Những ai chết trong ân sủng và tình nghĩa Thiên Chúa, nhưng chưa được thanh tẩy cách trọn vẹn, thì tuy được bảo đảm về ơn cứu độ muôn đời của mình, vẫn phải chịu một sự thanh luyện sau khi chết, hầu đạt được sự thánh thiện cần thiết để bước vào niềm vui Thiên đàng" (GLGHCG 92, Số 1030).
Ai muốn tìm hiểu thêm về Giáo lý, Giáo phụ, Kinh thánh Tân ước, Cựu ước đề cập đến Luyện ngục, mời đọc bài tiếp đây: click
(Lm. Mark Đoàn Quang, CMC)
(theoxuanha)
Autor: conggiao o 09:52 0 komentarze Linki do tego posta
Etykiety: 10. SỐNG ĐẠO
29.10.09
Giáp mặt 'Người Rơm'
Christine Nguyễn
Ký giả tự do
Một buổi chiều cuối tháng 10 chúng tôi đến rừng Grande Synth, cách thị trấn Téteghem bắc nước Pháp khoảng 10 km.
Men theo con đường mòn bé tí quanh co chìm sâu trong rừng và ngập sũng bùn đen, ít phút chúng tôi gặp được nhóm khoảng 10 “người rơm” đầu tiên.
Cần nói rõ, Grande Synthe chỉ là một trong số những khu rừng có người Việt nhập cư lậu ẩn nấp quanh cảng Calais chờ cơ hội đi lậu sang nước Anh.
Một người đầu tiên tôi bắt chuyện là một phụ nữ trên 30 tuổi, nói giọng Quảng Ninh, người đã “nhảy bãi” đến lần thứ sáu vẫn chưa thành công.
Theo lời kể, chị đã sống ở Praha gần 4 năm, sau đấy do việc làm ăn ngày càng khó khăn, chị quyết định gửi đứa con gái 6 tuổi về Việt Nam cho ông bà và đi chui đến Anh vì nghe nói “ở đấy dễ kiếm tiền hơn”.
Khi hỏi đến giấy tờ tùy thân và ảnh của con gái thì chị trả lời thật gọn: “Em xé bỏ hết trước khi đi rồi”.
Câu trả lời này là “nhất quán” ở mọi người đi lậu: không giấy tờ, không hình ảnh, không bất cứ một bằng chứng nào về xuất xứ nhân thân của mình. Cũng vì thế mà họ được gọi bằng một cái tên rất ấn tượng: “người rơm”.
“Các anh thanh niên ở đây cả tháng mới may ra được tắm một lần. Còn em là phụ nữ nên mỗi tối đều phải nấu nước để rửa ráy, nhưng cũng không nhiều. Ai cũng bị bệnh ngoài da hết chị ạ,” chị nói.
Chị cho biết việc ăn uống chủ yếu là nhờ vào thực phẩm cứu trợ nhân đạo do dân bản xứ và một số nhóm hoạt động từ thiện mang đến.
'Sổ đỏ'
Được biết mặc dù chính phủ Pháp đã có lệnh giải tỏa trắng để kết thúc nạn di dân lậu tập trung ở các cánh rừng xung quanh cảng Calais chờ trốn sang Anh, nhưng các hoạt động cứu trợ nhân đạo tại các địa phương vẫn được tiến hành, thậm chí có nơi còn khá quy mô.
Chia tay với nhóm người rơm này, chúng tôi tiếp tục len lỏi theo một đường mòn và gặp một nhóm nhỏ người rơm khác.
Người đàn ông gốc Thanh Hóa khoảng gần 60 tuổi đang ngồi hong chân bên một bếp lửa dã chiến. Chứng thấp khớp làm các khớp xương chân trái của ông sưng tấy vì thời tiết khắc nghiệt của rừng ôn đới vào đông. Tôi hỏi ông có thuốc men gì không, ông đưa cho tôi xem các loại thuốc giảm đau của hội từ thiện phát cho.
Họ tìm đến châu Âu với giấc mơ đổi đời
Khuôn mặt ông đầy vẻ căng thẳng, lo lắng vì thời gian ở rừng đã lâu, nhảy bãi nhiều lần mà vẫn không thành công.
Tôi đùa “nhảy bãi mãi thì cũng sẽ có lần thành công, lo gì”. Ông thể hiện ngay sự bực tức với người không hiểu chuyện và cho biết để có tiền đóng cho chuyến đi này ông đã phải thế chấp 5 cái “sổ đỏ” cho ngân hàng và hạn kỳ để chuộc lại sổ đã gần kề.
Ông đồng ý cho tôi chụp ảnh, nhưng khi tôi hỏi có muốn tôi giúp gửi những tấm ảnh này về nhà ở Việt Nam không thì ông bật khóc và giải thích rằng không muốn cho hai người con gái, 11 tuổi và 20 tuổi thấy cuộc sống thê thảm hiện tại của ông vì sợ “chúng nó không chịu đựng nổi”.
'Suýt chết đói'
Chúng tôi tiến sâu hơn nữa vào rừng với đường đi ngày càng lắt léo hơn.
Mười phút sau, một nhóm lán trại hiện ra giữa rừng sâu. Khoảng gần 30 người rơm mới đến trú chân tại đây vừa được 3 ngày.
Đa phần là người Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình, một số ít là người Đắc Lắc, Quảng Ninh.
Tất cả họ, liều chết sang Anh với một niềm tin tuyệt đối là chỉ sau 2, 3 tháng làm việc ở Anh.
Một thanh niên ở Đắc Lắc với khuôn mặt hốc hác, đôi mắt trũng sâu cho tôi biết hành trình nhảy xe đi đường bộ từ Nga sang đến đây anh suýt chết đói dọc đường mấy lần.
Mấy người trong nhóm nói rằng có một nhóm người rơm nữa đóng lán trại không xa chỗ họ bao nhiêu, “nhưng họ xấu lắm, không chơi được”, anh thanh niên Đắc Lắc nói.
Được biết có rất nhiều nhóm người trong khu rừng Grande Synthe này hoạt động biệt lập nhau, theo lối “nước sông không phạm nước giếng”.
Đa số họ đi đường hàng không sang Nga, một số khác đi sang Trung Quốc để sau đấy sang Nga, và từ Nga họ bắt đầu thân phận “người rơm”, không giấy tờ tùy thân, sử dụng đường bộ bằng mọi cách tập kết đến các khu rừng xung quanh cảng Calais tìm cơ hội đi chui sang Anh quốc.
Tất cả họ, liều chết sang Anh với một niềm tin tuyệt đối là chỉ sau 2, 3 tháng làm việc ở Anh, họ có thể chuộc được các sổ đỏ đang thế chấp ở ngân hàng, hoặc trả hết nợ nần vay mượn và sau đấy là một cơ hội “đổi đời” to tát sẽ đến với gia đình họ, thậm chí là cả dòng họ của họ.
'Thuế thân'
Một phụ nữ người Nghệ An ở tuổi 50 khi được tôi cho biết thu nhập của một cư dân hợp pháp không trình độ làm nghề giữ trẻ hoặc trông nom người già trung bình khoảng 1 nghìn euro một tháng đã buộc miệng kêu lên “Sao ít thế?”
Chị cho biết là được hứa hẹn sang đến đấy sẽ có công việc, với thu nhập “5 nghìn euro mỗi tháng và còn được bao ăn ở!”
Thế nhưng khi được hỏi cụ thể họ sẽ làm những công việc gì, đa phần là những câu trả lời quanh co như đi giữ trẻ, làm nhà hàng…
Chỉ có một số ít hoặc “bạo miệng”, hoặc đang quá bi quan trước thực tế gần như không lối thoát thì nói thẳng là “đi trồng cỏ.”
Có lẽ tôi tạm kết thúc chuyện về những người rơm ở đây bằng một câu chuyện kể của một phụ nữ Nghệ An khác.
Bằng một giọng nói vô hồn, người phụ nữ này cho biết đã phải đóng “thuế thân” dọc đường cho nhiều gã, Việt có, gốc Ảrập có vì “nếu không như thế, mình sẽ không được đi tiếp”.
Phải chăng đấy là một trong những cái giá phải trả cho thân phận “người rơm” với giấc mộng đổi đời?
(theobbc)
Autor: conggiao o 13:59 0 komentarze Linki do tego posta
Etykiety: CHIA SẺ
26.10.09
XEM LỄ TRÊN TIVI
Chú Hai là người nổi tiếng lười đi lễ và thích xem đá bóng. Khi chết, chú lên cửa thiên đàng gặp thánh Phêrô. Vừa thấy chú, thánh Phêrô nói:
- Đợi một chút, ta xem sổ coi. Ừ, sao không thấy chú đi lễ Chúa nhật vậy?
Chú Hai:
- Thưa thánh Phêrô, vì ở xa nhà thờ quá nên Chúa nhật nào con cũng xem lễ trên tivi.
Thánh Phêrô đáp:
- Chú thích xem tivi quá ha, vậy chú vào phòng kế bế bên lãnh một cái tivi màu hiệu Sony, màn ảnh vĩ tuyến, âm thanh nổi 4 chiều.
Chú Hai mừng quá vì ở trần gian đâu có tiền mua nổi tivi màn ảnh vĩ tuyến như thế. Đi vài bước, bỗng chú quay lại hỏi:
- Thưa thánh Phêrô, tivi lớn như thế là để coi cái gì ạ.
Thánh Phêrô:
- Còn hỏi nữa, để mang xuống hỏa ngục coi cảnh trên thiên đàng.
Chú Hai: ???!!!
(st)
Autor: conggiao o 16:49 0 komentarze Linki do tego posta
Etykiety: 15. THƯ GIÃN
Khi ta gửi đi một nụ cười

Hoa Mộc Lan
(nghethuatsong.biz) - Cô gái cười với một người xa lạ rầu rĩ, nụ cười làm cho anh ta cảm thấy phấn chấn hơn.
Anh nhớ đến sự tử tế của một người bạn cũ và viết cho người ấy một lá thư cảm ơn.
Người bạn này vui sướng vì nhận được thư của người bạn cũ lâu ngày không gặp đến nỗi, sau bữa trưa anh boa một món tiền lớn cho chị hầu bàn.
Chị hầu bàn ngạc nhiên vì món tiền boa quá lớn, đã quyết định mang tất cả đi mua xổ số. Và trúng số.
Ngày hôm sau chị đi nhận giải và cho một người ăn mày trên phố một ít tiền lẻ.
Người ăn mày rất biết ơn vì đã hai ngày nay anh ta chẳng được ăn gì.
Sau bữa tối anh ta trở về căn phòng tối tăm của mình.
Trên đường về, anh ta thấy một chú chó con đang rét run cầm cập, anh mang nó về để sưởi ấm cho nó.
Chú chó rất vui mừng vì được cứu khỏi cơn bão tuyết sắp đến gần.
Ðêm ấy, trong khi mọi người đang ngủ say thì ngôi nhà bốc cháy, chú chó con sủa róng riết.
Chú sủa cho đến khi đánh thức tất cả mọi người trong nhà dậy và cứu tất cả mọi người thoát chết.
Một trong những chú bé được cứu thoát đêm ấy sau này trở thành bác sĩ tìm ra một loại vắc-xin chữa khỏi một căn bệnh vô cùng nguy hiểm cho loài người.
Tất cả là nhờ một nụ cười.
Autor: conggiao o 12:27 0 komentarze Linki do tego posta
Etykiety: 10. SỐNG ĐẠO, CHIA SẺ
CHUYỆN CHO VỢ CHỒNG
Tình yêu của những con người bình thường sẽ thắp sáng thế giới.
Chồng chị là một kỹ sư giỏi, chị yêu anh vì sự vững chãi, chín chắn của anh, chị yêu cái cảm giác ấm áp mà chị có mỗi khi chị tựa đầu vào vai anh. Và sau 3 năm tìm hiểu, anh chị đã đi đến hôn nhân.
Nhưng đến hôm nay, sau hai năm là vợ chồng, chị bỗng thấy mệt mỏi với những cảm giác mà chị phải trải qua khi chung sống với anh.
Những lý do khiến chị yêu anh trước đây, bỗng biến thành những lý do tạo nên sự đổi thay trong chị. Chị là một phụ nữ nhạy cảm, và rất dễ bị thương tổn trong tình yêu, chị luôn khao khát những khoảnh khắc lãng mạn, giống như là bé gái nhỏ thèm khát kẹo ngọt. Nhưng anh lại trái ngược với chị, anh không có sự nhạy cảm, và hoàn toàn không quan tâm đến những khoảnh khắc lãng mạn trong cuộc sống vợ chồng, điều này đã làm cho chị càng chán nản hơn.
Và chuyện gì đến phải đến, một hôm chị quyết định cho anh biết rằng chị muốn ly dị, rằng chị không thể chung sống với anh thêm một giờ phút nào nữa. Rất bất ngờ khi nghe chị yêu cầu như thế, anh chỉ biết hỏi “Tại sao”?. “Em cảm thấy mệt mỏi, không có lý do nào cho mọi thứ trên thế gian này!” - chị trả lời. Anh không nói gì thêm nữa, nhưng suốt đêm đó, anh không ngủ, và chìm sâu vào những ưu tư, khắc khoải với ánh sáng lập lòe của điếu thuốc gắn trên môi. Sự im lặng của anh càng làm cho cảm giác thất vọng trong chị tăng lên, đấy là một người đàn ông không thể biểu lộ gì ngay cả lúc gặp tình huống khó khăn như lúc này, còn gì nữa để mà chị hy vọng ở anh?
Cuối cùng rồi anh cũng lên tiếng, anh hỏi chị: “Anh có thể làm gì để thay đổi ý định của em?”. Ai đó đã nói đúng: “Rất khó khăn để thay đổi tính cánh của một con người”, và chị nghĩ rằng chị không thể nào thay đổi cách sống của anh. Nhìn sâu vào mắt anh, chị chậm rãi trả lời: “Đây chính là câu hỏi, nếu câu trả lời của anh có thể thuyết phục em, em sẽ thay đổi ý định. Nếu em nói, em muốn bông hoa ở phía bên kia vách núi, và cả hai chúng ta đều biết rằng khi anh cố hái bông hoa đó cho em thì anh sẽ chết, anh có vẫn cố làm cho em hài lòng chứ?”. Anh ngần ngừ đáp: “Ngày mai anh sẽ trả lời câu hỏi của em…”. Những hy vọng của chị hoàn toàn bị chìm xuống khi nghe câu trả lời của anh.
Sáng hôm sau, chị tỉnh giấc và nhận ra anh đã đi rồi. Chị nhìn thấy một mảnh giấy với dòng chữ ngoệch ngoạc của anh, được dằn dưới ly nước, trên chiếc bàn ăn gần cửa…. và chị bắt đầu đọc.
“Em yêu,
Anh sẽ không thể nào hái bông hoa đó cho em, nhưng hãy cho anh giải thích những lý do mà anh không thể”.
Ngay những dòng đầu đã làm tan nát trái tim chị, chị tiếp tục đọc.
“…Khi em sử dụng máy vi tính, anh luôn sắp xếp phần mềm cho em dễ sử dụng, và khi em kêu lên trước màn hình khi có sự cố, anh luôn chuẩn bị những ngón tay để có thể giúp em phục hồi lại những chương trình.
Em thường bỏ quên chìa khóa cửa, nên anh luôn chuẩn bị đôi chân để sẵn sàng chạy về mở cửa cho em.
Em rất thích đi du lịch, nhưng lại thường hay bị lạc đường trong những thành phố xa lạ, nên anh phải chuẩn bị đôi mắt của mình để chỉ đường về cho em.
Em thường đau bụng trong mỗi lần gần đến tháng, nên anh luôn chuẩn bị lòng bàn tay mình để sẵn sàng xoa bụng cho em để em dịu cơn đau.
Khi thấy em luôn thích ở nhà, anh lo rằng em sẽ có thể bị mắc bệnh tự kỷ, vì thế anh phải luôn pha trò và chuẩn bị những câu chuyện vui để em quên đi nỗi buồn chán.
Khi em luôn chăm chú vào màn hình vi tính, anh sợ như vậy sẽ có hại cho đôi mắt của em, nên anh phải để dành đôi mắt của mình để khi chúng ta già, anh sẽ có thể giúp cắt móng tay, và nhổ những sợi tóc bạc cho em. Anh có thể nắm bàn tay em đi tản bộ trên bãi biển, để em thưởng thức cảnh mặt trời mọc và bãi cát xinh đẹp… và anh sẽ cho em biết rằng màu sắc của những bông hoa cũng rực rỡ như gương mặt tươi tắn của em…
Vì vậy, em yêu, trừ phi em chắc chắn rằng có ai đó yêu em hơn anh đã yêu em… nên bây giờ anh không thể hái bông hoa đó cho em, và chết….”
Nước mắt của chị không ngừng rơi trên trang giấy, làm nhạt nhòa những dòng chữ của anh… Chị đọc tiếp: “…Bây giờ, nếu em cảm thấy hài lòng thì hãy mở cửa ra, vì anh đang đứng đó với bánh mì và sữa tươi cho buổi sáng của em, những món ăn mà em thích…”.
Chị lao đến cửa và mở tung nó ra, trông thấy anh với gương mặt lo lắng, chị nắm chặt tay anh, cùng với ổ bánh mì và chai sữa, bây giờ chị biết chắc rằng không có ai yêu chị như anh đã yêu chị, và chị quyết định quên đi bông hoa ở bên kia vách núi…
Khi được sống trong sự đầy đủ, dư thừa của tình yêu, thì cái cảm giác sôi nổi trong tình yêu thường bị khô héo đi, và người ta không còn có thể nhận thức được đâu là tình yêu chân thật và đâu là tình yêu giả dối, giữa cảm giác bình yên và buồn chán đó
nghethuatsong.biz
Autor: conggiao o 12:13 0 komentarze Linki do tego posta
Etykiety: CHIA SẺ
22.10.09
Cho con ngồi ở giảng đường
Có một cô gái ngày ngày đến giảng đường như bao bạn học khác, không hề biết rằng ngoài kia, người cha của mình đang miệt mài đạp xe rong ruổi khắp hang cùng ngõ hẻm bán dạo...
Cũng có một người mẹ gầy ngày đêm tảo tần với gánh hàng rong oằn trên đôi vai...
Tất cả những lo âu mưu sinh vất vả, chỉ để con được yên tâm ngồi trên giảng đường.
Giấu con, ba đi bán dạo
Làng Đại học Thủ Đức đã quen thuộc với hình ảnh một người đàn ông gầy còm, thấp bé cùng chiếc xe đạp dạo bán hàng rong ngày ngày. Hỏi gia cảnh mới biết ông là dân lao động nhập cư vào thành phố mưu sinh lấy tiền nuôi con gái học đại học.
Nói về cô con gái, ông quệt giọt mồ hôi nhễ nhại trên gương mặt khắc khổ kể giọng đầy tự hào: "Nó tên Trinh, học Trường ĐH Nông Lâm. Cả họ tôi có mình cháu nó là đậu đại học….".
Ông tên Tư, quê ở một huyện miền núi của tỉnh Quảng Trị, vùng quê nghèo quanh năm nắng gió khắc nghiệt. Vốn chỉ có một cô con gái duy nhất nên ông bà dành hết tình yêu và hy vọng cho con.
Không phụ lòng cha mẹ, tin báo đậu đại học của Trinh đến như một giấc mơ làm xôn xao cả làng quê nghèo yên ả. Ông Tư bồi hồi kể: "Cả nhà tôi hai bên nội ngoại đều ít học. Thật may là cháu nó ham học từ nhỏ. Có nhiều lúc nó định bỏ học vì thấy bố mẹ vất vả quá, tôi cứ phải động viên…".
Ngày trúng tuyển, khi bà con hàng xóm kéo đến chia vui, ông bà nhìn nhau lo lắng: "Lấy tiền đâu nuôi con ăn học 4 năm". Hiểu được nỗi lo của cha mẹ, Trinh định không nhập học. Thế nhưng người cha đã một lần nữa động viên con: "Tôi nói dối cháu là bố sẽ vào đó làm công cho một người bà con xa trong thành phố".
Hành trang hai cha con lên đường nhập học chỉ là vài trăm ngàn đồng trong túi. "Tôi không biết có lo liệu đủ tiền cho con ăn học không nhưng tôi vẫn phải đi với suy nghĩ: bằng mọi giá phải kiếm tiền nuôi con học. Làm bất cứ việc gì cũng được, miễn là không phạm pháp".
Suốt một tuần lang thang, đi đến đâu ông cũng bị lắc đầu từ chối vì người ta chê ông tuổi già. Tình cờ, ông gặp một người đồng hương bán dạo và được người này hướng dẫn. Từ đó, ông thuê trọ ở Khu công nghiệp Sóng Thần (Bình Dương) và bắt đầu hành trình bán dạo mắt kính và móc khóa, kiếm tiền nuôi con học.
Để con yên tâm học và không xấu hổ cùng bạn bè, ông giấu kín nghề mình đang làm. "Thỉnh thoảng, tôi có ghé khu vực Làng Đại học này bán hàng để nhìn con đỡ nhớ nhưng rồi gần giáp mặt cháu tôi lại không dám kêu vì sợ cháu mắc cỡ với bạn bè. Tôi dự tính làm nghề này đến khi nào cháu ra trường thì về quê. Khó khăn cực nhọc mấy tôi cũng không sợ, chỉ sợ trời không cho tôi sức khỏe để làm lấy tiền nuôi cháu ăn học…".
Người cha nghèo quệt giọt mồ hôi rồi gật đầu chào tôi để kịp đi bán trước khi trời tối. Hình ảnh người đàn ông gầy còm đen xạm cùng chiếc xe đạp cọc cạch nhỏ bé dần trong dòng người đông đúc trước cổng Làng Đại học.
Ở giảng đường, giờ này, có lẽ Trinh cũng vừa tan lớp. Cô bạn trẻ hồn nhiên đi cạnh bạn bè, vui chơi, học tập không biết rằng ngoài kia, cha mình đang rong ruổi cùng chiếc xe đạp, những mong bán được nhiều hơn chiếc móc khóa hay một đôi kính, để có thêm tiền gửi cho con.
Lên phố ở trọ cùng con
Bạn bè trong lớp vẫn quen với khuôn mặt hay cười của Hồ Thị Hà Khánh, sinh viên Trường CĐ Du lịch Sài Gòn. Thế nhưng, ít ai biết đằng sau nụ cười trong trẻo ấy là nỗi buồn lặng lẽ.
Để có được những phút giây trên giảng đường, cha mẹ Khánh đã phải hy sinh rất nhiều. Nếu đi dọc đường Kha Vạn Cân, thấy bóng dáng một người phụ nữ quẩy gánh hàng rong cùng tiếng rao đều đặn "Ai bún xào… bánh ướt!…" thì đó là mẹ của Hà Khánh.
Rời vùng quê Đức Phổ (Quảng Ngãi), Hà Khánh và chị gái vào học ở hai trường cao đẳng ở thành phố. Cha mẹ cũng cùng hai cô con gái lặn lội vào thành phố mưu sinh.
Căn phòng trọ 12 mét vuông trở thành chỗ trú ngụ cho 4 người. Hà Khánh ngậm ngùi: "Hằng ngày, mẹ Khánh phải dậy sớm từ 3h, chuẩn bị mọi thứ xong xuôi là quảy đi bán. Khoảng 3h chiều mới về. Bố chạy xe ôm ở cầu Ông Dầu. Những ngày bố chạy xe ôm, mấy mẹ con lo lắm vì bố quá hiền lành. Có lần bị côn đồ trấn xe, bố bị thương ở chân, mấy mẹ con chỉ biết ôm nhau khóc…".
Ngày ấy, đôi quang gánh oằn trĩu hai vai đi khắp hang cùng ngõ hẻm khiến mẹ Hà Khánh mắc chứng viêm khớp. Nhiều đêm, nhìn mẹ không ngủ được vì đau nhức, cô bạn chỉ biết tự nhủ mình sẽ cố gắng học thật giỏi, sau này đi làm có tiền, đỡ đần lại cha mẹ. Cũng có hôm không phải lên lớp, hai chị em ra phụ mẹ gánh hàng bán. "Có phụ mẹ bán hàng mới thấm thía hết nỗi cơ cực mà mẹ phải chịu mỗi ngày!" - Khánh tâm sự.
Kể về những ngày tháng vất vả "theo con lên giảng đường", cô Hồng - mẹ Hà Khánh - nói cười vui vẻ như tất cả những gì đang trải qua chẳng có gì là gánh nặng: "Những ngày đầu, tôi còn làm bốc vác nữa đấy. Cực lắm và không đủ sức nên chuyển qua bán rau quả, một thời gian thì chuyển qua bán đồ ăn sáng. Tuy cũng vất vả nhưng có tiền cho hai đứa ăn học.
Đến bây giờ, các con đã tìm cách đổi đôi quang gánh thành chiếc xe đẩy cho tôi. Nhờ chiếc xe, tôi cũng đỡ mệt nhiều, đi được xa hơn, bán được nhiều hơn. Tôi với ông chồng có vất vả mấy cũng phải gắng sức, nuôi con ăn học bằng người!". Nụ cười của người mẹ nghèo rạng ngời trên khuôn mặt sạm đen.
***
Trong lòng những sinh viên như Trinh, Khánh… có cuộc sống đầy niềm vui trên giảng đường và một cuộc sống cảm động phía sau giảng đường - nơi có những người cha, người mẹ nghèo đang vất vả mưu sinh để được đồng hành cùng con trong hành trình kiếm tìm tri thức. Hai cuộc sống ngỡ chừng tương phản, nhưng lại là những mảnh ghép tuyệt vời cho cuộc đời và tình yêu thương. Không phải cổ tích, mà vẫn đâu đây rất thật giữa đời thường…
Theo Văn Tiệp, Thủy Nguyên
Sinh Viên Việt Nam
http://dantri.com.vn/c25/s25-357564/cho-con-ngoi-o-giang-duong.htm
Autor: conggiao o 08:49 0 komentarze Linki do tego posta
Etykiety: CHIA SẺ
19.10.09
Sao phải hét khi giận dữ?

(Dân trí) - Có Vị Thánh đang đi du ngoạn trên dòng sông thì thấy một gia đình trên bờ sông la hét với nhau đầy giận dữ. Ông liền quay lại những người học trò của mình, khẽ mỉm cười hỏi: “Tại sao con người khi giận dữ lại hét lên với nhau?”.
Khi bạn tranh luận, đừng tạo khoảng cách giữa hai trái tim.
Những người học trò ngẫm nghĩ một lát rồi một trong số họ lên tiếng: “Bởi vì chúng ta mất bình tĩnh nên phải hét lên với nhau”.
Vị Thánh lại tiếp tục: “Nhưng tại sao lại phải hét lên với người bên cạnh trong khi bạn có thể nói những suy nghĩ của mình một cách mềm mỏng hơn?”.
Những người học trò khác cũng đưa ra một vài lời giải thích nhưng không ai có câu trả lời làm hài lòng Vị Thánh cả. Cuối cùng Vị Thánh bèn giải thích:
“Khi hai người giận dữ với nhau thì trái tim họ có một khoảng cách rất lớn. Vì khoảng cách đó, họ phải hét lên để có thể nghe thấy nhau nói. Và khi họ càng giận dữ, khoảng cách lại càng lớn nên càng phải hét thật to.
Vậy điều gì xảy ra khi hai người đang yêu nhau? Họ không hề kêu la với nhau mà ngược lại, nói chuyện nhỏ nhẹ và tình cảm. Bởi vì trái tim của họ đang rất gần nhau. Khoảng cách giữa hai người là không tồn tại hoặc rất nhỏ...”.
Vị Thánh tiếp tục mỉm cười: “Và khi họ yêu thương nhau nhiều hơn nữa, tình cảm rất sâu đậm thì chuyện gì sẽ xảy ra? Họ không nói, chỉ thì thầm, họ thậm chí còn gần sát nhau trong tình yêu như một sự hòa quyện và là một khối thống nhất. Cuối cùng họ thậm chí không cần phải thì thầm, chỉ nhìn nhau và đó là tất cả”.
Khi bạn tranh luận với ai, đừng làm trái tim mình hình thành khoảng cách. Cũng đừng làm tổn thương trái tim người đối diện, bởi sẽ có một ngày khoảng giữa hai người trở lên rất lớn, tới mức không thể quay về được với nhau.
Minh Anh
Theo SS
Autor: conggiao o 09:04 0 komentarze Linki do tego posta
Etykiety: 10. SỐNG ĐẠO
