CLICK HERE FOR THOUSANDS OF FREE BLOGGER TEMPLATES »
“Hỡi anh em, ta hãy trung tín cùng Đức Chúa Trời cho đến chết ; cho đến chết, không một điều gì có thể dập tắt lòng thương mến Chúa Giêsu Kitô trong trái tim ta" (Những lời sau cùng của Chân Phước Anrê Phú Yên)

7.10.14

Những bản hòa tấu đàn bầu hay nhất của Phạm Đức Thành

->Đọc thêm...

5.10.14

Trí tuệ cảm xúc


Trong cuộc sống, bạn có thể đã từng gặp những người rất tinh tế, giao tiếp rất tốt. Trong mọi tình huống, họ dường như luôn biết cách cư xử khéo léo để chúng ta không cảm thấy bị xúc phạm hoặc bực bội. Thậm chí, ngay cả khi chúng ta không tìm ra giải pháp cho vấn đề, họ cũng làm chúng ta cảm thấy lạc quan và có thêm niềm tin…


Cũng có khi bạn gặp những “bậc thầy” trong việc điều khiển cảm xúc. Khi phải làm việc dưới áp lực, họ không cáu giận mà có khả năng nhìn thẳng vào vấn đề và bình tĩnh tìm ra giải pháp. Họ là những người có khả năng ra quyết định đúng đắn và biết khi nào có thể tin vào trực giác của mình. Họ luôn sẵn lòng thừa nhận những nhược điểm của mình và biết tiếp thu những lời phê bình để phát triển bản thân…

Đó là những người có trí tuệ cảm xúc cao. Họ hiểu rất rõ về bản thân, kiểm soát được cảm xúc của chính mình, họ cũng có thể cảm nhận được cảm xúc của người khác và xây dựng được các mối quan hệ tích cực.

Người có chỉ số trí tuệ cảm xúc cao luôn sống lạc quan, biết lắng nghe, thấu hiểu cảm xúc, mong muốn và quan điểm của người khác, phân biệt được chúng và sử dụng chúng để hướng dẫn suy nghĩ và hành động của bản thân. Từ đó, biết thông cảm, xây dựng và duy trì các mối quan hệ, quan tâm đến người khác nên có cuộc sống cởi mở và chân thành, dễ thích nghi với ngoại cảnh, linh hoạt, chủ động và sáng tạo trong công việc, có khả năng chịu được áp lực và vượt qua nghịch cảnh.

Người có trí tuệ cảm xúc thấp không tạo được những mối quan hệ hợp tác tốt với đồng nghiệp, với đối tác, khách hàng và ngay trong mối quan hệ bạn bè, gia đình. Không thể làm chủ cảm xúc bản thân, thiếu sự nhẫn nại và chịu đựng trong các tình huống xảy ra trong cuộc sống.

Ngày nay, cũng như năng lực chuyên môn, trí tuệ cảm xúc càng lúc càng đóng vai trò quan trọng đối với thành công của con người trong sự nghiệp. Những nhà tuyển dụng có xu hướng sử dụng chỉ số trí tuệ cảm xúc như một tiêu chí đánh giá năng lực con người khi tuyển dụng và đề bạt.

Các đặc điểm của trí tuệ cảm xúc

1. Hiểu rõ bản thân: Những người có trí tuệ cảm xúc cao thường hiểu rõ bản thân và không bao giờ để cho cảm xúc điều khiển họ. Họ cũng sẵn sàng nhìn nhận bản thân một cách trung thực, biết điểm mạnh và điểm yếu của mình và dựa vào đó để hoàn thiện hơn. Nhiều người tin rằng hiểu rõ bản thân là yếu tố quan trọng nhất của trí tuệ cảm xúc.

2. Kiểm soát bản thân: Những người có khả năng kiểm soát bản thân thường không để mình trở nên quá giận dữ , không có những quyết định bốc đồng, thiếu suy nghĩ. Họ suy xét trước khi hành động. Đặc điểm của sự kiểm soát bản thân là tính thận trọng, thích ứng với thay đổi, chính trực và biết nói “không” khi cần thiết.

3. Giàu nhiệt huyết: Những người có trí tuệ cảm xúc thường tràn đầy nhiệt huyết. Họ sẵn sàng hy sinh lợi ích trước mắt đổi lấy thành công lâu dài. Họ thích sự thách thức và luôn làm việc có hiệu quả.

4. Biết cảm thông: Đây có lẽ là yếu tố quan trọng thứ hai của trí tuệ cảm xúc. Cảm thông là khả năng nhận biết và hiểu được mong muốn, nhu cầu, và quan điểm của những người xung quanh ngay cả khi những điều đó có thể không rõ ràng. Người biết cảm thông luôn quản lý tốt các mối quan hệ, biết lắng nghe, không chụp mũ, phán xét vội vàng, sống cởi mở và trung thực

5. Kỹ năng giao tiếp: Đặc điểm của trí tuệ cảm xúc cao. Những người có các kỹ năng giao tiếp tốt thường giúp đỡ người khác phát triển và tỏa sáng thay vì tập trung vào sự thành công của mình trước tiên. Họ có thể xử lý các tranh chấp, giao tiếp tốt, và là bậc thầy trong xây dựng và duy trì các mối quan hệ.

Trí tuệ cảm xúc có thể là chìa khóa để thành công trong cuộc sống của bạn đặc biệt là trong sự nghiệp. Khả năng quản lý con người và mối quan hệ là rất quan trọng đối với tất cả các nhà lãnh đạo.

st

->Đọc thêm...

Tổng thống Nga đi thi The voice - Vladimir Putin on The Voice

->Đọc thêm...

29.9.14

Tôi làm linh mục vì ai ???


I. Ả xin kính chào quý độc giả rất thân mến!
Qúi vị ơi, cách nay khoảng một năm ả được một người bạn đưa cho đọc một bản văn lấy trên mạng internet, nói về cái chết thê thảm của một vị linh mục. Nhưng sau đó ngài được hồi sinh, nhờ sự nài van tha thiết lên Chúa của Đức Trinh Nữ Maria. Ả rất xin lỗi, vì đã quên tên của ngài rồi. Tuy nhiên, ả tin khi ả viết tóm lược lại câu chuyện này, sẽ có không ít người nhớ lại, và nhắc nhau hãy tôn sùng và kính mến Trái Tim của Đức Mẹ Maria nhiều hơn nữa. Lời cầu bàu của Mẹ Maria dịu hiền từ bi nhân ái luôn sống vâng phục theo Ý Thiên Chúa, hầu như mãi mãi làm rún động Trái Tim của Chúa Giêsu.

{Vâng! Ngài là một linh mục người Mỹ, sống trên đất nước Mỹ. Bỗng một hôm trên đường đi cử hành Thánh Lễ, một tai nạn giao thông kinh hoàng ụp đến với ngài. Ngài bị tắt thở tại chỗ, và điểm cần lưu ý là phần đầu của ngài đã bị vỡ sọ! Tại bệnh viện cấp cứu, các bác sĩ đều lắc đầu chịu thua, sau khi họ tận tình khâu vá và băng bó tất cả các vết thương trên người ngài.
Vốn là người rất thương yêu và kính mến Đức Mẹ Maria từ thuở còn bé đến lúc được làm linh mục, linh hồn ngài được đối diện ngay với Mẹ và Chúa Giêsu. Nhìn thấy ngài, Chúa Giêsu có vẻ tức giận lắm, và định nhốt linh hồn của ngài vào luyện ngục. Nhưng Mẹ Maria quyết chí nài van:
-Con cho Mẹ xin đi! Con hãy tha cho nó một lần! Mẹ tin sau khi nó được sống lại để tiếp tục chức vụ linh mục, nó sẽ là người linh mục rất tốt.
Chúa Giêsu lắc đầu:
-Không! Con không tha cho nó! Vì trong mười hai năm làm linh mục, nó không làm linh mục vì Con và vì tha nhân, mà nó làm linh mục vì chính bản thân của nó!!
Cuối cùng, lòng từ bi và sự nhẫn nại cầu xin của Mẹ Maria đã thắng lướt được sự cứng rắn nhất thời, có từ tấm lòng Thương mà Giận – Giận mà Thương của Chúa Giêsu. Vị linh mục được hồi dương, trước sự kinh ngạc của các bác sĩ và mọi người xung quanh.
Vị linh mục đã chết và đã được sống lại này, ngài nguyện trả ơn Lời Cầu Bàu rất hữu hiệu của Đức Mẹ Maria bằng đời sống của người linh mục hoàn toàn khác trước lúc ngài bị tai nạn giao thông.}

II

Qúy vị rất thân mến! Rồi cũng từ câu chuyện diệu kỳ bên trên, ả quay nhìn về quí vị linh mục Triều hay Dòng mà ả từng gặp. Do quí ngài là cha chánh xứ. Cha phó. Hoặc là cha trợ úy của một cộng đoàn nào đó trong nhà thờ. Hay là các cha tình cờ quen biết trên các nẻo đường mà ả cố gắng đi theo Chúa Giêsu. Và trong bối cảnh Giáo Hội Công Giáo Việt Nam nhỏ bé hôm nay, ả xin phép chia hàng ngũ linh mục ra làm 3 thành phần:
-Thành phần linh mục thứ nhất, là thành phần Tu thật. Tận Hiến thân mình thật. Yêu thật. Hy sinh thật. Sống thật.
-Thành phần linh mục thứ hai, là thành phần linh mục Giảng Lễ một đàng, Sống giữa tha nhân một nẻo!!
-Thành phần linh mục thứ ba, thông thường là các cha chánh xứ tuổi từ U 70 đến 80, nhưng sức khỏe chưa đến nỗi phải nằm ngay đơ một chỗ trên giường. Quí ngài nhất quyết tìm đủ mọi cách để được “bám trụ” tại chỗ! Có ngài thâm niên chức vụ ông cha sở, từ sau năm 1975 vài năm, và mãi cho đến hôm nay, trên địa bàn một quận lớn nọ, thuộc thành phố Hồ Chí Minh, ngài vẫn còn là một ông cha sở đầy uy quyền trong việc “đì” các ngài cha phó “sói trán”! Đã vậy, qúi ngài còn bí mật xén bớt bổng lộc của giáo dân giàu nghèo, để bí mật chi cho việc riêng tùy ý!!Đã thế, quí ngài lại vừa bỏ bê sự cầu nguyện, vừa xem thường và lạnh nhạt với Kinh Thánh gồm chung, vì cho rằng ta đây là lão làng, ta đã quá biết hết rồi! Từ đó đưa đẩy quí ngài tới chỗ nhầy nhụa trong tội lỗi ...Hay nói cho rõ hơn, đây là thành phần linh mục bị “chay lì” trong tội lỗi!!!

Kính thưa, vì trang viết có hạn, nên mỗi thành phần linh mục vừa nói đến bên trên, ả chỉnêu ra một hay hai vị điển hình mà thôi, với ước mong bất cứ người linh mục nào cũng làm linh mục vì Chúa, và giống y chang như một Đức Giêsu Kitô thứ hai, cho người giáo dân bớt khổ. Ở đây, không phải khổ vì các cảnh đời vốn khổ. Mà khổ vì người linh mục nghĩ sai nên thường phán quyết sai. Và, đây là sự trớ trêu quái ác trong Giáo Hội, nổi cộm nhất là ở thời điểm nhá nhem hiện giờ.
1 -Thành phần linh mục thứ nhất, là thành phần Tu thật. Tận Hiến thân mình thật. Yêu thật. Hy sinh thật. Sống thật.
Trước hết, ả xin cúi đầu Cảm Tạ Thiên Chúa đã cho ả gặp một người cha linh hướng đúng với Ý Chúa và đúng với lòng ả ước mong. Tuy rằng con đường rèn luyện nhân bản Kitô Giáo và huấn đức của ngài dành cho ả, như luôn luôn có một cây “roi thép” để phía trước các bài học.
Vì thế những năm đầu làm người Tân Tòng, có lúc ả giận ngài kinh khủng! Suốt cả một năm hay hai năm trời ả hoàn toàn không viết một cánh mail về để thăm hỏi. Xem ra, lúc ấy ả cũng thuộc dạng khá cứng đầu!!!
Còn ngài, khi ả chợt nhớ đến ngài và cần ngài giúp điều chi, ả quay về thăm, lần nào cũng vậy, ngài ân cần tiếp đón giống như người cha trong “dụ ngôn người cha nhân hậu” của Chúa Giêsu (x. Lc 15, 11- 24). Đã vậy, có lần ngài còn nói: Trong sứ vụ truyền giáo, cha nào khác chi một ông lái đò đưa khách sang sông. Khách qua được bên kia sông và được đặt chân an toàn trên bờ rồi thì tùy khách tự do lựa chọn cho mình một con đường để đi về miền hạnh phúc vĩnh cửu. Nếu có điều chi làm cho nước mắt lại bị tuôn rơi, xin hãy quay trở về bến đò xưa ...Ông lái đò này sẵn sàng tiếp tục gỡ mối tơ vò và chia sẻ hết những buồn đau.
Ả cũng khó mà quên được một vị linh mục thuộc Dòng I Phanxicô, ngài đã từng dừng chân tại giáo xứ nhà ả, với trách nhiệm là cha chánh xứ. Tuy chỉ có ba năm, nhưng ngài đã để lại trong lòng người giáo dân địa phương nhiều dấu ấn rất tốt đẹp và rất đáng quý mến. Những ngày ngài sắp sửa thuyên chuyển đi làm cha sở ở một họ đạo khác, ả thường bắt gặp nhiều đôi mắt đỏ hoe vì khóc nhiều của các cô bà: già có, trẻ có, trong họ đạọ Đến quí ông anh đàn ông thường làm việc kề cận bên ngài, cũng nhìn như người bị mất hồn! Còn ả, cha linh hướng của ả đã từng dạy ả rồi. Đó là: Vạn vật vô thường. Cuộc đời vô thường. Thân phận con người thấy vậy mà rất mỏng manh và vô thường nữa. Cho nên, đứng trước các vụ việc xảy ra trước mắt, dù như thế nào đi nữa thì cũng: Không buồn. Không vui. Không lưu luyến. Không hững hờ. Sống: An nhiên. Điềm tĩnh. Quảng đại. Tràn đầy yêu thương. Giàu lòng bác ái. Tất cả, chính là cách sống của một thánh nhân.

2 -Thành phần linh mục thứ hai, là thành phần linh mục Giảng Lễ một đàng, Sống giữa tha nhân một nẻo!! Và ả cho rằng đây là thành phần chiếm đa số trong hàng ngũ linh mục hiện nay.
-“Giảng Lễ một đàng …” ý ả muốn nói đến quý vị linh mục được Chúa Thánh Thần thổi phồng cho cái khoa ăn nói lưu loát nên rất được thu hút người nghe, nhiều lúc không cần tới chuyện soạn bài giảng trước để làm gì. Giảng trong các Thánh Lễ đã là rất hay rất đạt như vậy, các ngài mà chịu mở thêm lớp dạy Kinh Thánh bước một, bước hai, hoặc cao hơn là dạy về Thần Học hay Triết Học Đông Tây … có lẽ các ngài càng được Thiên Chúa cho tuyệt vời hơn nữa! Nhưng xét cho cùng về phương diện Giảng và Dạy này, dù được thành công đến đâu đi nữa, các ngài cũng chỉ là những “công cụ” tốt lành của Thiên Chúa mà thôi.Và, bên cạnh những thành công được xem là vượt bậc như vậy, sự đời quái ác thay! Chúng lại thường đưa dẫn người linh mục tài giỏi đi đến chỗ tự mãn và tự kiêu ngạo âm thầm trong lòng!!!
Chính vì quá tự mãn và tự kiêu ngạo âm thầm trong lòng như vậy, đương nhiên người linh mục sẽ từ từ bị vướng vô ba vòng tròn ôm chân, ôm tâm trí cứng ngắc. Đó là: Tham – Sân – và Si.
*Vì có Tham nên linh mục thuộc thành phần thứ hai này vừa nhìn thấy quà cáp biếu tặng, hay tiền của hiến dâng là sáng đôi mắt ra! Và đương nhiên những ai mang quà cáp biếu tặng càng nhiều, mang tiền của hiến dâng càng nặng “kí lô”, sẽ được quí ngài coi trọng, và ít nhận hoặc không bao giờ nhận phần ngược đãị
*Vì có Sân nên quí ngài cũng không giấu được sự mất công bằng trong cách “chăm sóc” một họ đạo với vai trò là một ông cha chánh xứ. Một ví dụ điển hình, như trong nhà thờ có tổng cộng ba ca đoàn. Ca đoàn nào có người ca trưởng biết ép mình nịnh hót chìu lòn, thì ca đoàn đó thỉnh thoảng được ngài cha sở tổ chức cho đi chơi xa, như đi Vũng Tàu hay Đà Lạt Phan Thiết Nha Trang …v …v … Còn ca đoàn nào có người ca trưởng có cá tính mạnh mẽ, đòi hỏi đứng trên đôi chân của mình, dựa theo Luật ban hành của Hiệp Hội Thánh Ca Việt Nam, rồi tự chọn lựa bài hát trong các Thánh Lễ. Nhất là không chịu sự cúi đầu trước lệnh lạc của ông cha sở, liền bị ngài “đì” bằng cách này hay cách khác, cho mà biết mặt, biết thân!!!
*Vì có Si nên quí ngài cũng mơ cũng mộng, cũng cầu mong đời sống thường nhật của mình, và của chính gia đình cha mẹ anh chị em máu mủ cật ruột của mình được vượt thoát các cảnh túng ngặt và nghèo khó. Chính vì thế mà đã có một số linh mục, lợi dụng chức vụ linh mục, hoặc công khai gia nhập vào giới doanh nghiệp, hoặc “lén lút” qua danh nghĩa của một người khác, để lúc về hưu có một món tiền kết xù, tha hồ chi xài cho việc cùng “người thân” đi du lịch khắp nơi trên thế giới.
Nói về những người “đạo đức” giả hình, sống lừa dối chính mình và lừa dối người khác, Đức Cha GB. Bùi Tuần đã viết trong bài “Cầu nguyện với Chúa về tình hình quỷ dữ lộng hành hiện nay” hôm ngày 20.09.2014 vừa qua, như sau:
<< Xưa có lần Chúa Giêsu đã nói thẳng với người Do Thái tự hào xưng mình là có đạo Chúa, thuộc dòng dõi Ápraham: “Cha các ông là ma quỷ, và các ông muốn làm những gì cha các ông ham thích. Ngay từ đầu, quỷ là tên sát nhân. Nó đã không đứng về phía sự thật, vì sự thật không ở trong nó. Khi nó nói dối là nó nói theo bản tính của nó. Bởi vì nó là kẻ nói dối và là cha sự gian dối” (Ga 8,44). Lời Chúa phán trên đây về sự gian dối gợi ý cho tôi nhớ lại những gì Chúa đã nói về các mục tử giả: “Thật, tôi bảo thật các ông: Ai không đi qua cửa mà vào chuồng chiên, nhưng trèo qua lối khác mà vào, người ấy là kẻ trộm, kẻ cướp” (Ga 10,1). Kinh nghiệm cho tôi thấy những gì Chúa phán đều xảy ra nhiều cách khác nhau. Có một số ít người được nhận chức thánh, do tranh đấu, do vận động, do mưu lược. Có nghĩa là đã có sự lừa dối trong việc trở thành mục tử. Mục tử giả bị Chúa gọi là kẻ trộm, kẻ cướp. Cũng có một số ít người vào chuồng chiên một cách đàng hoàng, nhưng không hy sinh cho đoàn chiên, thì bị Chúa gọi là kẻ làm thuê x. Ga 10,12). Nghĩa là họ cũng có sự lừa dối trong trách nhiệm, một trách nhiệm đòi hỏi nhiều từ bỏ chính mình, vác thập giá mà theo Chúa. Lừa dối tự nó là điều xấu. Nếu lừa dối lại trở thành một thói quen nào đó trong mục vụ, phụng vụ và truyền giáo, thì đúng là dấu chỉ quyền lực ác quỷ đang thắng thế trong lãnh vực đạo đức nhất.>>
3 -Thành phần linh mục thứ ba, như ả giới thiệu “hơi bị nhiều” bên trên, là thành phần già rồi, đổi tánh đổi nết hết rồi, mà không chịu về hưu, cứ ở lì một chỗ, rồi muốn làm gì thì làm, muốn nói gì thì nói, muốn chửi rủa ai cũng chẳng cần chi tới sự tế nhị ắt có của một vị linh mục. Cung Thánh sẵn đó. Tòa giảng sẵn đó. Chiếc micro âm thanh vang ra tới ngoài đường xe chạy ầm ầm sẵn đó. Ai mà chọc cho ngài nổi điên lên là ngài đưa cái miệng vô chiếc micro để nói xiên nói xéo chịu không thấu, ngay trong giờ buộc phải giảng bài Phúc Âm.
Đã vậy, tan Lễ, ngài trở vô chỗ ở riêng, kéo theo mấy đứa con gái thường xuyên đứng giúp Lễ, từ 10 đến 12, 13 tuổi. Đứa thì ngồi trên đùi ngài. Đứa thì đứng sát một bên quơ tay ôm cứng lấy vai ngài. Đứa thì kéo áo ngài nhõng nhẽo đòi nọ đòi kia. Đứa thì kéo các ngăn tủ ra để tìm bánh kẹo để ăn. Đôi bàn tay của cha già ta phải dỗ dành, phải ve vuốt, phải nựng nịu từng đứa một, bọn tiên nữ ngây thơ chí chóe này mới chịu để cho ngài yên.
Gần đây, mỗi lần nhìn thấy cái cảnh không nên là thế một chút nào của ông cha sở già ấy, ả muốn rơi nước mắt, khi ả nhớ đến Lời hạ mình Xin Lỗi của Đức Giáo Hoàng Phanxicô trong “Bài giảng Lễ cho nạn nhân bị giáo sĩ lạm dụng tình dục”, hôm sáng thứ hai ngày 07.07.2014 tại nguyện đường Nhà Thánh Matta. Có sự tham dự của cả một số gia đình …và các thành viên của Ủy Ban Tòa Thánh đặc trách Bảo Vệ Vị Thành Niên. Ả xin phép trích một vài đoạn:
<<-Trước nhan Thiên Chúa và dân của Ngài, tôi bày tỏ niềm sầu thương của tôi về tội lỗi và các tội ác trầm trọng lạm dụng tình dục của giáo sĩ đã phạm đến anh chị em. Và tôi khiêm tốn xin anh chị em tha thứ. -Tôi cũng xin anh chị em tha thứ cả các tội lỗi không chịu ra tay giải quyết về phía các vị lãnh đạo trong Giáo Hội, những vị không đáp ứng một cách thích đáng trước việc tường trình lạm dụng được thực hiện bởi phần tử của gia đình nạn nhân, cũng như bởi chính nạn nhân bị lạm dụng. -Điều ấy lại càng gây ra khổ đau hơn nữa nơi những ai bị lạm dụng và gây nguy hiểm cho các em vị thành niên có thể bị nguy cơ lạm dụng. -Và các vị sẽ bị trả lẽ về vấn đề này. -Chúng ta hãy xin Người hãy nhìn đến chúng ta và hãy để cho chính chúng ta được đoái nhìn và khóc lóc, và xin Người ban cho chúng ta ơn biết hổ thẹn, nhờ đó, như Tông Đồ Phêrô, 40 ngày sau, chúng ta có thể thân thưa rằng: “Thầy biết rằng con yêu mến Thầy .” Rồi nghe tiếng Người nói: “Con hãy trở về mà chăm sóc chiên của Thầy .” Và tôi xin được thêm vô thế này: “Đừng để cho sói lọt vào đàn chiên” Ý KẾT: Dù là Đức Giám Mục hay linh mục hoặc người giáo dân bình thường, trước mặt Thiên Chúa cũng đều là anh chị em chung trong một đại gia đình với nhau, cùng hít thở và vui hưởng niềm vui Cứu Rỗi qua cái chết nhục hình trên cây thập tự giá của Người Anh Cả, chính là Đức Giêsu Kitô. Như vậy, nói theo kiểu bình dân thì dù chỉ có một người làm nên Tội lỗi, mà cả đám phải bị họa lây! Cho nên ả luôn đứng trên quan điểm Tội lỗi của quý vị linh mục thuộc thành phần thứ hai (Giảng Lễ một đàng, Sống giữa tha nhân một nẻo) hay Tội lỗi của quý vị linh mục thuộc thành phần thứ ba (bị “chay lì” trong tội lỗi) hoặc Tội lỗi của mọi người giáo dân xung quanh ả, cũng là Tội lỗi của chính ả nữa! Nghĩ được như vậy, lòng dạ ả nghe yêu thương không phân biệt bất cứ ai, và tâm trí ả nghe thật là nhẹ nhàng và thanh thoát. Nhất là ngay lúc ả quỳ gối để âm thầm cầu nguyện chung cho nhau. Sau cùng, Ả không quên rất Cám Ơn câu nói của Đức Thánh Cha Phanxicô: “Lòng can đảm được anh chị em và những người khác tỏ ra khi lên tiếng, khi nói lên sự thật, là việc phục vụ của tình thương, vì đối với chúng tôi nó đã chiếu rọi ánh sáng vào bóng tối kinh hoàng trong đời sống của Giáo Hội .” Nhờ câu nói này của Ngài, ả mới dám mạnh dạn ngồi viết bài này. Ả cúi xin quý vị Mục Tử nhân lành của Thiên Chúa tha thứ cho. Kính chúc tất cả chúng ta an lành và thiện hảo, trong vòng tay yêu thương giữ gìn của Chúa Ba Ngôi và Mẹ tình yêu bao la, Maria. Amen! Alleluia! Alleluia!! Ả Siêu MeMaria.net

->Đọc thêm...

Hệ sinh thái của đời tu


I. ẢNH HƯỞNG XÃ HỘI TRONG ĐỜI SỐNG GIÁO HỘI

1. Cách sống đoàn lũ, hình thức và gian dối
Trong một thời gian khá lâu, đất nước Việt Nam sống trong thời kỳ bao cấp, một thời kỳ tạo nên những cách sống đoàn lũ, hình thức và gian dối. Điều này mới nghe thì thấy khó hiểu. Tại sao đời sống tu lại chịu ảnh hưởng của đời sống xã hội tràn vào? Nhưng chúng ta cũng phải biết trong những hoàn cảnh khó khăn, nguyên sự hiện diện và tồn tại được cũng là quý lắm rồi. Từ bối cảnh đó chúng ta hiểu là anh chị em tu sĩ nam nữ phải xoay sở, đôi khi phải khai gian nếu không thì bị loại trừ.

Đời sống cơ cực, các sinh hoạt thì bị o ép, ai cũng nói theo ý cấp trên. Nó tạo nên sự huỷ hoại các giá trị chân chính của bản chất con người: đơn sơ, chân thật. Đó là một sự tan rã các giá trị tinh thần.

- Tính cách đoàn lũ khiến cho người ta không có thói quen có suy nghĩ riêng và không ai có can đảm nói lên cảm nghĩ riêng của mình, chỉ cần một vị lãnh đạo nói một điều gì tất cả xã hội đều rợp ràng ca tụng.

- Tính cách hình thức chẳng hạn sinh hoạt quốc hội, người ta chỉ việc giơ tay nhất trí những gì đã được trên đưa xuống, những công tác xã hội chủ nghĩa nặng hình thức, những lối báo cáo thành tích ghê gớm mà thực chất không có bao nhiêu.

- Tính cách gian dối chẳng hạn tình trạng báo cáo láo, kiểu làm ăn lời giả lỗ thật của các xí nghiệp quốc doanh.
Những điều đó không khỏi không ảnh hưởng đến nhân cách của tu sĩ, xét như những con người sống trong xã hội.

2. Những vấp váp trong thời kinh tế thị trường
Sự hụt hẫng trong khi bước vào đổi mới về cung cách quản lý vì chưa thấm được những luật chơi của nền kinh tế thị trường, chẳng hạn sự liêm chính, ý thức chung, tinh thần tự chủ, khả năng sáng tạo. Có người nói hai đứa con của thời bao cấp tạo nên: đạo đức giả, và thói vô trách nhiệm. Ngược lại thời kinh tế thị trường lại mang tính cách một thứ “tư bản hoang dã” và sản sinh ra hai đứa con là: nóng vội kiếm tiền và cắm đầu hưởng thụ.

Thái độ thực dụng là con đẻ của nền kinh tế thị trường, bởi vì trong xã hội ấy, dần dần người ta rơi vào cám dỗ dễ dãi: đặt hết tầm quan trọng của cuộc đời vào những phương tiện, những dịch vụ. Chẳng hạn: khi đi học, họ thấy cần xe, cần quần áo… mà không hề quan tâm đến tinh thần học hỏi của mình.

Rồi qua lăng kính của kinh tế, người ta cũng dễ dàng đánh giá con người dựa vào của cải tài năng. Khi thời bao cấp đã hết, nhà trường cho phép các dòng tu được mở các trường mầm non. Đa số các cộng đoàn đều có các nhóm trẻ, các trường mầm non. Càng ngày, vì nhu cầu đáp ứng cho việc dào tạo mẫu giáo, những nhà cao tầng đã mọc lên. Những biến chuyển này cũng làm cho các sinh hoạt cũng như trong các môi trường đào tạo để giải quyết vấn đề nhân sự và đầu tư cho giáo dục mầm non. Điều đó rất tốt vừa hợp với sứ vụ giáo dục vừa có điều kiện để nuôi sống cộng đoàn. Như thế, trong thực chất không có gì làm cho chúng ta băn khoăn, tuy nhiên do những biến thái của nó làm cho chúng ta suy nghĩ. Người ta đánh giá các hoạt động các dòng tu qua các cơ sở. Đời tu không còn có giá trị ngôn sứ. Hay đúng hơn là ngôn sứ giả. Ngày nay, người ta cũng nói đến đời sống nghèo, đời sống khiêm tốn. Tuy nhiên, đó chỉ là trên lời nói còn thực tế lại khác xa.

II. ẢNH HƯỞNG XÃ HỘI VÀO ĐỜI SỐNG TU TRÌ
Trong một thời gian dài Giáo Hội bị cắt đứt những liên hệ với thế giới Kitô giáo. Những tương tác về tinh thần, về não trạng, về tâm thức sống đạo, về tâm thức đời tu chưa bắt nhịp với thế giới bên ngoài và chúng ta cảm thấy hụt hẫng khi phải giao tiếp với nền tu đức mới. Giáo Hội Việt Nam cũng như hầu hết các tôn giáo khác, có lẽ đã chia sẽ những khó khăn chung của đất nước. Giáo Hội đã vượt qua nhiều thử thách một cách khá anh hùng. Tuy nhiên những vết sẹo do cuộc chiến ấy cũng để lại những vết thương và mầm bệnh sâu xa trong cơ thể. Ảnh hưởng của xã hội cũng phần nào ảnh hưởng trên nếp nghĩ và cách sống.

1. Đời sống trưởng giả
Các tu sĩ và linh mục đua nhau sắp sửa những đồ dùng từ xe cộ nhà cửa… người tu sĩ trẻ chỉ còn biết đánh giá nhau bằng việc học, bằng những cố gắng để thăng tiến về phương diện xã hội.

2. Sự tách biệt giữa đời sống đạo và sinh hoạt hằng ngày
Giáo Hội không khám phá ra nhu cầu Thiên Chúa của con người hôm nay. Giáo Hội không có khâu tiếp thị, nên chỉ có những thức ăn đồng loạt nấu sẵn… Hơn nữa lời giảng của những linh mục có khuynh hướng lôi kéo ra khỏi cuộc sống của họ, dựa trên nếp sống linh mục, tạo nên một cuộc cạnh tranh giữa sinh hoạt tôn giáo và sinh hoạt trần thế.Bài giảng của linh mục chỉ là những sáo ngữ, những điều mà người nói đã học được, đã cố suy nghĩ để có cái mà nói, những tự thâm tâm cũng không biết rằng người ta có thể sống được với điều ấy không, hoặc chính người nói cũng chẳng bao giờ cố gắng một chút để sống điều mình nói…

III. NGUY CƠ TỤT HẬU TRONG NHÂN CÁCH CỦA NGƯỜI TU
1. Chúng ta có thể nhận thấy một số biểu hiện có sự tụt hậu về nhân cách:

- Càng tu càng trở nên “khờ người” ra: người tu sĩ được đào tạo trong bầu khí “được quyết định thay” về nhiều chuyện, nên ít có khả năng tự quyết đoán và tự chọn thái độ của chính mình.

- Thiếu sáng kiến: trong đời sống tu người trẻ dù đã lớn tuổi họ đã có bằng cấp cao vẫn trở thành người còn quá non nớt trong lãnh vực tu trì, khiến cho các bạn trong thời gian thụ huấn thường không phát huy được năng lực của mình.

- Thiếu trưởng thành: một người trẻ ngoài đời đang học đại học, có khả năng chọn lựa nếp sinh hoạt của mình (nên xem tivi những chương trình nào, nên đi chơi những dịp nào…). Trong khi ở nhà Dòng các bạn đó lại thường được cái vị hữu trách, được nếp sống kỷ luật quyết định thay. Dần dần bạn không còn khả năng chọn lựa một cách trưởng thành nữa: khi được phép thì xem tivi cho hết chương trình, khi có thể thì trốn lễ.

- Ít khả năng phấn đấu: trong các nhà Dòng lớn, các thụ huấn sinh được bao cấp đến hết mọi chuyện. Khi không có được nhiều quyền tự do, người ta cũng không thấy được trách nhiệm và giới hạn của mình và luôn đổ lỗi cho cơ cấu, cho hoàn cảnh. Đồng thời cũng thường đòi hỏi yêu sách… Những điều đó làm cho người thụ huấn càng ngày càng giảm khả năng phấn đấu.

- Khuôn phép trong nếp sống, xơ cứng trong quan điểm: đời sống tu trì từ bao đời nay được hiểu như là một nếp sống khuôn phép. Nếp sống đều đặn, giờ giấc kỷ luật, làm cho người ta rất lúng túng trong một môi trường tự do và phải quyết định chương trình sống cho mình. Họ không dám quyết định và ít can đảm nhận trách nhiệm của mình.

- Nếp sống “tiểu kỷ”chính là cái tôi bé nhỏ, cam chịu thân phận hèn mọn, bị động, nhờ ân huệ, vun quén, xà xẻo, khôn khéo lẩn tránh, não trạng khép kín, luồn cúi, khúm núm, an phận, phụ thuộc, manh mún, tiểu xảo, rình được một cơ hội nào đó thuận tiện thì tìm cách xoay xở, vun quén chút ít cho cái tôi nhỏ bé.

Nếp sống tu trì chỉ dựa vào một khuôn khổ, từ chuyện kinh nguyện cho đến việc học hỏi và công tác tông đồ. Giờ giấc kinh hạt được coi là tiêu chuẩn để đánh giá khiến cho người tu ít khi tự nguyện, tự do và sáng tạo để tìm cho mình một cách thức sống tâm linh.

Tất cả những thứ vỏ cứng như thế chỉ tạo nên một thói quen hơn là một giá trị tinh thần. Khi những thói quen ấy bị phá vỡ, một lỗ hổng của nhân cách sẽ lộ ra.

IV. CÁC TU SĨ TRẺ HÔM NAY
Những nhận định này không phải muốn “vơ đũa cả nắm” nhưng chỉ nêu ra mấy điểm nổi bật mà thôi.

1. Thực trạng thực dụng
Do ảnh hưởng nền kinh tế thị trường với hiệu quả được xem là thước đo mọi giá trị, nên người trẻ hôm nay lại sống rất thực tế, xét cho cùng, thì thực tế là tốt, vì sẽ mang lại hiệu quả cao, nhưng thực tế quá dễ rơi vào não trạng thực dụng. Thực dụng là lựa chọn cái gì có lợi trước mắt. Đối với con người hiện đại cái lợi trước mắt là tiền bạc, danh vọng, quyền lực, người ta tìm kiếm những giá trị đó thay vì tìm kiếm cuộc sống có đạo đức cao. Đối với tu sĩ có khuynh hướng thực dụng thì điều họ tìm kiếm bằng cấp, đời sống tiện nghi, cuộc sống an toàn, ổn định, uy tính, ảnh hưởng, tư lợi… thay vì tập luyện những nhân đức khó nghèo, khiêm tốn, công bằng, bác ái.
Để giảm bớt não trạng thực dụng, cần khơi gợi nơi người trẻ lòng nhân ái, và đi đến với người nghèo để chia sẻ với họ.

2. Khuynh hướng tự do
Ngày nay, theo nhịp tiến của thời đại, tinh thần dân chỉ thấm nhập mọi lãnh vực, người ta coi trọng khả năng, ý kiến cá nhân, cụm từ “tự khẳng định mình” được thường xuyên sử dụng. Tự do là một giá trị cao quý, nó làm nên phẩm giá con người nhờ đó các bạn trẻ cởi mở, tự tin, phát huy sáng kiến. Nhưng nếu không hiểu cho đúng, tự do sẽ thành phóng túng hỗn loạn.
Người trẻ khó chấp nhận một thứ đạo đức gò bó nặng về cấm kỵ, khó chấp nhận nề nếp tu trì truyền thống. Họ muốn sống đạo đức, sống đời thánh hiến theo cách mà họ thích và lựa chọn. Những gì phù hợp với mình thì mình chập nhận, không phù hợp thì từ chối. Nếu bị buộc phải theo thì chấp nhận cách miễn cưỡng “chịu vậy” chứ không phải là phục vụ.
Để có thể giúp tu sĩ trẻ chấp nhận một quy định, một đòi hỏi, trước hết cần kiên trì giải thích, thay vì ra lệnh, áp đặt từ trên xuống. Tuy có khuynh hướng tự do, nhưng không phải là các bạn trẻ không biết lắng nghe cách chân thành. Ở đây cần giúp các bạn phân biệt được một điều khuyên và một điều đòi hỏi; phân biệt giữa cái mình thích và cái mình cần yêu mến.

3. Thích phê phán
Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và trào lưu dân chủ, óc phê bình cũng sẽ mạnh hơn. Các bạn trẻ thích phê phán. Có những phê phán đúng và cũng có những phê phán không đúng. Có những phê phán để làm rõ chân lý và cũng có những phê phán chỉ nhằm bôi nhọ người khác. Có những phê phán công khai, nhưng đa phần là những phê phán sau lưng và khi đến tai người bị phê phán thì đã phải tam sao thất bổn! Điều đáng nói là khi trình độ văn hoá còn hạn chế hoặc do chưa đủ chín chắn, thói quen phê phán dễ ngã sang hướng tiêu cực, vừa bới móc, thích đưa mình lên và hạ kẻ khác xuống. Lắm khi lời phê phán gây tổn thương sâu xa cho người khác đặc biệt là nơi những ai có tâm hồn nhạy cảm.
Để giúp bạn trẻ có tinh thần khiêm tốn đòi mình sống khiêm tốn hơn và yêu thương các chị em, nhắc nhở các chị em biết tôn trọng chân lý và tôn trọng người khác nhất là khi vắng mặt.

Thay lời kết: Mong ước nơi các chị em trẻ

- Mong các chị em nhận ra ơn gọi của mình để tự ý đáp trả và cam kết dấn thân. Để từ đó các chị em có thêm nghị lực vượt qua những thử thách trong đời tu và đứng vững trong ơn gọi của mình.
- Mong các chị em biết nhận ra lỗi của mình để sửa và cố gắng sửa để hoàn thiện mình hơn. Và ngày một thêm tin tưởng, can đảm hơn: sai không sợ, bại không nản nhưng chỉ lo người không có chí vượt lên chính mình mà thôi.
- Mong các chị em trở thành những người hữu ích cho Giáo Hội và cộng đoàn. Trở thành người dễ răn, dễ dạy, sống hòa đồng vui vẻ…
- Mong các chị em trở thành những thành viên chín chắn đi đúng với đường lối của Dòng, để các chị em là những người kế tiếp xây dựng Hội Dòng ngày càng vững chắc hơn.
- Mong cho các chị em phát huy hết khả năng, năng khiếu của các chị em để phục vụ Chúa và phục vụ tha nhân.
- Mong các chị em luôn có khả năng làm chủ bản thân mình, biết phân định trước mọi vấn đề, và biết chịu trách nhiệm về những hành động của mình.
- Mong các chị em sống thành thật, tiết độ, công bằng, khôn ngoan, luôn biết cách tự chế để làm chủ được chính mình, và thắng được bản năng tự nhiên của mình. Biết tự chế trong việc nhỏ và tầm thường, thì mới chấp nhận được những đòi hỏi trong đời sống cộng đoàn và đời tu.
- Mong các chị em luôn coi Hội Dòng như là mái ấm Gia đình của mình, để khi đi thì nhớ, khi ở thì thương.
- Mong các chị em biết vâng lời trong đối thoại, tin tưởng với tinh thần khiêm tốn. Biết cảm thông, tha thứ, kính trọng và yêu thương.
- Mong các chị em khi muốn trách móc Bề Trên, thì hãy đặt mình vào cương vị Bề Trên

Lm. Đa Minh Đinh Viết Tiên

gpphanthiet

->Đọc thêm...

25.9.14

Chân Dung Người Mục Tử Lý Tưởng Theo ĐTC Phanxicô


Pope FrancisSau hơn 8 tháng trong cương vị Giáo Hoàng, qua các bài giảng, bài giáo lý, các buổi nói chuyện, và đặc biệt là qua lối sống và tinh thần phục vụ đầy yêu mến của mình, Đức Thánh Cha Phanxicô đã phác họa khá rõ nét chân dung của một vị mục tử lý tưởng.


Trước hết, người mục tử lý tưởng theo ĐTC Phanxicô phải là người gần gũi với đàn chiên của mình. Các ngài không sống tách biệt với người khác, không được xem mình là người “quản trị” quà tặng ân sủng Thiên Chúa. Tinh thần gần gũi và sẻ chia luôn đồng hành với sự thanh bần như Đức Thánh Cha đã giải thích cho các chủng sinh và tập sinh vào ngày 6 tháng 7: “Cha nói cho các con biết, cha thực sự buồn khi thấy một linh mục hay một nữ tu sở hữu một chiếc xe hơi hiệu mới nhất…Cha nghĩ rằng xe hơi cũng cần thiết vì nó giúp công việc được tiến triển nhanh hơn nhiều, và cũng để đến nơi cần đến…nhưng nên chọn một chiếc xe khiêm nhường thôi. Và nếu các con thích một chiếc xe đẹp, thì hãy nghĩ đến những trẻ em đang phải chết đói.”

Trong lời khuyến dụ dành cho các giáo sĩ giáo phận Assisi trong cuộc thăm viếng ngày 4 tháng 10 vừa qua, ĐTC Phanxicô đã xin các linh mục hãy nhớ rõ không những tên của những người giáo dân trong giáo xứ, mà còn cả các con thú cưng của họ nữa. Đây chính là con đường giúp người mục tử gần gũi với đàn chiên của mình. Sự gần gũi này là hết sức cần thiết, vì chỉ khi gần gũi với người tín hữu, người mục tử mới có thể trao ban cho họ hương thơm của Đức Giê-su. Hơn nữa, để có thể trao ban thứ hương thơm ấy, các ngài phải để hương thơm của Đức Ki-tô thấm đượm nơi chính bản thân mình.

“Chính đây là điều tôi xin anh em: anh em hãy làm những mục tử với “hương thơm của đoàn chiên”, hương thơm này phải được người ta cảm nhận; và thay vì làm những mục tử ở giữa đoàn chiên của mình, thì hãy làm những người thả lưới gom người. Đức Thánh Cha đã nói điều này trong bài giảng vào ngày 28 tháng 3 trong Thánh Lễ Dầu, ngài thêm rằng: “Dân chúng cám ơn chúng ta vì họ cảm thấy rằng chúng ta đã đưa vào lời cầu nguyện của mình những thực tại đời sống thường ngày của họ, những đau khổ và niềm vui, những lo âu và hy vọng. Và khi họ cảm thấy hương thơm của Đức Kitô, Đấng-Được-Xức-Dầu, đến với họ qua chúng ta, họ được khích lệ để ký thác cho chúng ta tất cả những gì họ ước muốn dâng lên Thiên Chúa: “Xin Cha cầu nguyện cho con, vì con có vấn đề này…”, “Xin chúc lành cho con”, “Xin cầu nguyện cho con”, đó là dấu hiệu cho thấy dầu xức đã đạt tới gấu chiếc áo choàng, bởi lẽ nó đã biến thành lời cầu khẩn, lời khẩn cầu của Dân Thiên Chúa.”

Kế đến, một vị linh mục là một người ở trong tình yêu, và các ngài phải luôn nhắc nhớ các tín hữu về tình yêu đầu tiên ấy, tình yêu của Đức Giê-su. Đặc tính chính yếu của một vị linh mục trong tình yêu chính khả năng quay về mối tình đầu ngang qua những kỷ niệm. Một Giáo hội đánh mất ký ức là một Giáo hội mang tính máy móc, Giáo hội ấy không còn sức sống. Các linh mục phải là người công bố về lòng thương xót và sự tốt lành của Thiên Chúa luôn chờ đợi chúng ta.

Là một khí cụ của lòng thương xót của Thiên Chúa, các linh mục trao ban ơn tha thứ của Thiên Chúa thông qua Bí tích Hòa Giải. Trong bài giáo lý thứ 4 ngày 20 tháng 11 vừa qua, ĐTC cho chúng ta thấy chân dung của một cha giải tội. “Linh mục chính là khí cụ để tha thứ tội lỗi. Sự tha thứ của Thiên Chúa được trao ban cho chúng ta nơi Giáo Hội, và được thông chuyển cho chúng ta thông qua thừa tác vụ của một người anh em chúng ta. Các linh mục, cũng là một con người như chúng ta, các ngài cũng cần sự thương xót, để trở nên một khí cụ đích thực của lòng thương xót, trao ban cho chúng ta tình yêu vô hạn của Chúa Cha. Các linh mục cũng phải xưng tội, các giám mục cũng vậy: Tất cả chúng ta là tội nhân. Đức Thánh Cha cũng xưng tội 15 ngày một lần, bởi vì Đức Thánh Cha cũng là một tội nhân!”

“Công việc phục vụ của các linh mục trong sứ vụ này, phát xuất từ Thiên Chúa, để tha thứ tội lỗi, là một việc rất tế nhị, là một việc phục vụ rất tế nhị, và nó hệ tại ở việc trái tim của họ có bình an hay không; khi trái tim của vị linh mục bình an, họ không đối xử tệ với các tín hữu, nhưng với lòng nhân từ, yêu thương và thương xót; họ biết gieo vào trái tim của các tín hữu niềm hi vọng, và trên hết, họ hiểu rằng, anh chị em của mình đến tòa giải tội là để tìm kiếm sự tha thứ và họ làm điều đó như biết bao nhiêu người đã đến với Chúa Giê-su để được chữa lành. Vị Linh mục không có tinh thần ấy thì tốt hơn không nên ban bí tích Hòa giải, cho đến khi vị linh mục ấy biết sửa mình. Mọi tín hữu đều có quyền tìm các vị linh mục, những người phục vụ ơn tha thứ của Thiên Chúa.”

Mặc dầu linh mục là người sống độc thân, nhưng các ngài phải là những người cha. Khao khát làm cha của một người nam là một khao khát sâu thẳm nơi mỗi người, Đức thánh Cha giải thích về điều này trong thánh lễ tại nhà nguyện Marta vào ngày 26 tháng 6: “Khi một người đàn ông không có khao khát này, có gì đó thiếu nơi người đàn ông này”. Linh mục cần cảm nghiệm được niềm vui của tình phụ tử để cảm nhận được sự viên mãn và trưởng thành, kể cả trong đời sống độc thân. Tình phụ tử hệ tại ở việc trao ban sự sống cho người khác. Đối với người mục tử, điều đó có nghĩa là trở thành một người cha thiêng liêng, người trao ban sự sống thiêng liêng. Ngoài ra, người cha là người biết bảo vệ con cái mình khỏi những nguy hiểm và trao cho con cái mình những điều tốt đẹp nhất. Như vậy, mọi linh mục cần phải xin ân sủng này: đó là trở thành người cha đích thực.



Trong cương vị Giám mục, người mục tử của Chúa cần thể hiện rõ nét hơn những đặc tính trên. Trong sứ điệp gửi cho các tham dự viên tại hội nghị Tân Phúc âm hóa ở châu Mỹ được tổ chức ở Mê-xi-cô, ĐTC mô tả vị Giám mục là một người mục tử biết tất cả con chiên của mình, từng người một. Với tình yêu và sự kiên nhẫn, ngài hướng dẫn họ và ở bên cạnh họ, điều này sẽ minh chứng cho tình mẫu tử của Giáo hội và lòng thương xót của Thiên Chúa. Thái độ của người mục tử đích thực thì không phải là thái độ của viên chức hay công nhân, chủ yếu tập trung vào kỷ luật, quy tắc hay các bộ máy tổ chức. Thái độ ấy sẽ khiến vị Giám mục rời xa đàn chiên, không có khả năng giúp đỡ anh chị em mình gặp gỡ Chúa Ki-tô.

“Dân Thiên Chúa muốn vị Giám mục thay mặt Thiên Chúa trông nom mình, đặc biệt quan tâm đến việc giúp họ hiệp nhất và thăng tiến niềm hy vọng trong trái tim họ. Do đó, Giám mục cũng cần biết huấn luyện người linh mục có khả năng gần gũi và gặp gỡ. Họ phải là những người biết thắp lên ngọn lửa trong trái tim con người, cùng đồng hành với họ và đi vào cuộc đối thoại trong niềm hy vọng cũng như trong nỗi sợ.”

Để trở thành một người mục tử nhân lành, các linh mục và giám mục phải tránh xa bệnh tìm địa vị cao và bệnh duy giáo sĩ. Thật vậy, trong lời nhắn nhủ với các Giám mục tại Mỹ Châu, ĐTC Phanxicô cảnh giác các Giám mục về chứng bệnh tìm địa vị cao: “Chúng ta là những người mục tử chứ không phải là những người có tâm lý ông hoàng, những người tham vọng, những người kết hôn với Giáo hội này trong khi chờ đợi một giáo hội khác xinh đẹp hơn, giàu có hơn. Đừng rơi vào cái bẫy của bệnh tìm địa vị cao! Nó là một chứng ung thư!… Tôi nài xin anh em, xin hãy ở lại giữa những người con của anh em. Hãy tránh xa tiếng xấu khi trở thành “những vị Giám mục phi trường” (airport bishops)! Một tai hại khác của Giáo hội đi kèm với bệnh tìm địa vị cao chính là bệnh duy giáo sĩ. Cũng trong sứ điệp trên, ĐTC Phanxicô nói: “Cám dỗ duy giáo sĩ thực sự làm hại Giáo hội rất nhiều. Chứng bệnh đặc thù của một Giáo hội khép kín là tự tham chiếu vào chính mình; là nhìn vào mình, tự hài lòng với chính mình.”

Tóm lại, người mục tử lý tưởng theo Đức Thánh Cha Phanxicô là “người gần gũi với dân chúng, là người cha, người anh em, với sự hiền dịu, kiên nhẫn và thương xót. Là những người yêu sự khó nghèo, sự khó nghèo nội tâm như sự tự do trước mặt Chúa, cũng như sự khó nghèo bên ngoài như sự đơn sơ và khắc khổ của cuộc sống. Là những người không có “tâm lý của các ông hoàng”. Là những người không tham vọng và là các phu quân của một Giáo Hội, chứ không đợi chờ một Giáo Hội khác. Là những người có khả năng thức tỉnh trên đoàn chiên đã được giao phó, và săn sóc tất cả những gì duy trì đoàn chiên hiệp nhất: canh giữ đoàn chiên, chú ý tới các hiểm nguy có thể đe dọa nó, nhưng nhất là, làm cho niềm hy vọng lớn lên: ước gì các Mục Tử ấy có mặt trời và ánh sáng trong tim. Là những người có khả năng nâng đỡ các bước đi của Thiên Chúa nơi dân Người với tình yêu thương và lòng kiên nhẫn. Và có ba chỗ của Giám Mục ở với dân mình: hoặc là ở đàng trước để chỉ đường, hay ở giữa để duy trì đoàn chiên hiệp nhất và trung lập hóa các tán loạn, hoặc ở đàng sau để tránh cho ai đó ở lại đàng sau, nhưng cũng một cách nền tảng, để cho chính đoàn chiên đánh hơi, hầu tìm ra các con đường mới.”


Nguyễn Minh Triệu sj từ Radio Vaticano

->Đọc thêm...

Thao thức trước biến chuyển đời tu


Chúa gọi ta, để dâng mình cho Chúa, ta hãy đi theo đường hẹp: “Ai muốn theo Thầy, hãy từ bỏ mình, vác thánh giá mình mà theo Thầy” (Mt 17,24); “hãy đi vào cửa hẹp” (Mt 7,13).

1. Đi tu là đáp lại tiếng gọi của Chúa, chứ không phải để thi hành một luật của Chúa

Theo mạc khải và kinh nghiệm, thì trong các điều Chúa mời gọi người tu, có 3 điều quan trọng.

Điều thứ nhất là đời sống nội tâm, tương quan của ta với Chúa.

Chúa gọi ta, để dâng mình cho Chúa, ta hãy đi theo đường hẹp: "Ai muốn theo Thầy, hãy từ bỏ mình, vác thánh giá mình mà theo Thầy" (Mt 17,24); "hãy đi vào cửa hẹp" (Mt 7,13).

Dâng mình cho Chúa, thì phải sống mật thiết với Chúa. "Thầy là cây nho, các con là cành" (Ga 15,5).

Điều thứ hai là đời sống phục vụ đồng bào.

Xưa Chúa phán: "Ta thương xót dân này" (Mt 15,32); "hãy cho họ ăn" (Mt 14,16). Chúa muốn và kêu gọi chúng ta hãy thương xót dân, và cứu họ khỏi đói.

Họ đói của ăn vật chất, và càng đói của ăn thiêng liêng, tức là tình thương, các chân lý cứu độ, nhất là sự sống của Chúa, gương sáng về đạo đức.

Điều thứ ba là đời sống tiến thân.

Chúa trao cho mỗi người chúng ta một số nén bạc (x. Mt 25,14-30), tức là đức tin, thời giờ, sức khoẻ, địa vị, kiến thức, hoàn cảnh tốt, và bảo chúng ta phải sinh lời, với những bước tấn tới cho đời sống riêng và chung.

Trên thực tế, một số người tu đã đáp lại tiếng Chúa gọi. Họ trả lời 3 lời kêu mời trên bằng những cố gắng tích cực.

Nhưng, cũng có một số người tu đã chỉ đáp lại bằng việc đi tu, nhưng trong đời tu, họ không đáp lại 3 lời kêu gọi trên.

2. Lỗi phạm của họ là thế nào?

Tiên tri Isaia gọi lỗi phạm của họ là sự vô ơn của người con đối với người cha (x. Is 64,7-8).

Cũng Tiên tri Isaia còn gọi lỗi phạm đó là sự bất hiếu của người con đã quên tình mẹ cưu mang (x. Is 49,15).

Tiên tri Hôsê thì gọi lỗi phạm đó là sự bất trung đối với người yêu (x. Hs 2).

Nghĩa là, khi người ta không đáp lại những lời Chúa kêu mời họ, thì ta xúc phạm đến tình yêu Chúa. Xúc phạm đến tình yêu Chúa, chứ không hẳn là xúc phạm đến luật Chúa. Và như vậy, khi sám hối ăn năn, người tu nên để ý đến sự mình xúc phạm đến tình yêu Chúa.

3. Nếu người tu không sám hối ăn năn, sửa mình về 3 lời kêu gọi trên, thì kết quả sẽ thế nào?

Thưa, họ sẽ đi vào tình trạng nguội lạnh (x. Kh 3,15). Kinh Thánh mô tả nguội lạnh là không nóng, không lạnh. Kết quả là sẽ bị Chúa mửa họ ra. Họ sẽ rơi vào những thảm hoạ sau đây:

a) Mất dần ý thức về tội. Coi những bất trung là bình thường. Coi vô cảm trước trách nhiệm là bình thường.

b) Đời sống nội tâm ra trống vắng. Họ hay lấp cái trống vắng đó bằng đời sống nghiêng về hình thức, ồn ào.

c) Nhiều khi họ đánh lạc hướng bằng sự tự mãn vì một số thành tích thành công bề ngoài.

Kết quả là: Người tu sẽ làm gương xấu cho xã hội, gây hại cho Đạo Chúa. Họ rất khó trở về.

***


Đến đây, chúng ta có thể có một cái nhìn tổng quát về một chuyển biến nguy hiểm đang xảy ra ở nơi này người nọ trong đời tu tại Việt Nam. Hình ảnh người tu ở một số nơi không còn được sáng về nhiều nét tu tốt đẹp.

Cái nhìn trên đây sẽ giúp cho những người có trách nhiệm đào tạo.

Đào tạo người tu thành những người biết tổ chức, biết hoạt động hội đoàn, là điều tốt. Nhưng điều tốt hơn, sẽ là đào tạo họ nên những người bén nhạy với những mời gọi của Chúa kể cả khi Chúa gọi qua những dấu chỉ của thời đại, và biết đáp ứng lại những mời gọi ấy.

Người tu chúng ta hãy cầu nguyện nhiều và hãy cộng tác vào việc đào tạo mình, để ta có cái tâm biết thuộc về Chúa, biết gắn bó với Chúa, biết dấn thân cho tình yêu Chúa.

Nếu không, đời tu sẽ xuống dốc thê thảm.


Gm. G.B. Bùi Tuần
conggiao

->Đọc thêm...

12.9.14

Đức Hồng Y Phanxico Xavier Nguyễn Văn Thuận đã viết:


“Chấm một chấm cho thẳng, chấm này nối tiếp chấm kia… đường sẽ thẳng.

Sống một phút cho tốt, phút này nối tiếp phút kia… đời sẽ thánh’’.

->Đọc thêm...

Thất Nhân Tâm


PHẦN I - NHỮNG CHUYỆN “THẤT NHÂN TÂM”
Chương I

NHỮNG CÁCH LÀM CHO NGƯỜI DỄ GHÉT. NHỮNG CÁCH DỄ GÂY THÙ CHUỐC OÁN

1. Ham cãi lộn và cãi cho thắng bất cần phải quấy.

2) Mắng như tạt nước lạnh vào mặt rằng người ta lầm.

3) Lên mặt khôn vặt là trổ tài sái mùa.

4) Lầm lỗi mà cứ ngoan cố phản đối, giành phần phải cho mình.

5) Nói như búa bổ vào mặt người ta.

6) Kích bác cho người ta chống mình ngay từ lúc đầu bằng những tiếng “Không” hằn học.

7) Chặn họng không cho người ta nói.

8) Cứ lên mặt dạy khôn người và cao ngạo với sáng kiến của mình.

9) Thi ân rồi kể công để ân biến thành oán.

10) Lúc nào cũng chủ quan, bất kể quan điểm kẻ khác.

11) Ai cũng thèm được thương hại và thèm thiện cảm. Cứ phớt lờ đi.

12) Không nghĩ kẻ khác tốt mà nghi ngờ, đố kỵ họ.

13) Làm cho người ta chán ngấy toàn bằng những lý thuyết khô khan và con số nhức óc.

14) Ỷ tiền bạc, quyền thế mà bất kể chí tiến thủ của kẻ khác.

15) Trắng nói đen, đen nói trắng làm cho chính người thân yêu nhất cũng điên đầu.



NHỮNG CÁCH DỄ GÂY THÙ CHUỐC OÁN

1. Ham cãi lộn và cãi cho thắng bất cần phải quấy.

Ông Constant viết về đời tư của Napôlêông nói lần nào chơi bida với Hoàng hậu Joséphine, Napôlêông cũng nhường cho Hoàng hậu thắng. Ta rút ra từ đó bài học quý báu này là trong những việc nhỏ nhặt nhiều khi muốn cho cuộc sống êm dịu ta phải nhịn thua. Năm xưa, tôi có hai người bạn cãi nhau thiếu điều đánh lộn về con số đo bề cao của đỉnh Everest. Trong vô số cuộc hội thảo, từ những phiên họp thông thường đến những hội nghị quan trọng, bạn biết thiếu gì người không lo tìm chân lý mà bắt bẻ từng tiếng nói nữa, biến thành cãi lộn hàng tôm hàng cá. Người ham cãi lộn và ngụy biện chẳng những không thuyết phục được ai hết mà còn tiêu hoang dũng khí, tư cách của mình. Tổng thống Lincoln khuyên một sĩ quan trẻ tuổi nọ: “Ai muốn luyện tâm hồn không bao giờ cãi vã. Tính tình sẽ thành khó chịu, tự chủ sẽ tiêu tan do những cuộc gây gổ đó”.



Tranh luận đứng đắn thì không nói gì chớ gây lộn thì đừng mong có kẻ thắng người bại. Ai cũng bảo rằng mình có lý. Kết quả chỉ gây thù chuốc oán sau khi đã đem những cặn bã của thú tính ra choảng nhau một cách dã man. Cũng có thể một bên câm họng vì bên kia “cả vú lấp miệng em”. Mà như vậy có phải bên kia thắng đâu, chỉ là đàn áp thôi. Trong thâm tâm người bị cãi đến bặt hơi, chân lý chưa sáng tỏ, chỉ có uất ức, hiềm thù. Franklin nói cãi lộn làm cho người ta ngượng, ích lợi gì, vì có bao giờ cách ấy làm cho người ta đồng ý với mình.



Theo dõi những cuộc hòa đàm thí dụ ở Bàn Môn Điếm hay Ba Lê chẳng hạn, bạn có thấy tức hộc máu không? Mà ai dám bảo hai bên không là những bậc trí thức. Trí thức nói chuyện với nhau mà còn vậy huống hồ cãi vã với người thiếu hiểu biết. Ông Adoo không vô lý khi nói: “Lý luận không bao giờ thắng một người ngu”. Đó là chưa nói trong trường hợp tự ái nổi điên lên thì học hết mấy đại học cũng có thể phát khùng và tranh biện trở thành cãi lộn hay gì gì khác hồi nào không hay.



Thượng sách là bạn tránh các cuộc cãi vã và nếu cần tranh biện thì bình tĩnh bắt tình cảm qui phục trí lý.



2) Mắng như tạt nước lạnh vào mặt rằng người ta lầm.

Thì người ta lầm thật đấy. Tôi và bạn cũng có thể lầm như họ. Không phải chỉ Roosevelt mà cả Albert Einstein đều thú nhận trong một trăm lần xét đoán đúng chừng bảy tám chục lần thôi. Ông hoàng của triết là Socrate mà mấy ngàn năm trước cũng nói có một điều mình biết chắc chắn là mình không biết gì hết. Những bộ óc lớn của nhân loại còn thật thà tự thú như vậy huống hồ chúng ta. Nói chuyện hay tranh luận với ta, người khác không cho mình lầm đâu. Lại còn không chịu ai nói mình lầm. Tại ông “Thần tự ái” trong họ muốn như vậy. Bị mắng là lầm trong đầu óc họ phải quấy lẫn lộn. Họ chỉ còn nước chồm tới cãi sao cho thắng ta thôi. Chuyện bình thường kia mà muốn đổi ý họ đã khó khăn rồi. Ta mắng họ lầm là thêm giữa họ và ta một vách ngăn nữa. Cãi mà có quyền, có ăn “thù lao” như luật sư kia còn phải lựa lời “đắc nhân tâm” ông tòa. Bạn có thấy luật sư nào muốn đốt bạc của thân chủ mình bằng cách sửa lưng hay mắng ông tòa là lầm, là ngốc không? Còn ta, muốn kẻ khác vừa theo ý ta, vừa mến ta, tại sao ta làm họ mất mặt?



Họ có danh dự của họ. Nếu ta lầm, ta thành thật nhận mình lầm. Nhớ nhận thành thật. Không thành thật lời thú nhận trở thành nói móc và như vậy còn “khai pháo” hơn nữa. Bấy giờ chỉ có thù oán chất chồng.



3) Lên mặt khôn vặt là trổ tài sái mùa.

Trượng Nhân nói với Tôn Thúc Ngao rằng có ba điều gây thù chuốc oán: Tước cao, quyền lớn, lộc nhiều. Bạn nên thêm: Tài mà không biết yểm tài nếu không chết bậy cũng sự nghiệp tan tành. Đọc Tam quốc, bạn quên sao được Dương Tu trổ tài lặt vặt làm mất mặt Tào Tháo và bị tướng này trảm đầu. Trong “Sử Ký” Tư Mã Thiên chép: “Miệng Lão Tử khuyên Khổng Tử: người quân tử nhiều lúc phải sống như đứa ngu, bỏ đi kiêu khí và đa dục thân mới yên, lo bươi móc, biếm nhã chuyện thiên hạ thì vong mạng”. Vĩ nhân như Khổng Tử mà còn cần nghe những lời như vậy huống hồ người thường hả bạn? Quả thực như Nguyễn Du nói:



“Có tài mà cậy chi tài

Chữ Tài liền với chữ Tai một vần”



Người dù có tâm luyện đến đâu cũng không thoát khỏi bệnh thường tình của con người là “bệnh tự ái”. Trong thời Nam Bắc chiến tranh (ở Mỹ), chính sách của Lincoln có nhiều điểm sai lầm, Horace Greely mỉa mai, chỉ trích kịch liệt. Lincoln “mũ nỉ che tai” có thèm sửa đâu. Cũng may cho Greely vì ở Mỹ có dân chủ kha khá. Chớ phải ở xứ lạc hậu nào thì chắc có người ngồi tù rồi. Vì biết lòng người nham hiểm, nên Lưu Huyền Đức giả ngu, giả dại lúc lọt vào tay Tào Tháo. Ngày ngày Huyền Đức làm cỏ, trồng rau. Nghe Tào Tháo nói trong thiên hạ, anh hùng chỉ có Tào Tháo và mình, Huyền Đức giả bộ hoảng hồn, đũa đang cầm trong tay bỗng rơi xuống đất, viện lý là nghe sấm nổ ngoài trời mà thất kinh. Nhờ vậy, Huyền Đức khỏi nanh vuốt của Tào Tháo. Trong cuốn Chạm trán với đời, tôi nói bạn nhiều khi không làm ác với ai hết, nội một việc ta sống thiện, ta có tài hơn người cũng có thể cho ta bị hại. Bóng tối lúc nào cũng chực chờ bủa quanh ánh sáng. Có cái hơn người mà không “thủ chi dĩ ngu” lại đem khoa trương sái mùa mà rước họa.



4) Lầm lỗi mà cứ ngoan cố phản đối, giành phần phải cho mình.

Nhờ khéo “mềm lưng” hay sao đó tôi làm lớn. Bữa nọ đậu xe chỗ cấm, bị cảnh sát phạt, tôi sừng sộ mắng lại tại sao tôi làm lớn mà cảnh sát phạt? Viên cảnh sát không ngán, cứ phạt. Bạn cùng đi xe với tôi thấy tôi vừa bị phạt vừa bị giằng co lôi thôi, trễ công việc, bước xuống xe nói phải quấy vài lời với viên cảnh sát. Ông này đổi giọng phân trần: “Nào tôi định làm khó dễ quý ông đâu. Biết quý ông có phận sự, tôi chỉ nhắc rằng ở đây không được đậu xe, quý ông nên xích lại đằng kia. Thế thôi. Tôi giận là tại ông ấy mắng tôi. Thôi được rồi. Quý ông đi đi”. Đấy! Bạn thấy không, kết quả do tôi ngoan cố, hách dịch và do bạn nhận lỗi, mềm mỏng.



Bài học lúc còn thơ trong câu ngạn ngữ pháp: “Lỗi tự thú đã được tha phân nửa”. Bài học ấy ai mà không biết, song không phải ai cũng thực hành. Thì cũng tại thấy tự ái mà người ta ai cũng ngại ngùng, khó chịu khi nhận lỗi. Ai biết thắng được khó khăn ấy, chiếm được lòng khoan dung dễ dàng. Elbert Hubbart tác giả bức Thông điệp gởi cho Garcia là một danh sĩ lỗi lạc, có lần bị một độc giả viết thư chỉ trích bằng những lời lẽ ít êm đẹp. Bạn biết ông phản ứng ra sao không? Viết thư nhận lỗi và mời độc giả lúc rảnh đến nhà ông chơi để thảo luận thêm. Đọc thư ông, độc giả ấy còn giận ông nổi không bạn? Ở nước ta mấy chục năm trước, Phan Văn Hùm làm một cử chỉ đẹp: Bị chỉ trích về một bài báo, ông làm mấy vần thơ trong đó thú nhận vốn Hán văn của ông là vốn tự học nên bị lỗi lầm. Và lời xin lỗi của ông làm cho kẻ chỉ trích ông thành bạn của ông. Không phải loài người chỉ mềm lòng khi được xin lỗi đâu bạn, từ bậc thiêng liêng đến phàm nhân đều đầu hàng trước “ma lực” của sự thú lỗi chân thành: Muốn nắm nhân tâm, tại sao bạn không dùng “mật pháp” đó?



5) Nói như búa bổ vào mặt người ta.

Bạn đọc giùm tôi ba lần câu này của Wilson: “Nếu bạn cung tay lên nói chuyện với tôi thì bạn yên trí rằng tôi cũng sẽ gởi lời lại bằng hai quả đấm”. Bạn có thấy chất triết lý thâm trầm về xử thế thấm lan dần trong tâm hồn bạn không? Thì vậy đó bạn. Mũi tên bắn vào tự ái thường dội ngược lại người bắn. Lửa đang cháy phải xịt nước chớ đừng chế xăng. Mấy ngàn năm trước, Lão tử nói: “Thiên hạ nhu nhược ư thủy, nhi công kiên cường giả mạc chi năng thắng”. Đức Giêsu thể hiện triết lý đó bằng hành động cao cả. Lúc bị quân thù bắt đánh, khạc nhố vào mặt, ngài làm thinh. Áp dụng nhu thuyết vào chính trị, Gandhi đề cao bất bạo động để trừ bạo động.



Ai cũng dễ nổi sóng. Nghe ai chọc tức, Phật cũng khó ngồi yên, điều đó đúng cho bọn côn đồ cũng đúng cho người trí thức chỉ có học vấn mà thiếu tâm luyện. Phải biết tự chủ lắm người ta mới biết dụng nhu trị cương. Người chí cực điềm đạm mới đủ can đảm mềm mỏng khi bị kẻ khác nói nặng. Họ biết rằng “ăn miếng trả miếng” không lợi gì cả. Vẫn biết có thứ giận thánh: Irasancta như trong trường hợp Đức Giêsu dùng roi đánh bọn con buôn không tôn kính đền thờ Giêsusalem. Vẫn biết như vậy. Song trong giao tế hằng ngày, ai không mềm mỏng, trăm việc bất thành đến gần trăm. Ai không có kinh nghiệm rằng trong thời qua, thiếu gì việc tại mình nóng bậy một chút mà hỏng. Ai không biết rằng muốn bắt ruồi phải dùng mật chớ không dùng giấm. Vậy mà người ta hay làm ngược lại. Người ta đó có tôi và bạn. Ta cứ tưởng rằng lý trí thắng lý trí nên ta thích lý luận, thay vì mềm mỏng thì lấy lý nhét vô óc người ta. Mà trong thực tế chính tim thắng óc, chính tình cảm bẻ gãy lý trí. Biết bao người làm nên nghiệp cả đều nhờ theo nhu đạo đức là bên ngoài mềm mỏng mà bên trong vận dụng ý chí mãnh liệt. Văn Vương bị vua Trụ bắt giam, xẻ thịt con Văn Vương là Bá Ấp Khảo làm mắm cho Văn Vương ăn. Văn Vương ăn vì nhẫn nại. Câu Tiễn lọt vào tay Ngô Phù Sai quỳ mọp, khúm núm. Trương Lương ba lần lượm dép, mấy lần chờ đón ông lão để lãnh ba quyển sách dạy an bang tế thế. Cả hai đều là những chí nhân thờ chữ Nhẫn. Socrate là bậc đại trí của nhân loại, lại bị “ông tơ bà nguyệt” trói cổ dưới tay một mụ vợ mất dạy, lấy sự hành khổ của vợ làm trường dạy mình thành thánh nhân. Thích Ca dạy lấy từ bi thế báo oán. Chúa Giêsu dạy hãy hiền lành và khiêm tốn trong lòng. Thưa bạn. Phải lắm! Nhu mới thắng Cương. Bạn không lầm đâu. Ôn tồn dịu ngọt sẽ thắng tất cả. Xin bạn thuộc lòng giùm tôi câu này của Napôlêông: “Chỉ có hai thế lực trên đời: Thanh gươm và tinh thần. Rút cục tinh thần đánh bại thanh gươm”.



6) Kích bác cho người ta chống mình ngay từ lúc đầu bằng những tiếng “Không” hằn học.

Trong cuốn “Influencing, Human Behavior”, Giáo sư Overstreet nói khi người ta đáp “không” rồi, lòng tự phụ bắt buộc người ta giữ quyết định ấy mãi và rất khó làm cho người ta đổi ý. Điều này càng đúng cho người làm lớn. Họ lỡ nói như vậy rồi. Họ tự ái, cho rằng đổi ý bị mất mặt. Biết tâm lý cố hữu ấy của con người hay không mà nhiều khi muốn dẫn dụ kẻ khác ta hớ hênh hoặc lo nói cho thỏa thích mà để họ chống đối ta ngay khi ta mới định thuyết phục họ. Ta có tự mâu thuẫn không. Ta muốn họ đồng ý với ta chớ phải ta định chứng minh cho họ thấy rằng ta học giỏi khoa lý luận đâu. Ta chọc tức kẻ khác khiến họ phản đối ta rồi thì ta đem năm bảy xe lý luận của Kant, Descartes đến đổ lên lưng họ chưa chắc phục lý ta. Ta phải thắng họ bằng con đường khác: bằng phương pháp của Socrate. Mẹ của Socrate là một bà đỡ đẻ. Trong tư tưởng Socrate bắt chước mẹ ở chỗ không “đẻ” ngay sáng kiến của mình mà giúp kẻ khác “đẻ”. Phương pháp của ông là đặt ra câu hỏi để cho đồ đệ hay đối phương đáp “Phải”, đáp “Có”. Dần dần, sau cùng họ nói ra điều Socrate muốn họ theo. Ngạn ngữ Trung Hoa nói: “Dục hành viễn, tất tự nhi”, nghĩa là đi xa phải đi từ nơi gần. Ta đừng muốn kẻ khác đồng ý trọn vẹn với ta liền. Mới quá, họ nghi ngờ. Vả lại bụng tự ái cũng cản họ làm như vậy. Biểu họ nghe mình thế này, thế nọ là tỏ ra “sứ” của họ rồi mà có ai thích ai lên mặt thầy mình bao giờ. Chỉ có cách duy nhất đế kẻ khác làm theo ý mình là mớm ý cho họ, giúp họ cưu mang sáng kiến, tự ý đề ra sáng kiến và thực hiện nó.



7) Chặn họng không cho người ta nói.

Bạn muốn dẫn dụ một người đang tức giận bạn phải không? Bạn làm cách nào?



Thế thường là chúng ta hành động như vầy: Ta lo phân bua, lý luận, dành phần phải về mình. Họ mới nói vài câu, ta cướp lời họ, kể lể tiếp, đem đủ thứ bằng chứng đổ lên đầu họ cho họ thấy rằng họ quấy. Trong cơn tan bành ở cái thế ăn thua đủ với ta, họ có thèm nghe ta nói phải quấy gì đâu. Bụng dạ họ đang như là nồi nước sôi đang cần xả hơi kia mà. Họ có lý của họ. Họ thèm bộc bạch tâm sự. Bạn đã nhớ chứ, đại gian đại ác như Tào Tháo mà cứ bảo mình làm nhân làm nghĩa. Học hành cao đến đâu là một chuyện, mà nô lệ tự ái của mình là một chuyện khác. Ta hãy ý thức điều đó để cho đối phương bày tỏ tâm can của mình. Có thể lầm lắm mà tại sao đối phương không thể có lý. Tìm chân lý phải có thái độ chân thành khiêm tốn.



Để đối phương nói chẳng những ta quý trọng quyền phát biểu cảm tưởng của họ mà còn học nơi họ những điều hay. Muốn nói một mình, thì mình nói mình nghe chứ ai cảm phục mình khi họ tức như nước sắp vỡ bờ. Ta tự phụ là khôn hơn người ư? Tự phụ chỉ làm thiên hạ ghét. Vả lại xét cho cùng như Dale Carnegie nói ta chỉ là phàm nhân. Giữa khôn và ngu chỉ hơn nhau tí chút iode trong hạch giáp trạng tuyến thôi. Bởi vậy những đại trí thức thường khiêm tốn là phải. Socrate bảo chỉ có một điều là mình không biết gì hết. Khổng Tử thì dạy biết nói biết. Không biết thì nói không biết. Trong những ngày tàn, đại triết gia Thomas DAquin nhìn đống tác phẩm khổng lồ của mình nói: “Đó là đồ rơm, đồ rơm!” Bạn phàm minh không lý gì tự phụ hả bạn.



8) Cứ lên mặt dạy khôn người và cao ngạo với sáng kiến của mình.

Lúc Wilson làm Tổng thống, có một sĩ quan ảnh hưởng mạnh nhất trên các quyết định của ông. Đó là đại tá House. Ông dùng bùa phép nào vậy? Bùa phép của ông như vầy: Khi muốn Wilson thực hiện điều gì, ông lựa cơ hội thuận tiện, nói sơ qua điều ấy. Nói sơ qua thôi, House không thuyết phục. Bạn nhớ kỹ nhé. Ông chỉ gieo giống sáng kiến nơi đầu óc Wilson. Khi Wilson đem sáng kiến bàn với ông, cho ai khác thì chắc vỗ tay reo là mình đã đề nghị như vậy. House không ngốc thế ấy, ông phớt tỉnh, chú ý nghe Wilson nói và góp thêm ý kiến để sáng kiến thành kế hoạch. Đó, “bùa phép” của House như vậy đó. Biết bao nhiêu người nằm trong cơ quan đầu não bao vây thủ lãnh mà không ảnh hưởng được thượng cấp chỉ tại không hành động như House. Không phải họ kém mưu kế mà tại họ trình bày mưu kế như bửa óc thượng cấp ra nhét túi khôn vào đó. Họ quên rằng càng làm lớn càng dễ tự cao tự đại. Đâu phải hễ ai làm lớn rồi ai cũng là một Lưu Bị thích có một Khổng Minh, một Lưu Bang thích có một Tử Phòng, một Lê Lợi thích có một Nguyễn Trãi hay một Nguyễn Huệ thích có một La Sơn Phu Tử. Mà chắc các quân sư này cũng không theo con đường nào khác hơn là con đường của House đối với Wilson. Tâm lý con người là tâm lý muôn thuở. Cái gì người ta thấy của mình thì người ta quý trọng hơn. Bạn đừng định đổi luật ấy của con người. Muốn ảnh hưởng ai đừng đốt đèn tài sáng quắc làm họ chóa mắt. Lại càng không nên coi họ như học trò, mà phải gieo giống sáng kiến cho nó trổ hoa kết quả trong lòng họ. Bạn nhớ gieo giống chứ không phải làm nghịch lại nhé.



9) Thi ân rồi kể công để ân biến thành oán.

Ân mà ban với lòng tốt kia còn có thể sinh thù để oán, huống hồ kể công để ân thành oán. Bạn ngạc nhiên ư? Bề trái của ân chua chát lắm mà đúng như vậy từ cổ chí kim.

Bà Phiếu Mẫu thấy Hàn Tín đói cho ăn cơm, Hàn Tín nói sau này có lúc tôi sẽ đền ơn bà. Nói như vậy Hàn Tín tự nghĩ phàm đại trượng phu mà ăn xin bát cơm thế này chỉ là một việc qua đường. Việc của đại trượng phu là việc cả. Nên nghiệp cả rồi sẽ thanh toán ân chớ không chịu mang ơn mãi. Bà Phiếu mẫu biết tâm lý mắng lại rằng tại thấy đói mà cứu khổ cho chớ có thèm được trả ơn đâu.



Lúc Huệ Tử làm tướng nước Lương, Trang Tử định đến thăm. Huệ Tử nghe ai sàm tấu nói: “Trang Tử đến để giành chức quốc tướng với ông”. Bạn thấy nghẹn ngào vì chua xót không?



Bạn chắc còn nhớ hài kịch “Chuyến du lịch của Perrichon” của Eugène Labiche chớ? Perrichon có đứa con gái đẹp, Armand và Daniel ngắm nghé bóng hồng ấy. Armand ba lần làm ơn cho Perrichon. Daniel thì được Perrichon thi ân. Thế mà oái oăm thay, Perrichon không gả con gái cho Armand mà lại gả cho Daniel thụ ân mình. Não nề không bạn, Armand thi ân mà vô tình làm Perrichon tự ái. Perrichon cưỡi ngựa té, Armand cứu là làm cho ông thấy rằng ông cưỡi ngựa dở. Ông bị kiện thưa, Armand cứu là làm cho ông thấy là ông sai lầm. Ông bị thách đánh gươm, Armand cứu là làm cho ông thấy rằng ông hèn. Kẻ làm cho mình thấy “dở”, “lầm” và “hèn” thì mình ghét. Perrichon nghĩ như vậy, và đã ghét mà còn chọn làm rể à?



Daniel giả bộ té xuống hố để Perrichon vớt lên là tạo cơ hội cho ông này tỏ ra hiệp sĩ, anh hùng. Chàng chiếm được cảm tình của Perrichon, và chàng trai nào mình thích thì gả con gái cho: Perrichon cho vậy là phải.



Viết đến đây tôi phải cứng bút lại trên tay. Tôi không còn biết nói sao với bạn. Tình đời như vậy đó. Trong Lục Vân Tiên, bạn thấy Kiều Nguyệt Nga đáp lại tiếng gọi con tim chàng họ Lục vì “Chữ ân lại buộc chữ tình lây dây”. Trong thực tế nhiều trường hợp xảy ra như vầy: Chàng A theo đuổi nàng B. Thật tình thi ân cho nàng, có thể sau cùng bị nàng trách là tạo cơ hội cho nàng xài lớn, thà để nàng túng thiếu hay hơn. Rồi trong khi chàng C cũng đeo đuổi nàng mà đểu giả. Viện lý là nghèo không lo cho nàng được gì, nàng thấy vậy thương, lấy của chàng A nuôi chàng C, trong lúc chàng C lạm dụng tình mù quáng của nàng để cầm chân nàng mà dòm ngó những giai nhân khác, giàu có, học vấn cao hơn.



Ân đẻ oán là vậy. Còn quên ân thì trong đời sao kể xiết. Đức Giêsu chữa 10 người khỏi bệnh hủi. Chỉ có một người sau khi lành bệnh trở lại cảm ơn Ngài. Chua xót nhất là người ấy không phải là người đồng hướng với Ngài. Biết bao cha mẹ “Nuôi con như biển hồ lai láng” về già kêu trời không thấu vì con trai sợ vợ, con gái theo chồng bỏ cha mẹ cô đơn, nghèo túng.



Tôi chưa nói với bạn vô số chính trị gia lúc sinh tiền ngồi trên chóp bu quyền lực làm không biết bao nhiêu công, ngã lăn ra chết có khi bị coi như một tội nhân ghê tởm.



“Ân” “nghĩa”, thưa bạn ban bố với lòng quảng đại còn như vậy huống hồ thi ân rồi kể công. Thi ân đã chạm tự ái người ta, kể công làm cho tự ái càng tan nát thêm. Ân do đó thành oán cay oán đắng.



Người xưa bảo: “Thi ân mặc niệm còn thụ ân mạc vong”. Tại vì làm ơn hãnh diện nên nhớ mà thụ ân tự ái nên quên. Biết chân lý ấy, khi làm ơn cho ai bạn làm vì đức bác ái và chuẩn bị lòng bao dung thì mới khỏi nghẹn ngào vì lòng vong ơn bội nghĩa muôn thuở của con người.



10) Lúc nào cũng chủ quan, bất kể quan điểm kẻ khác.

Muốn dẫn đạo người mà cứ khư khư chủ quan, bất cần đếm xỉa đến quan điểm kẻ khác là muốn việc phi lý. Tôi làm bậy, bạn có quyền mắng tôi. Song bạn đừng quên tôi có lý của tôi. Ngồi ăn trong một nhà hàng sang trọng, bạn thấy từ ngoài cửa dìu nhau vào một cặp uyên ương. Nàng đẹp lộng lẫy, còn chàng trai nhỏ con làm bạn tưởng đâu thứ người ở gốc lác gốc đưng gì mới lên. Bạn chê thầm nàng lọt tròng té nổ. Bạn có biết đâu nàng mê chàng không vì diện tướng bên ngoài mà vì chàng tài cao, ruộng đất cò bay thẳng cánh hay có khi vì lỡ kẹt “cái gì đó” mà trở thành duyên phận. Chuyện đời đa diện mà mình ngó vừa bằng cặp kính màu chủ quan vừa nhìn chỉ một phía nào thôi thì sao khỏi lầm được. Ta thường hay mắc cái tật đòi ai cũng nghĩ, cũng thích, cũng làm như mình. Tật thật kỳ cục. Ta là ta còn thiên hạ là thiên hạ. Bạn là trí thức, tôi là một gái kém học. Bạn trách tôi sao không mê bằng cấp của bạn lại đi mê kẻ giàu nhưng ít học. Bạn có thấy bạn vô lý không?



Tôi thi rớt đã oán ghét học hành rồi lại thêm mặc cảm học dở. Tôi thấy giữa bạn và tôi chênh lệch với nhau về tinh thần, tôi không thích. Bạn có giá trị tinh thần thế nào mặc kệ bạn. Còn tôi, tôi mê ai đáp đúng đòi hỏi của tôi. Bạn khinh bỉ tôi ư? Tùy bạn. Mà tôi tưởng chuyện đời vô số như vậy. Mỗi người có quan niệm sống, quan điểm lý luận riêng. Bạn đừng bắt bọ hung làm chim phượng hoàng hoặc ngược lại. Muốn chinh phục ai hay ít ra đừng tạo họ thành thù, bạn hãy dẹp cặp kính màu chủ quan đi, tập đặt mình vào địa vị kẻ khác. Xử thế như vậy bạn sẽ bớt bực tức, thấy đời đẹp hơn và có thể “đắc nhân tâm” hơn.



11) Ai cũng thèm được thương hại và thèm thiện cảm. Cứ phớt lờ đi.

Nhiều đứa trẻ chạy chơi đụng u đầu, tét mặt chạy về mẹ vừa khóc hu hu vừa kể lể. Nó cần được mẹ nó vuốt ve nghe nó phân bua rằng nó không làm cái gì hết, không lỗi gì ráo, tại người này, vật nọ làm đầu nó mọc sừng và mặt nó rướm máu như vậy. Bạn chỉ tưởng có con nít mới thèm khát thương hại và thiện cảm như vậy sao? Người lớn cũng y như vậy, thưa bạn. Tôi quen bà chủ một nhà hàng nọ. Cả chục lần gặp tôi bà đều cầm lại kể chuyện làm ăn của bà. Bà to con, tiếng rổn rảng nói thao thao bất tuyệt. Nhìn bà, tôi thầm cảm ơn ông tơ cho tôi khỏi cùng bà kết duyên. Ớn bà quá. Bà nói nào bà buôn bán lỗ, bà bị phạt thuế, bà bị gian lận. Bà lôi cả chuyện con dâu, thằng rể bất hiếu bất thảo ra buộc tôi nghe. Tôi lóng tai nghe thì bà cho là vạn hạnh lắm. Bà bảo rót thêm nước trà cho tôi uống để ngồi lâu nghe bà than thân trách phận. Mới đầu tôi bực, mà suy nghĩ lại thì không phải chỉ một mình bà thấy đói khát bộc bạch tâm sự. Chính Lincoln trong thời làm Tổng thống đã nhiều lần mời một ông bạn già ở một tỉnh xa đến không phải để bàn quốc sự gì hết mà để tâm sự. Người có nỗi u ẩn ưa gặp người tri kỷ để bày tỏ. Nói ra cho tâm hồn vơi đi bớt trầm luân. Còn nói chi những người bị chỉ trích, bị tố cáo. Họ làm sao ăn ngon ngủ yên. Họ chịu không nổi cảnh cô độc. Sông sầu biển thảm trong họ thúc đẩy họ tìm người biết nghe họ để họ phân trần, phân bua.



Ngay những người chỉ trích ta, mỉa mai ta nặng nề nữa, thưa bạn, cũng có kẻ hối hận thú lỗi giao hảo lại với ta nếu ta chịu khó gặp họ, xin lỗi hay chấp nhận lý phải của họ. Bạn đừng tưởng chỉ thường nhân mới cần người hiểu mình. Đọc “Phúc âm thư”, bạn không thấy chúa Giêsu tỏ ra thích cách riêng môn đồ độc thân là thánh Gioan, kẻ thường gần gũi tâm sự với ngài sao. Vậy muốn nắm lòng người, bạn phải đáp thành thực lòng thèm khát thương hại và thiện cảm của kẻ khác.



12) Không nghĩ kẻ khác tốt mà nghi ngờ, đố kỵ họ.

Trước hết, tôi đồng ý với bạn trong xã hội có ác nhân. Có nhiều con quái vật không tòa án khám đường nào trị nổi đâu. Cũng có những bụng dạ lai quỷ coi luân lý như sọt rác và chuyên môn bịp. Bạn phải đề phòng những hạng người đó. Không thể lạc quan với họ được đâu. Nhưng chắc tôi nói điều này bạn không cãi: Đó là nhiều tên đại ác còn chút lương tâm ít ra đối với một giới nhỏ hẹp nào đó. Gian ác đầy đầu mà còn chút tia sáng ấy thì đa số loài người ai làm cái gì cũng hay nghĩ đến được một cái gì cao cả đó. Pierpont Morgan chí lý khi nhận xét rằng con người hành động thường bởi hai nguyên do: Nguyên do “chìm” tức một ẩn ý nào đó và nguyên do “nổi” là lý tưởng chân, thiện, mỹ, v.v...



Có thể khi hành động người ta nhắm nguyên do thứ nhất. Đó là nguyên do chính. Song dù biết vậy ta không cần nghĩ đến chi mà để ý nguyên do gọi là cao cả, tốt đẹp. Ta nhấn mạnh nguyên do này để kích thích họ. Ta thường có thói quen tấn công ngay mặt mà ít khêu gợi kẻ khác làm cho một việc tốt nhờ đó việc xấu không xảy ra. Nhiều nhà giáo dục cấm con trẻ mê ăn háo uống mà ít nhà giáo dục cho trẻ thấy ăn uống chừng mực đáng khen, có lợi.



Chơi với một người bạn có nhiều tính tốt mà lọt vài tật xấu, ta hay dựa vào tật xấu ấy để nghi ngờ, đố kỵ. Xét cho kỹ thì ta cũng có thể như bạn ta. Song đối với “thằng tôi” của mình nếu ta khoan dung bao nhiêu thì đối với kẻ khác ta nghiêm khắc bấy nhiêu. Thái độ ấy thường làm cho kẻ đã xấu trở thành xấu hơn và bạn trỏ thành thù. Ta nên theo lời khuyên của Dale Carnegie mà xử đối một cách khác, xây dựng hơn, đó là gợi ở kẻ khác tình cảm cao thượng để họ nương theo đó mà hành động tốt, mà từ thù thành bạn.



13) Làm cho người ta chán ngấy toàn bằng những lý thuyết khô khan và con số nhức óc.

Nhìn hai thớt voi đứng sừng sựng trên mui xe hiệu Chrysler ai không tin rằng loại mui xe ấy chắc. Người bán máy lạnh muốn cho người mua tin rằng máy chạy êm, đánh một que diêm xòe lửa, trong khi máy chạy vẫn nghe diêm quẹt cháy.



Nhiều nhà buôn khỏi sạt nghiệp nhờ biết lợi dụng con chuột hoạt họa Mickey để quảng cáo hàng. Các phương pháp trên đây chính truyền thanh và truyền hình đã làm, tức là đập vào thính giác, thị giác cùng óc tưởng tượng con người. Trong nhiều trường hợp muốn dẫn dụ ai, người ta dùng toàn lý thuyết và con số sẽ khó thành công bằng vận dụng âm thanh, hình ảnh. Ngay những người rất quen về đời sống tinh thần cũng lười suy nghĩ nhất là ở thời đại có đủ thứ chuyện làm cho người ta mệt như ở thời đại chúng ta. Nếu không nghe radio mà bắt bạn mỗi ngày đọc một xấp tin tức thì tôi không tin bạn ngày nào cũng đọc siêng năng. Nếu không xem truyền hình mà bắt bạn nghe thuật lại “Phim viễn du” thì chắc bạn ngáp dài. Vậy trong thuật dẫn đạo, bạn tác động trên trí hiểu kẻ khác mà đừng quên kích thích óc tưởng tượng của họ nữa.



14) Ỷ tiền bạc, quyền thế mà bất kể chí tiến thủ của kẻ khác.

Trong việc điều khiển người, vẫn biết “tiền” và “quyền” là hai yếu tố huyết mạch, song trong nhiều trường hợp ngoài hai yếu tố ấy còn có một động lực khác đó là chí tiến thủ. Lãnh đạo mà biết chọc cho khí ấy tức lên thì sẽ được nhiều hiệu năng ngoài sức tưởng tượng.

Roosevelt vừa thắng quân Y Pha Nho ở Cuba về, được bầu làm Thống đốc. Có kẻ nhao nhao lên phản đối, bảo rằng ông là kẻ ngụ cư, chỉ là tay võ biền không xứng làm Thống đốc. Ông nghe vậy thối chí, định rút lui. Platt nổi giận thách ông một câu: “Anh hùng núi San Juan mà nhát như thỏ vậy à?” Roosevelt bị chọc tức khí cương quyết đấu tranh và từ cái đà đó ông tiến vô tòa Bạch ốc. Tên ông ngày nay còn là tấm bia trong bao triệu người dân Mỹ. Ai trong mình cũng có động lực ẩn tàng núp dưới hình thức danh dự hay thể thống. Chọc ngay động lực thì “người hùng” của họ xuất hiện. Harvey Firestone nói tiền bạc không đủ nắm người tâm huyết, phải tạo cơ hội để họ chứng minh giá trị của họ. Nhờ bí quyết này mà hồi làm Thống đốc Nữu ước, AI Smith thúc đẩy được Lawes làm Giám đốc khám đường Sing Sing. Lawes biết không ai ngồi ghế Giám đốc đó mà thọ hết nên từ chối. AI Smith không năn nỉ, không mua chuộc, không gây áp lực. Một người như ông hành động khác, ông nói nghiêm trang với Lawes rằng: “Tại vì ghế đó chông gai, nên tôi mới cần một người như ông”. Lawes thấy mình hăng lên, muốn “thí nghiệm” khả năng. Kết quả là Lawes làm Giám đốc khám Sing Sing lâu nhất và nổi danh về các phương pháp cải huấn tù nhân. Bạn thấy không, hiệu quả của lá bùa tức khí.

15) Trắng nói đen, đen nói trắng làm cho chính người thân yêu nhất cũng điên đầu.

Nếu bạn muốn ai cũng phản đối mình, thì đây là cách chót, rất thần hiệu: Lường gạt. Ngày xưa Voltaire bảo nói dóc, nói dóc mãi, sau cùng còn lại một cái gì. Tôi không biết “cái gì” của ông già Voltaire là cái gì, song tôi biết “cái gì” đó là người nói dối không còn ai tín nhiệm nữa.

Nhìn người nói dối, bạn không còn biết dựa vào đâu để nói chuyện. Họ có một cuốn “tự điển” riêng trong đó ngôn ngữ không theo nghĩa điển chế thông thường. Họ vận dụng đủ thứ mánh khóe để ngụy trang sự thật. Lưỡi búa lường gạt không tha ai, kể cả người yêu của họ. Nếu nói dối là một lỗi biệt lập nghĩa là thỉnh thoảng vì lý do nào đó mà nói dối thì còn sửa được, còn tha thứ được.

Còn nói dối do bản tính quỷ quyệt tự nhiên, nói dối từ trong đường gân ống máu thì thôi, không sao chịu nổi và không dễ bị hoán cải.

Hòa bình nhân loại bị hăm dọa đời này sang đời kia cũng tại ngôn ngữ trong các hòa ước đổi trắng thay đen.

Biết bao lương tâm bị con mắt Cain, tức lòng hối hận giày vò chỉ tại phản lại đức thành thật.

Đa số gia đình tan vỡ tại đâu, nếu không do giả dối.

Có thể ai cũng giả dối ít nhiều song chắc chắn bất cứ ai cũng quý mến người thành thực.


Trong “thập điều” của Công giáo có điều thứ 8 cũng giống một trong ngũ giới của Phật giáo là “cấm vọng ngữ”. Sự kiện ấy chứng minh rằng đức thành thật vô cùng quý báu và tối cần cho con người.


Gandhi lúc còn thơ ấu nói dối, mẹ buồn. Để cam kết với mẹ rằng không nói dối nữa, ông cầm cục than lửa trong lòng bàn tay đến khi cục than lửa nguội, về sau, trong thời gian tranh đấu, có lần ông nói vết thương trong lòng bàn tay ông là hình ảnh của mẹ ông và nó như “thần hộ mệnh” gìn giữ ông luôn trong vòng thành thật.


Gương ấy được mệnh danh là “Lương Tâm Nhân Loại”, có làm bạn cảm động không? Khi bị tra tấn, Đức Giêsu nói với quân dữ: “Nếu tôi nói thật, sao quý ông đánh khảo tôi?” Và cả đời Người hễ mở miệng ra giảng là bắt đầu bằng mấy tiếng “Quả thực, quả thực tôi nói cùng anh chị em...”


Vua Lỗ bảo Nhạc Chính Tử đem cái đỉnh giả nộp cho nước Tề. Nhạc Chính Tử bảo sao không đem đỉnh thật, vua Lỗ nói quý đỉnh ấy quá. Nhạc Chính Tử tâu: “Nếu nhà vua quý đỉnh ấy thế nào thì tôi quý chữ Tín của tôi thế đó”.


Lúc còn nhỏ có lần Washington chặt phá cây quý của cha ông trồng. Cha biết được giận dữ, ông khoanh tay lại thành thực xin lỗi cha. Abraham Lincoln nói ta có thể gạt nhiều người một lần, gạt một người mãi mãi nhưng không thể gạt hết mọi người. Mặt nạ của giả dối tuy đa dạng song rất bở, còn lòng chân thành nhiều khi xem ra thua thiệt mà rất bền vì nó là nền tảng của giá trị con người.

Hoàng Xuân Việt
cantho

->Đọc thêm...

9.9.14

TÔI LÀ AI ?


Đề kiểm tra học phần Văn Học Châu Á của tôi chỉ vỏn vẹn ba từ “Bạn là ai?”. Đó là một băn khoăn và cũng là vấn đề mà giới trẻ ngày nay cần quan tâm. Khi con người trưởng thành, sẽ có rất nhiều thắc mắc được đặt ra. Trong số đó, có những câu hỏi hết sức nan giải: Bạn là ai? Trả lời câu hỏi “Tôi là ai”, một câu hỏi tưởng chừng dễ, nhưng để tìm ra một phương án trả lời đúng đắn và khôn ngoan lại là một vấn đề khác, rất khó. Và khó có thể thỏa mãn được người đã đặt ra câu hỏi đó. Để làm sáng tỏ được vấn đề này, cần phải có một sự trải nghiệm không những quá khứ, mà ngay cả hiện tại và tương lai.

“Tôi là ai” liên quan đến một phạm trù triết học nói về con người, sự thắc mắc ở đây cũng là sự tự lý giải tự nhiên và xã hội, trong đó có con người. Trả lời câu hỏi đó, chúng ta lại phải đặt ra hàng loạt câu hỏi khác bao quanh nó, và nhiệm vụ của ta là phải trả lời hết những câu hỏi đó. Hiện tại ta đang làm gì? Quan niệm sống của ta ra sao? Mục đích sống của bản thân như thế nào? Và lý tưởng của ta là gì trong cuộc sống hiện đại này?…

Tôi là một chỉnh thể vừa độc lập, vừa phụ thuộc vào thế giới bên ngoài. Bản thân không ngừng phát triển, cả về tri thức lẫn ngoại hình, tiếp tục trau dồi những cái mới, cái tiến bộ để bắt kịp thời đại. Sinh tồn trong xã hội ngày nay không phải dễ, đất chật người đông, cơ hội việc làm khó khăn, từ đó đòi hỏi có những con người thật sự tài năng. Vậy tôi nằm ở phần trăm thứ bao nhiêu trong cơ hội đó? Thật nhỏ nhoi và mong manh! Gắn liền với hiện thực đó, cần có quan niệm sống lành mạnh và phù hợp. Sống không chỉ lợi cho bản thân, mà chữ nhân phải được đặt ở vị trí cao hơn cả. Sống không lợi dụng, không sống giả dối, đặc biệt là giả dối với chính bản thân mình, điều đó thật đáng kinh tởm. Điều quan trọng là phải biết tự thân vận động, không “há miệng chờ sung”, sống là phải biết phấn đấu không ngừng. Xã hội ngày nay có rất nhiều tấm gương vươn lên hoàn cảnh để phát triển, tự hoàn thiện chính mình. Đó là những con người không lành lặn, nhưng vẫn chiếm lĩnh cả tri thức và cuộc sống.

Đặt ra những quan niệm sống như thế, thì cần có mục đích đúng đắn và phù hợp với cả quan niệm của xã hội. Người ta nên sống vì hai mục đích lớn và quan trọng,thứ nhất vì bản thân: có thể đem lại sự thành công cả về vật chất tiền của và cả tinh thần, không ai trong xã hội này sống mà không nhờ của cải vật chất, dù đó là thứ bé nhỏ như thế nào. Thứ đến vì những người xung quanh, trong đó có gia đình, bạn bè và người thân; đem lại sự hãnh diện, sự tự hào và cả niềm vui cho những người xung quanh, góp phần làm cho xã hội ngày một phát triển và tươi đẹp hơn. Muốn được như thế, đặc biệt đối với một người “quân tử”, cần có một lý tưởng cao đẹp trong thời đại mới này, không phải làm việc được người đời biết đến vì điều lạ, nhưng phải do chính năng lực, tài năng và bản lĩnh của bản thân, đó mới chính là điều làm cho con người thấy thỏa mãn.

Khi đề cập đến “Tôi là ai?” thì cái “bản ngã” xuất hiện liền kề, những vấn đề nêu trên chỉ là ý kiến một chiều trong một cái tôi, nhưng trong xã hội hiện tại, có những cái xã hội đã làm được, nhưng bên cạnh đó, cũng có những điều chưa làm tròn nhiệm vụ. Xã hội đâu đó vẫn còn những bất công; chúng ta góp phần làm cho xã hội xanh, sạch và đẹp nhưng bên cạnh đó vẫn còn tràn lan sự ô nhiễm môi trường; rồi ngay cả số vụ tai nạn giao thông không ngừng tăng, thậm chí ngay trong tháng an toàn giao thông… Đó là những cái tuy nhỏ nhưng rất cụ thể cho một xã hội chưa hoàn thiện. Chính vì thế, là những người trẻ, một bộ phận làm nên xã hội, là những hạt giống tương lai của đất nước, hãy ra sức để xây dựng một xã hội văn minh, giàu đẹp.

Tôi – liên quan đến tất cả những gì tác động đến con người, thuộc về thế giới xung quanh ta. Từ đây, cái tôi cũng không còn đơn lẻ, nó đi đến cái ta để hòa nhập. Con người với những mối tương giao rộng lớn, từ cái riêng đi đến cái chung. Theo quan niệm văn học cổ, con người là một bộ phận của vũ trụ, con người phải luôn tồn tại trong mối quan hệ tương quan mật thiết với vũ trụ, không có sự tách rời con người thành một cái tôi độc lập như văn học hiện đại. Hay chúng ta có thể bắt gặp trong văn học, phạm trù cái đẹp thuộc về cái tôi khép kín, lạc lõng như một ốc đảo, hay cái tôi cực đoan cự tuyệt giá trị cao quý mà “cái ta” thừa nhận. Phạm trù cái tôi thuyết minh cho sự tiến bộ, đồng thời xác định cá tính sáng tạo trong văn học. Từ hai ví dụ trên, chúng ta thấy được cái tôi và cái ta hòa hợp, nhưng đôi lúc cũng đấu tranh với nhau, từ đó, chúng ta thấy rõ trong bản thân một con người, đôi khi cũng có những suy nghĩ, việc làm trái ngược, đó cũng là điều thường tình, không thể từ đó mà đánh giá con người được.

Đã là một cá thể trong xã hội, cần làm cho xã hội thấy được mình đang tồn tại, không đơn thuần chỉ tồn tại bình thường, nhưng luôn lấp lánh như những vì sao, chứ không chỉ là một hạt cát bình thường như bao hạt cát khác trên sa mạc. Cần khẳng định bản thân trong xã hội, cần có chính kiến trong mối tương giao giữa các cá nhân với nhau; trong công việc cần có sự quyết đoán, cần có một định hướng đúng đắn cho tương lai. Chính vì thế, cần tạo ra những mối quan hệ tốt trong xã hội. Phải biết xác định hướng đi cho bản thân, biết nắm bắt cơ hội, có cái nhìn xa rộng, bao quát hơn để không phải thụt lùi với thời đại. Sống không phải là một cuộc du ngoạn, mà là một cuộc tìm hiểu và kiếm tìm. Chính vì thế, là một cá nhân, con người cần xác định mình trong thế giới này, trong cuộc sống này. Hãy biết định vị cái cá nhân trong cái chung rộng lớn của cả vũ trụ, từ đó khẳng định bản thân và hướng đi đúng đắn.

Hy vọng sau khi đọc xong, các bạn ít nhiều hiểu được mình là ai trong thế giới này, đặc biệt biết đưa ra quan niệm sống đúng đắn cho bản thân, nhằm trở thành người hữu ích cho xã hội, mang lại niềm vui cho mọi người xung quanh. Chúc các bạn may mắn và thành công!
Lê Vũ (Lưu Hành)
Gp. LongXuyên

->Đọc thêm...