CLICK HERE FOR THOUSANDS OF FREE BLOGGER TEMPLATES »
“Hỡi anh em, ta hãy trung tín cùng Đức Chúa Trời cho đến chết ; cho đến chết, không một điều gì có thể dập tắt lòng thương mến Chúa Giêsu Kitô trong trái tim ta" (Những lời sau cùng của Chân Phước Anrê Phú Yên)

1.8.14

Duong Ve Que Huong

->Đọc thêm...

31.7.14

Hung Cuong - Ong Lai Do

->Đọc thêm...

16.7.14

Khóa Bồi dưỡng các nhà đào tạo linh mục năm 2014

Ngày 06-07-2014, Ủy ban Giáo sĩ và Chủng sinh thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam đã khai mạc Khóa bồi dưỡng dành cho các nhà đào tạo linh mục tại Việt Nam, với sự tài trợ của Hội Thừa Sai Paris và sự hướng dẫn của 9 giảng viên, gồm 7 vị thuộc Học viện Công giáo Paris, cùng với cha Giuse Phan Tấn Thành và Đức cha Giuse Đinh Đức Đạo.

Khoá bồi dưỡng kéo dài từ 06 đến 18-07, tổ chức Toà Giám mục Đà Lạt với chủ đề “Thế tục hóa và việc đào tạo linh mục tại Việt Nam”.

Đây là lần thứ hai Khóa này được tổ chức tại Việt Nam. Trước đây một khóa bồi dưỡng 3 tuần lễ đã được tổ chức tại Roma từ ngày 28 tháng Sáu đến 16 tháng Bảy 2006 với 21 tham dự viên, và tại Paris từ ngày 05 đến 25 tháng Bảy 2008 với 30 tham dự viên. Năm 2012, Khoá bồi dưỡng cũng được tổ chức tại Đà Lạt từ ngày 01 đến 15 tháng Bảy.

Khóa Hội thảo lần này quy tụ 42 linh mục giáo sư của 10 Chủng viện: Hà Nội, Bùi Chu, Thái Bình, Vinh, Huế, Nha Trang, Sài Gòn, Xuân Lộc, Cần Thơ và Đà Lạt; 20 linh mục thuộc các dòng tu và tu hội: Chúa Cứu Thế, Chúa Thánh Thần, Don Bosco, Đa Minh, Ngôi Lời, Phanxicô, Thánh Thể, Xitô Châu Sơn, tu hội Truyền giáo thánh Vinh Sơn và tu hội Tận Hiến; 29 linh mục phụ trách việc đào tạo thuộc 24 giáo phận.

Thánh lễ khai mạc được tổ chức tại Nhà thờ chính toà Đà Lạt vào chiều Chúa nhật 06-07, lúc 18 giờ với sự tham dự của cộng đoàn dân Chúa.

Trước Thánh lễ, cha Tổng Đại diện giáo phận Đà Lạt Phaolô Lê Đức Huân đã thay mặt Đức cha Antôn - giám mục giáo phận Đà Lạt, chào mừng quý cha tham dự Khoá bồi dưỡng và xin cộng đoàn cầu nguyện cho Đức cha Antôn, hiện đang đau bệnh và điều trị tại Sài Gòn, sớm bình phục. Cha Tổng Đại diện cũng mời gọi cộng đoàn xin ơn Chúa Thánh Thần xuống trên quý cha hướng dẫn và quý cha tham dự để Khoá bồi dưỡng đạt kết quả tốt đẹp; đồng thời cầu xin cho có nhiều bạn trẻ biết lắng nghe và quảng đại đáp lại lời mời gọi dấn thân phục vụ trong ơn gọi linh mục tu sĩ.

Trong bài chia sẻ* (soạn sẵn của Đức cha Antôn, do cha Tổng đại diện đọc), Đức cha Antôn tóm lược các ý tưởng chính trong chương đầu của Tông huấn hậu Thượng Hội đồng Giám mục về đạo tạo linh mục trong hoàn cảnh hiện nay, Pastores dabo vobis (năm 1992), của Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II.

Tiếp đến Đức cha Antôn nêu lên thực tế lạc quan về ơn gọi tại Việt Nam: năm nay có khoảng 3.000 ứng sinh linh mục vào các Đại chủng viện và dòng tu, trên 300 linh mục chuyên lo việc đào tạo. Nhờ đó, chúng ta có thể tin tưởng và hy vọng trước sự thiếu hụt trầm trọng linh mục ở những miền khác trên thế giới.

Giáo hội luôn quan tâm đào tạo các linh mục tương lai, đó là trách nhiệm rất quan trọng và đặc biệt tế nhị. Qua việc đào tạo này, Giáo hội tiếp nối công cuộc của Chúa Kitô. Tuy nhiên ngày nay, cần có những phương thức mới, bởi những biến đổi sâu xa và nhanh chóng của xã hội và văn hoá trong thời đại chúng ta, nơi mà Giáo hội có trách nhiệm loan báo và làm chứng cho Tin Mừng. Vì thế mà Khóa bồi dưỡng năm nay đã chọn chủ đề “Thế tục hóa và việc đào tạo linh mục tại Việt Nam”.

Kết thúc bài chia sẻ, Đức cha Antôn lặp lại lời Đức Thánh Cha gởi đến mọi tín hữu và các nhà đào tạo linh mục:

“Giờ đây, tôi ngỏ lời với con tim của mọi tín hữu và mỗi tín hữu, đặc biệt là con tim của các linh mục và những ai dấn thân trong công tác tế nhị là đào tạo các linh mục. Qua Tông huấn này, tôi ước mong gặp lại tất cả các linh mục và từng linh mục thuộc giáo phận hoặc dòng tu…

Đầy lòng biết ơn và thán phục, chúng tôi hướng về anh em, là những người cộng tác hàng đầu của chúng tôi trong tác vụ tông đồ. Vai trò của anh em trong Giáo hội thật là cần thiết và không thể thay thế được. Chính anh em là những người mang gánh nặng của tác vụ linh mục và tiếp cận trực tiếp với các tín hữu. Anh em là những thừa tác viên của bí tích Thánh Thể, là người ban phát lòng thương xót của Thiên Chúa trong bí tích Sám hối, là người an ủi các tâm hồn và là nhà hướng dẫn mọi tín hữu trong cơn lốc những khó khăn của cuộc sống hôm nay.

Chúng tôi bày tỏ lòng biết ơn của chúng tôi đối với anh em. Và chúng tôi khuyến khích anh em kiên trì trên con đường sứ vụ với niềm vui và lòng phấn khởi. Đừng nản chí! Nhiệm vụ của chúng ta không phải là của riêng mình mà là của Thiên Chúa, Đấng đã kêu gọi chúng ta và sai chúng ta đi, và ở với chúng ta mọi ngày trong suốt cuộc đời”.

–––––––––––––––––––––––––––––––––––
* Bài chia sẻ của Đức cha Antôn
tóm lược từ trang www.simonhoadalat.com

(WHĐ 13.07.2014)

->Đọc thêm...

Bác sĩ Ba Lan bị sa thải vì từ chối phá thai


Một bác sĩ Công Giáo tại một bệnh viện công tại thủ đô Ba Lan đã bị sa thải vì từ chối không chịu phá thai cho một phụ nữ và cũng không giới thiệu người phụ nữ này đến một bác sĩ phá thai.


Bác sĩ Bogdan Chazan cung cấp chăm sóc y tế miễn phí cho người mẹ của một đứa trẻ được chẩn đoán có những dấu hiệu bất thường nghiêm trọng, nhưng ông không khuyên người phụ nữ này nên phá thai. Vì thế, bệnh viện đã sa thải ông. Quyết định sa thải này đã gây nên một làn sóng bất bình nơi người Công Giáo và những người phò sinh.

Giải thích về quyết định sa thải này, thị trưởng của Warsaw là Hanna Gronkiewicz-Waltz nói rằng bác sĩ Chazan lẽ ra phải giới thiệu người phụ nữ này đến một bác sĩ phá thai. Theo quan điểm của ông này: "Một bác sĩ có thể từ chối thực hiện việc phá thai vì lý do đạo đức, nhưng một bệnh viện công thì không thể hành động như thế".

Đức Hồng Y Kazimierz Ncyz, Tổng Giám Mục Koszalin-Kolobrzeg và là chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Ba Lan cho rằng hành động chống lại bác sĩ Chazan đặt ra một tiền lệ nguy hiểm.

Ngài nói: "Các chính trị gia không thể buộc các bác sĩ hành động trái với lương tâm của họ".

Tiến sĩ Chazan là một trong 3,000 bác sĩ đã ký "Tuyên bố của Đức Tin," nói rằng họ sẽ từ chối thực hiện những phẫu thuật vô đạo đức như phá thai, an tử, và sinh con trong ống nghiệm. Những người ký tên đã tuyên bố rằng luật luân lý cao trọng hơn luật quốc gia.

(Đặng Tự Do, VCN 14.07.2014)

->Đọc thêm...

13.7.14

WIESŁAWA DUDKOWIAK AKORDEON her most beautiful accordion melodies

->Đọc thêm...

2.7.14

ĐỨC THÁNH CHA ĐẢ KÍCH DỮ DỘI MAFIATAJI NGAY SÀO HUYỆT CALABRIA

Hôm thứ Bẩy 21 tháng Sáu, Đức Thánh Cha Phanxicô đã đưa ra một lời đả kích gay gắt các nhóm tội phạm có tổ chức. Lời đả kích của ngài được đưa ra ngay tại sào huyệt Calabria của một trong ba nhóm mafia lớn nhất tại Italia. Đức Giáo Hoàng đã sử dụng từ “vạ tuyệt thông”, tức là hình phạt nặng nhất của Giáo Hội khi đề cập đến nhóm Ndrangheta.

“Những kẻ, trong cuộc sống của họ, đã chọn con đường gian ác, con đường sự dữ này, chẳng hạn như những tên cướp, không hiệp thông với Thiên Chúa, họ đang bị vạ tuyệt thông.” Đức Thánh Cha đã nói như trên trong thánh lễ ngoài trời với gần 200,000 người trước thềm Vương Cung Thánh Đường Calabria.

Với một giọng rất mạnh, Đức Thánh Cha nói:

“Nếu thay vì tôn thờ Thiên Chúa, chúng ta lại quay sang tôn thờ tiền bạc thì con đường tội lỗi mở ra với những ham muốn cá nhân. .. Một người không yêu mến Chúa, thì trở thành một kẻ suy tôn cái ác, như trong trường hợp những người sống bằng gian dối và bạo lực. Mảnh đất này của anh chị em, thật đẹp, nhưng lại đầy những vết tích hậu quả của tội lỗi này. mafia Ndrangheta nghĩa là: tôn thờ cái ác và khinh bỉ công ích. Cái ác này phải bị đánh bại, phải bị trục xuất. Nó phải bị khước từ.”
Tháng Ba vừa qua, trong một cuộc họp với gia đình các nạn nhân của mafia tại Rôma, Đức Thánh Cha đã cảnh cáo những kẻ gia nhập vào các hình thức tội phạm có tổ chức:

“Địa ngục. .. đang chờ các người nếu các người tiếp tục trên con đường này”

Nicola Gratteri, một công tố viên ở Calabria, nói với CNN rằng:

“Ý chí mạnh mẽ của Đức Thánh Cha Phanxicô, nhằm phá vỡ các trung tâm quyền lực của bọn tội phạm có tổ chức, sẽ đưa ngài đến chỗ nguy hiểm. Đức Thánh Cha gây bực tức cho mafia rất nhiều”.
Đức Thánh Cha tỏ ra không quan ngại về những lời cảnh báo cho an ninh của mình. Ngài tiếp tục đi xe không có kính chắn đạn và chuyến viếng thăm Calabria này gây ngỡ ngàng cho nhiều người.
Calabria là sào huyệt của nhóm mafia Ndrangheta, một trong ba nhóm mafia lớn nhất tại Ý. Hai nhóm kia là nhóm mafia Sicilian ở đảo Sicily và nhóm Camorra ở Neapolitan.
Ndrangheta gây nhiều khó khăn hơn cho các nhà điều tra chống mafia bởi vì cấu trúc của nó gồm nhiều tiểu tổ hoạt động độc lập khác với thứ cấu trúc thứ bậc của các nhóm mafia khác. Nó lại ít phô trương hơn so với nhóm Sicilia và khó khăn để thâm nhập hơn.
Một nghiên cứu năm 2013 do Demoskopia, một viện nghiên cứu kinh tế và xã hội, thực hiện, ước tính doanh thu hàng năm của Ndrangheta vào khoảng € 53 tỷ Euro tương đương với khoảng 3,5% tổng sản lượng kinh tế chính thức của Ý. Ngày nay, Ndrangheta hoạt động tại ít nhất 30 quốc gia trên thế giới.
Calabria là một vùng nghèo đói trong đó 56% thanh niên không có công ăn việc làm. Họ là miếng mồi ngon cho Ndrangheta tuyển dụng vào mạng lưới buôn bán ma tuý.
Năm 1993, Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nghiêm khắc cảnh cáo các thành viên của mafia Sicily rằng "một ngày nào đó họ phải đối mặt với công lý của Thiên Chúa". Mafia trả lời vài tháng sau đó với vụ đánh bom tại một số nhà thờ ở Rome, trong đó có cả đền thờ Thánh Gioan Latêranô là nhà thờ của Đức Giáo Hoàng trên cương vị giám mục Rôma.
Những tuyên bố nẩy lửa của Đức Thánh Cha tại Calabria gây sự hứng khởi mạnh trong giới báo chí trên toàn thế giới. Nhiều tờ báo, như tờ International Business Times, chạy hàng tít lớn: “Đức Giáo Hoàng dứt phép thông công mafia trong thánh lễ tại Calabria”.
Tuy nhiên, phát ngôn viên của Tòa Thánh là cha Ciro Benedettini nói những lời nghiêm khắc của Đức Giáo Hoàng không phải là sắc lệnh liên quan đến vạ tuyệt thông theo một quá trình pháp lý chính thức.
Thực tế, Đức Giáo Hoàng muốn gởi một sứ điệp trực tiếp đến các thành viên của tổ chức tội phạm là họ đã bị tuyệt thông khi tách mình ra khỏi Thiên Chúa qua hành động tội ác của họ; nhắc nhở họ rằng họ không thể tham gia vào các bí tích của Giáo Hội và các hoạt động khác.
Trước khi cử hành thánh lễ, Đức Thánh Cha đã vào nhà tù Castrovillari thăm người cha của cậu bé Nicola "Coco" Campolongo. Tháng Giêng năm nay, cậu bé 3 tuổi này đã bị một nhóm mafia thảm sát cùng với ông nội mình là Giuseppe Ianicelli và một người phụ nữ Marốc.
Xác của ba người đã bị bọn mafia bỏ vào trong một xe hơi rồi đốt cháy. Coco đã được giao cho ông nội chăm sóc sau khi cả cha lẫn mẹ cậu bị giam vì tội vận chuyển ma tuý cho bọn Ndrangheta.
Đức Thánh Cha đã gặp gỡ người cha cậu bé trong khu vườn của trại giam. Ngài an ủi người cha đang khóc lóc thảm thiết.
Cha Ciro Benedettini tường thuật là Đức Thánh Cha đã nói với cha cậu Coco như sau:
"Xin đừng bao giờ để bạo lực xảy ra đối với trẻ em như thế này. Xin đừng để một đứa trẻ phải đau khổ như thế này. Tôi cầu nguyện cho anh liên tục. Đừng tuyệt vọng,"
Sau cái chết của Coco, người mẹ cậu đã được trả tự do vì lý do nhân đạo và bị quản chế tại gia.

Đặng Tự Do

->Đọc thêm...

20.6.14

Vatican (tham quan)

->Đọc thêm...

18.6.14

Giai dap thac mac

->Đọc thêm...

17.6.14

Thư ngỏ của ĐGM Giáo Phận Phan Thiết về việc linh mục mạo danh xin tiền cho Trung Tâm Tàpao

Nguồn: VPTGM Phan Thiết

->Đọc thêm...

6.6.14

LINH MỤC VÀ NỮ TU HIỂU VÀ GIÚP NHAU SỐNG SỨ VỤ


Đây là các bài thuyết trình nhóm của hai lớp Học viện Liên Dòng Nữ Têrêsa Avila Bùi Chu sắp ra trường dựa trên hai câu hỏi:
1. Tương tác giữa ba lời khấn Khiết tịnh, Khó nghèo và Vâng Phục.
2. Bối cảnh thuận lợi và không thuận lợi cho lối sống thanh khiết do thực tế của Giáo hội và xã hội Việt Nam hôm nay, hay nói cách khác những nguy cơ vi phạm và sai lỗi thường có thể xảy ra.

[1]DẪN NHẬP
Ba lời khấn làm nên đời sống của người thánh hiến, nhưng chúng có mối tương quan với nhau như thế nào? Nhất là trong xã hội Việt Nam hôm nay, nhu cầu tìm thỏa mãn các thú vui nhục dục ngày một gia tăng, xu hướng thích hưởng thụ, thích tự do sống thử đã làm người ta không còn quan tâm và trân trọng đến việc giữ sự thanh khiết. Vậy làm sao để giữ và sống khiết tịnh khi mà ngay cả trong Giáo Hội cũng đã và đang phải gánh chịu lối sống này và đâu là phương cách giải quyết? Sau đây chúng ta cùng tìm hiểu từng vấn đề.

I. TƯƠNG QUAN GIỮA BA LỜI KHẤN KHÓ NGHÈO, THANH BẦN VÀ VÂNG PHỤC

Cuộc đời người tu sĩ gắn liền với ba lời khấn: KHÓ NGHÈO, THANH BẦN VÀ KHIẾT TỊNH, đụng chạm đến ba lãnh vực của con người là quyền lực, của cải, giới tính. Vâng phục mời gọi từ bỏ quyền lực thế gian để trở nên người vâng phục của tình yêu Thiên Chúa và tha nhân. Khó nghèo kêu mời từ bỏ của cải thế gian để trở nên những người anh chị em nhỏ bé của tình yêu, trở nên một với những ai đau khổ, cầu nguyện và hành động cho sự giải phóng của họ. Thanh khiết mời gọi từ bỏ khoái lạc thế gian để trở nên những người bạn của tình yêu, giúp người khác khám phá ra rằng họ đang được yêu và mời gọi yêu thương.

Chính vì thế mà ba lời khấn này không tách rời nhau, nhưng hỗ trợ bổ túc cho nhau. Chúng đều phát xuất từ lời mời gọi theo Đức Kitô và việc đáp trả của mỗi con người. Tuy vậy, mỗi lời khấn đều sở hữu những nét rất riêng của nó nhằm làm phong phú đời sống của người tu sĩ và trong tương tác với mọi mối tương quan.

Trước hết với lời khấn khó nghèo:
Chính Chúa Giê-su đã nói: “Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi tiền của được” (Mt. 6,24). Các sinh hoạt của con người luôn cần đến các phương tiện: Ta không thể mua thức ăn và vật dụng cần thiết nếu không có tiền, cũng không thể đi lại thuận tiện và nhanh chóng khi không có xe đạp, xe máy, ô tô, máy bay… Chính vì vậy người ta thường nói “Đồng tiền đi liền khúc ruột”. Nhưng làm sao để sống tiết kiệm trong việc sử dụng thời gian sức khỏe, của cải, tiền bạc? Làm sao để tiền của thành phương tiện hữu ích cho ta mà không khống chế ta? Với người tu sĩ, lời khấn khó nghèo giúp thực hiện điều đó. Nó giúp người tu sĩ có được tự do nội tâm trước của cải, tiền bạc để thực sự nhận Chúa làm gia nghiệp, và Chúa là giá trị cao nhất. Có Chúa là có tất cả và Chúa sẽ giúp biến của cải thành những phương tiện yêu thương và hiệp thông quy tụ những tâm hồn thanh thoát để giúp đỡ những người nghèo khổ, kém may mắn.

Tuy nhiên, lời khấn khó nghèo sẽ chẳng giúp gì cho người tu sĩ nếu người đó chỉ khấn môi miệng mà lòng không có: khấn khó nghèo mà lòng chất chứa ghen tương, đố kỵ khi người khác hơn mình, hoặc cứ tìm cách này cách khác để nhận tiền. Chẳng hạn một nữ tu có tới năm cha bảy mẹ, mà đồ đạc của họ thì không ai dám động tới, chỉ biết nhận mà không biết cho. Tu sĩ như thế thì làm sao có thể nói lời khấn khó nghèo giúp thanh thoát được.

Lời khấn Vâng Phục:
Người không thể sống khó nghèo thì vâng lời cũng không có, điều này dễ hiểu, vì vâng phục là từ bỏ tự do cá nhân để làm theo ý muốn của Chúa qua các thẩm quyền. Chính Chúa Giêsu đã làm gương cho chúng ta về đức vâng lời: “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy” (Ga. 4,34).

Vâng phục giúp ta được tự do hy sinh chọn lựa riêng, can đảm từ bỏ những ham thích ở đời nhằm làm vinh danh Chúa, biết đặt mình trước ý muốn của Chúa được thể hiện qua Giáo hội, luật dòng, các bề trên. Tuy vậy, đây cũng chỉ mới là lý thuyết, vì thực tế đây là một vấn đề hết sức khó khăn, đụng chạm đến danh dự, tự ái và tự trọng của từng người. Không dễ gì ta vâng lời một bề trên kém cỏi mà lại bảo thủ, nóng nảy lại còn thiên tư tây vị, có chăng đó cũng chỉ bằng mặt chứ không bằng lòng. Do đó, muốn giữ đức vâng phục thì buộc ta phải trở về với điểm xuất phát là Đức Kitô, nhìn lại mục đích ta đi tu để làm gì? Và mọi việc ta làm có làm vì vinh danh Chúa không hay chỉ làm vinh danh ta? Điều này thì chỉ có mình với Chúa biết mà thôi.

Lời khấn Khiết tịnh:
Nếu hai lời khấn khó nghèo và vâng phục được tuân giữ cách ý thức thì lời khấn khiết tịnh cũng không gặp mấy khó khăn. Dầu vậy thì Thánh kinh cũng nhắc nhở: “Hỡi những ai nghĩ mình đang đứng vững, hãy coi chừng kẻo ngã” (1Cr 10,2), bởi bản tính tự nhiên của con người có sự hấp dẫn tính dục với người khác phái, và con tim có những lý lẽ riêng mà lý trí không kiểm soát được. Sách Diễm ca cũng nói rằng “Tình yêu mãnh liệt như tử thần, cơn đam mê dữ dội như âm phủ. Lửa tình là ngọn lửa bùng cháy, một ngọn lửa thần thiêng. Nước lũ không tài nào dập tắt được tình yêu”.

Những hấp dẫn khao khát tự nhiên của tình yêu, con người dễ bộc lộ mãnh liệt hơn nữa như một thứ bù trừ khi gặp đau khổ, buồn phiền, oan ức, chán nản, tuyệt vọng và cô đơn. Nó không loại trừ ai, dù là người thường hay giới tu hành. Cũng chính vì biết được điều này nên Chúa Giêsu đã căn dặn các môn đệ: “Các con hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn để khỏi sa chước cám dỗ, vì tinh thần thì nhẹ nhàng, nhưng xác thịt thì yếu đuối”. Người Việt nam cũng có câu: “Bảy mươi chưa què chớ khoe mình lành”, kẻo “cười người hôm trước hôm sau người cười”. Quả thế, trong lãnh vực này, không ai được phép cho mình mạnh cả. Thánh Phaolô tâm sự: “có ai trong anh em yếu đuối mà tôi không cảm thấy yếu đuối, có ai trong anh em sa ngã mà tôi không cảm thấy như thiêu như đốt.”
Tóm lại, mỗi người sống ơn gọi tu sĩ đều trải qua kinh nghiệm sống cái tôi của mình, hoặc đặt trọng tâm nơi mình hoặc đặt trọng tâm nơi Chúa, mà ta có định hướng đúng hay sai. Định hướng sai lầm đi theo hình ảnh cái tôi khoái lạc, sở hữu của cải, địa vị quyền lực. Định hướng đích thực họa theo hình ảnh Thiên Chúa: Thanh khiết, Khó nghèo, Vâng lời.

II. BỐI CẢNH THUẬN LỢI VÀ KHÔNG THUẬN LỢI CHO LỐI SỐNG THANH KHIẾT, TỪ THỰC TẾ CỦA GIÁO HỘI VÀ XÃ HỘI VIỆT NAM HÔM NAY.


* Những thuận lợi
Ngay từ những thế kỷ đầu, để nói về lối sống khiết tịnh, Thánh Phaolô đã nhắn nhủ các tín hữu của mình: “Tôi muốn anh em không phải bận tâm lo lắng điều gì, đàn ông không có vợ thì chuyên lo việc Chúa và tìm cách làm đẹp lòng Người. Cũng vậy, đàn bà không có chồng và người trinh nữ thì chuyên lo việc Chúa, để thuộc trọn về Người cả hồn lẫn xác”. Ngài đã cho ta cảm nhận được giá trị cao quý của đời sống khiết tịnh.

Đời sống khiết tịnh không làm mất đi phẩm giá con người, nhưng làm cho ta có được sự tự do, tự do kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và phục vụ Nước Chúa. Đồng thời, đời sống khiết tịnh diễn tả trước cuộc sống mai hậu bởi: “Khi người ta từ cõi chết sống lại, thì chẳng còn lấy vợ lấy chồng, nhưng sẽ giống các Thiên thần trên trời” (Mc12,25). Như vậy, ta có thể nói: Đời sống khiết tịnh là một ân huệ siêu nhiên, mà chỉ trong đức tin ta mới dễ chấp nhận và hiểu được lối sống này.

Nhưng rồi cùng với thời gian, với khoa học, các phương tiện truyền thông ngày càng hiện đại, con người có điều kiện học hỏi, trao đổi, tìm hiểu về vũ trụ thiên nhiên vạn vật, nhất là học biết về chính mình, với những khả năng, những khác biệt về giới tính, về tâm sinh lý… Chính sự khác biệt này giúp ta biết được những điểm mạnh hay những giới hạn, để thăng tiến cũng như để bảo vệ chính mình. Thật ra về điểm này thì chỉ có ta mới biết rõ ta mà thôi. Chẳng hạn khi tiếp xúc với một người nam, ta biết được cảm xúc của ta lúc đó thế nào, có bị hấp lực bởi người đó không? Hay ta xem cách cư xử, cách tiếp xúc của người ấy thế nào? Vì khi biết được giới hạn của mình và của người khác ta sẽ biết cách giải quyết cách chủ động hơn. Chính sự nhận biết và ý thức này giúp ta giữ và bảo vệ cùng sống đời khiết tịnh cách dễ dàng. Nhưng chỉ có sự hiểu biết về mình và về người khác thì chưa đủ mà còn do môi trường và hoàn cảnh sống của ta nữa. Chẳng hạn, khi sống ở một môi trường mà người ta còn quý trọng những người thánh hiến, quý trọng sự thanh khiết, ta có thêm động lực giúp ta ý thức và cố gắng bảo vệ sự khiết tịnh của ta, bảo vệ danh dự và nhân phẩm của chính ta.

Một phương thế khác hữu hiệu giúp ta bảo vệ đức khiết tịnh mà chính Chúa Giêsu đã nói: “Không có Thầy anh em chẳng làm gì được”, nghĩa là ta phải có đời sống kết hợp với Chúa qua việc học hiểu, đọc Lời Chúa, qua đời sống cầu nguyện, năng lãnh các Bí tích. Ta không làm được gì nếu không có ơn Chúa, cho dù đó là sự tự do từ bỏ, sự tự hiến của chính ta.

Một yếu tố nữa cũng nâng đỡ đời sống khiết tịnh của ta đó là đời sống huynh đệ cộng đoàn. Thường nơi người nữ, nhu cầu yêu và được yêu rất quan trọng đối với họ. Chính vì vậy, khi sống một mình mà không kết hôn thì tự nó đã làm ta không có sự cân bằng về tình cảm. Nên khi sống trong cộng đoàn biết yêu thương, chia sẻ, nâng đỡ cảm thông giữa chị em với nhau, nó sẽ giúp ta lấy lại được thế quân bình. Khi chị gặp khó khăn trong công việc, hay có chuyện trong gia đình, em đến bên trò chuyện, chia sẻ nói lên suy nghĩ của mình; khi thấy chị buồn và muốn được chia sẻ khó khăn, em đến với chị để hiểu, cảm thông và nâng đỡ chị hay chí ít là cầu nguyện cho chị. Hoặc khi em gặp khó khăn trong đời sống thiêng liêng, trong vấn đề phái tính, em chia sẻ cho chị, để chị có thể cùng giúp em giải quyết, cùng giúp em tìm ra điểm yếu, tìm ra nguyên nhân, giúp em vượt qua khó khăn và khủng hoảng.

Chính đời sống cộng đoàn yêu thương này giúp chị em cảm nhận được tình yêu thương của nhau, cảm nhận được cộng đoàn là mái ấm của mình mà không tìm tình yêu khác trong khi tất cả đều yêu thương mình.

Một thế mạnh khác nơi cộng đoàn đó là ta được sống, được vui vẻ với mọi người và cho dù đôi lúc ta có bực bội với một người, nhưng nó không làm cho ta mất đi niềm vui dâng hiến, vì ta còn có Chúa có chị em khác nâng đỡ ta, không như đời sống vợ chồng yêu thương nhau đã vậy, nhưng khi tức giận thì biết đi đâu, tránh đâu, ra vào đều giáp mặt nhau. Cũng vậy, khi ta sống với mọi người, qua tiếp xúc với mọi người, ta không thể nói ta không yêu họ, không biết bày tỏ tình cảm, đó là lời nói dối. Một người không biết yêu là một người không bình thường và không thể sống đời thánh hiến, tình yêu với người khác phái là một nhu cầu hết sức tự nhiên, nó như nam châm có một sức hút hết sức kỳ diệu. Nhưng nhờ tình yêu trong cộng đoàn mà ta cảm nhận được sẽ không làm ta dễ dàng lung lay theo tiếng gọi tình yêu khác.

Tuy nhiên, không phải chỉ trong đời sống cộng đoàn ta mới giữ được đức khiết tịnh và đời sống khiết tịnh giúp ta gắn bó với Chúa hơn. Nhưng trong đời sống sứ vụ tông đồ, đời sống khiết tịnh giúp ta được tự do phục vụ theo khả năng, tự do đến với mọi người mà không gặp trở ngại như khi lập gia đình bị ràng buộc bởi chồng con, bởi việc nhà. Chính đời sống khiết tịnh giúp ta tìm được niềm vui trong khi phục vụ, cùng làm việc với mọi người, mà không bị bó khung bởi môi trường gia đình.

* Những khó khăn
Cuộc sống thường có mặt trái mặt phải của nó, thế giới càng hiện đại, càng văn minh giàu có… thì đời sống khiết tịnh càng gặp nhiều khó khăn. Trước đây, khi còn nghèo đói, con người yêu thương, quan tâm, chia sẻ cho nhau miếng cơm manh áo và chỉ mong có cuộc sống ăn no mặc ấm. Giờ thì xã hội tiến triển, nhu cầu tăng cao, không còn là ăn no mặc ấm nữa, mà là ăn ngon mặc đẹp, và cao hơn nữa là ăn sang mặc mốt. Chính vì thế mà các cửa hàng mỹ phẩm, tái tạo sắc đẹp, cửa hàng thời trang… mọc lên như nấm, khiến người ta không thể không làm đẹp, ngay cả một số nữ tu cũng tỉa tót lông mày mí mắt… không ai cấm chúng ta không được làm đẹp, nhưng làm đẹp thế nào cho xứng hợp, không có chuyện ăn mặc đua theo mốt, ta hãy nhớ rằng: “không bán hàng thì đừng rao bán”. Nói như thế, có chị cho rằng không phải cứ trang điểm hay ăn mặc diêm dúa là… nhưng xét cho cùng thì không ai thích làm đẹp mà chỉ để một mình mình ngắm cả.
Và cũng chính vì các nhu cầu tiến triển, các phương tiện Intenet, điện thoại di động, xe máy thời @... ngày càng hiện đại nhằm phục vụ nhu cầu con người. Chúng là những phương tiện rất hữu ích cho con người. Nhưng chúng chỉ tốt cho những ai biết sử dụng chúng chứ không phải để ra oai, để tạo những mối quan hệ không lành mạnh, để truy cập những tin tức vô bổ. Riêng với người tu sĩ, xe máy, điện thọai di động ngày nay không mấy khó khăn, nhưng xem ra cũng dễ trở thành vật cản khi tu sĩ quá chú trọng, chỉ giữ cho riêng mình, chỉ sử dụng chúng tìm lợi cho mình. Đây là vấn đề chúng ta cần quan tâm, sử dụng tự do như thế nào cho hợp với tư cách là một tu sĩ chứ không phải như một người ngoài đời.

Dẫu vậy, đối lại xem ra cũng có một số Bề trên nghĩ rằng nếu để con em mình tiếp cận các phương tiện hiện đại, chúng sẽ mất ơn gọi hoặc thấm nhiễm bên ngoài quá nhiều dẫn đến khó đào tạo. Điều này cũng tốt, nhưng nếu cái gì cũng cấm thì các em dễ tò mò và tìm cách thử tiếp cận xem sao, cho dù khi đó chưa có sự chuẩn bị tinh thần về sự phán đoán, về trí thông minh, về lập trường của sự trưởng thành, các em sẽ dễ vấp ngã. Và lúc đó có hối thì cũng đã muộn vì vô tình đánh mất một ơn gọi, bởi vì bề trên chỉ cấm mà không cho biết lý do, và giải thích cho con em mình hiểu được giá trị mà các phương tiện đó đem lại.

Đàng khác nơi môi trường xã hội Việt nam hôm nay, phong trào Âu hóa đã và đang thấm nhiễm vào từng ngóc ngách cuộc sống của con người. Nhu cầu được hưởng thụ, thích sống tự do thoải mái, không thích lệ thuộc của con người hôm nay nhất là các bạn trẻ, nhiều người trong họ có xu hướng lập gia đình, nhưng vẫn quan hệ và thích sống thử. Do đó đời sống khiết tịnh không còn được quan tâm, được chú trọng và ca ngợi. Điều này đã và đang ảnh hưởng rất lớn đến các linh mục, tu sĩ. Họ bị chao đảo lý tưởng dâng hiến vì nhu cầu hưởng thụ, yêu và được yêu. Và rồi nếu đời sống cộng đoàn, nhu cầu mục vụ thiếu vắng tình huynh đệ, thiếu vắng sự quan tâm, khích lệ càng làm cho người ta cô đơn, cộng với đời sống thiêng liêng sa sút, người ta càng dễ tìm về bản năng của mình. Vậy đâu là hướng để các linh mục tu sĩ can đảm, cương quyết dấn thân trong ơn gọi của mình?

* Hướng giải quyết
Để giúp người thánh hiến sống tốt đời sống khiết tịnh hôm nay, chúng ta cần lưu ý một số điểm thực hành khiết tịnh:
Đề cao sự kín đáo, e lệ nhất là với phái nữ. Muốn có sự kín đáo ta phải canh phòng các giác quan và con tim, đặc biệt thị giác và xúc giác. Nhưng cũng đừng quá khắt khe, đến nỗi không biết cảm giác là gì? Thánh phaolô nói: “Mọi sự trong sạch với người trong sạch”. Một người càng có ý chân thành bên trong thì sự kín đáo đoan trang càng được bảo đảm, dù với ngoại cảnh nào.

Đừng để con tim có thể hướng về những đối tượng khác giới, hay bị dồn nén tình cảm dẫn đến mất quân bình. Để tránh mối nguy hại đó, ta nên tránh sự kết nghĩa riêng, dễ làm mất sự khiết tịnh và cản trở cho việc nên trọn lành. Muốn vậy, nơi cộng đoàn chị em phải yêu thương nhau, đoàn kết, tôn trọng và nâng đỡ nhau.

Huấn luyện ý chí và huy động những phương tiện thiêng liêng: ham thích cầu nguyện, năng lãnh nhận các bí tích, có sự hãm mình thân xác. Chia sẻ cho nhau những khó khăn trong đời sống cộng đoàn, tông đồ, nhất là những cám dỗ về đức khiết tịnh.

KẾT LUẬN
Tóm lại ba lời khấn có mối tương quan mật thiết không tách rời nhau. Chúng là nền tảng để người tu sĩ sống trung thành trong ơn gọi của mình, cho dù cuộc sống có xô bồ, đời sống khiết tịnh không còn được tôn trọng mà thay vào đó là tiền của, địa vị, danh vọng, nhu cầu thỏa mãn tính dục hoặc sự thay đổi nơi môi trường hoàn cảnh sống. Trái lại, nếu thiếu một trong ba lời khấn, đời sống của người tu sĩ sẽ bấp bênh, dễ bỏ cuộc. Đàng khác, để sống đức khiết tịnh cũng đòi hỏi sự cố gắng nỗ lực bỏ mình của bản thân cộng với ơn Chúa nữa, mới có thể thích ứng với xã hội mà không đánh mất bản chất tu sĩ.

[2]DẪN NHẬP

Khi thấy các môn đệ quá lo lắng về của ăn áo mặc, lo thu tích của cải vật chất ở đời này, Chúa Giêsu đã kêu gọi: “trước hết phải lo tìm kiếm nước Thiên Chúa và sự công chính của Người, rồi mọi sự khác sẽ được ban thêm cho” (Mt 6,33). Các tu sĩ đã đáp lại lời mời gọi đó qua việc tuyên khấn.

Công đồng Vatican II cũng khẳng định rằng: “Đời sống thánh hiến là bậc sống được thiết lập do việc tuyên khấn các lời khuyên Phúc Âm”. Được thánh hiến là thuộc về Thiên Chúa – người thánh hiến là hiến dâng mình cho Thiên Chúa để thuộc trọn về Người. Vì thế người tu sĩ phải luôn ý thức rằng mình đã được Thiên Chúa chiếm hữu, tuy còn sống trong thế gian, nhưng không thuộc về thế gian, ngay từ bây giờ họ là công dân Nước Trời.

Để nhanh chóng tiến về với Thiên Chúa là Cha, người tu sĩ chọn lấy các lời khuyên Phúc Âm làm nền tảng căn bản cho đời sống của họ. Lời khuyên Phúc Âm thì có nhiều, nhưng theo truyền thống thì có ba: Khiết tịnh – Khó nghèo và Tuân phục, tiêu biểu hơn cả trong lối sống của Đức Giêsu.


hiepthong

->Đọc thêm...