CLICK HERE FOR THOUSANDS OF FREE BLOGGER TEMPLATES »
“Hỡi anh em, ta hãy trung tín cùng Đức Chúa Trời cho đến chết ; cho đến chết, không một điều gì có thể dập tắt lòng thương mến Chúa Giêsu Kitô trong trái tim ta" (Những lời sau cùng của Chân Phước Anrê Phú Yên)

25.8.15

Cút ngay ra khỏi nhà tôi!

->Đọc thêm...

Sau vụ hỏa hoạn, Tượng Đức Mẹ không hề hấn gì một cách phi thường


Tượng Đức Mẹ không hề hấn gì sau vụ hỏa hoạnVụ hỏa hoạn diễn ra tại căn cứ quân sự El Goloso, gần thủ đô Tây Ban Nha, nơi trú đóng của lữ đoàn bộ binh Guadarrama. Theo một số trang mạng của Tây Ban Nha, bao gồm cả Infovaticana và Religión en Libertad, thì ngọn lửa bùng lên và vượt ngoài tầm khiểm soát, thiêu rụi mọi cây cỏ.

Khi dập được ngọn lửa, các lính cứu hỏa kinh ngạc thấy ở giữa đống hoang tàn, là một tượng Đức Mẹ Lộ Đức, hoàn toàn không bị hư hại gì. Và còn sốc hơn nữa, khi họ thấy cỏ quanh bức tượng, cũng không hề hấn gì trước ngọn lửa, các nhánh hoa cắm trong bình đặt kính Mẹ cũng vậy, như thể ngọn lửa đã kiêng nể không gian quanh tượng Đức Mẹ vậy.


Vụ hỏa họa diễn ra vào ngày 30 tháng 7, trong đợt nóng bao trùm Tây Ban Nha. Các lính cứu hỏa không thể giải thích tại sao bức tượng không hề hấn gì, hay tại sao các nhành hoa thậm chí không bị ám khói hay khô héo vì nhiệt lượng. Câu chuyện này nhanh chóng lan ra trên mạng xã hội, một vài người ngờ đây là chuyện bịa, nhưng các điều tra xa hơn đã xóa sách mọi hoài nghi. Trong bức hình, người ta có thể dễ dàng nhìn thấy mặt đất hoàn toàn bị thiêu rụi, ngoại trừ vùng quanh bức tượng.

Thật sự là hầu hết những người lính cũng không biết là có bức tượng Đức Mẹ trong vườn mình. Nhưng một vài người có lòng tôn kính đặc biệt với Đức Mẹ đã muốn có sự hiện diện của Đức Mẹ Lộ Đức. Và bức tượng đã nhiều lần được tôn kính trong các nghi lễ chính thức tại căn cứ.

Điều tra của chính quyền có vẻ là đủ để làm rõ những khía cạnh tự nhiên của sự kiện này. Có những thực tế mà hiểu biết con người không thể hiểu nổi, nhưng được giải thích nhờ đức tin. Khoa học và đức tin, cùng cộng tác để đưa ra một lời giải thích cho sự việc nào đó.

Cho đến bây giờ, câu chuyện này cho thấy sự bảo vệ đặc biệt của Đức Mẹ cho bức tượng đơn sơ và nhún nhường này. Và tất cả mọi người đều có thể học được một bài học từ đây. Các sự kiện không ngờ có thể xảy ra thiêu rụi một thế giới đầy mối họa và sự dữ. Trong tương lai gần, giữa những thảm họa mà chúng ta còn không tưởng tượng nổi, thì Đức Mẹ, sẽ vượt qua cảnh khốn này, mà không sợ hãi và không hề hấn gì, và cùng với Mẹ là lòng sùng kính của các tín hữu. Và những ai tin, ngay cả khi họ là một nhóm thiểu số đang bị đa số người vô thần loại bỏ, rồi sẽ được nhìn nhận và giữ gìn như con cái Nước Trời.

J.B. Thái Hòa chuyển dịch
phanico.vn

->Đọc thêm...

22.8.15

Nhật lo lắng về nạn tự tử trong giới trẻ tại nước này


Bản tin của Asia-News, cơ quan thông tin của Pontificio Istituto Missioni Estere - Hội Giáo Hoàng Truyền Giáo, trong số ra ngày 20 tháng 8 trích thuật báo cáo của Văn phòng Nội Các Chính Phủ Nhật, trong đó ghi nhận 18,048 trường hợp tự tử, giữa năm 1971 và năm 2013, liên quan đến trẻ vị thành niên dưới 18 tuổi từ.


Nghiên cứu cho thấy rằng hầu hết các vụ tự tử xảy ra vào những ngày lễ của Nhật Bản cuối mùa xuân và mùa hè. Nghiêm trọng nhất là vụ 131 thiếu niên tự sát vào ngày 1 tháng Chín năm ngoái. Con số tự tử vào ngày 1 tháng Chín hàng năm chưa bao giờ dưới mức 100 người trong suốt một thập niên qua. Vì thế, ngày 1 tháng Chín năm nay đến trong âu lo của nhiều người.

Ngày 11 tháng Tư hàng năm cũng là một ngày khủng khiếp với con số trung bình số ca tự tử là 99 trường hợp, theo sau là ngày 8 tháng Tư, rồi ngày 02 tháng 9 và 31 tháng 8 với 95, 94 và 92 các vụ tự tử.

Trong những năm gần đây, tính trung bình mổi ngày có 49 trường hợp tự tử.

Các cuộc điều tra của chính phủ cho thấy một trong những lý do chính dẫn đến tự tử trong số các học sinh trung học và tiểu học là những hục hặc trong gia đình. Nguyên nhân tiếp theo là sự thất bại ở trường, mối quan tâm về sự lựa chọn nghề nghiệp, bệnh tâm thần và trầm cảm.

Theo cha Cazzaniga, Nhật Bản là một trong những nước có mức giáo dục cao nhất với khoảng 80 phần trăm sinh viên có được một nền giáo dục sau trung học. Tuy nhiên, "các chương trình giáo dục được thúc đẩy bởi nhu cầu của nền kinh tế quá nhấn mạnh đến các ngành khoa học tự nhiên hơn là khoa học nhân văn. Trẻ em được đào tạo để thúc đẩy sự phát triển của đất nước," ngài nói.

Hậu quả cúa nền giáo dục và kinh tế ấy là một xã hội vô thần, hiện sinh, thực dụng và tranh đua quyết liệt.

Kitô giáo đến với Nhật Bản nhờ các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha, các nhà thám hiểm, và đặc biệt là các linh mục dòng Tên, chẳng hạn như Thánh Phanxicô Xaviê. Người Công Giáo đã thành lập nên thành phố Nagasaki, có thời được xem là trung tâm Kitô giáo quan trọng nhất ở vùng Viễn Đông.

Nhật Bản là đất nước đã có đến 434 vị tử đạo đã được tuyên phong, và hàng trăm ngàn các vị tử đạo chưa được biết đến; nhưng giờ đây 99% dân số là vô thần. Sau thế chiến thứ hai, đứng trước những tàn phá kinh hoàng của chiến tranh, chủ nghĩa hiện sinh phát triển rất mạnh.

Theo Niên Giám của Tòa Thánh năm 2011, Nhật Bản có khoảng 509,000 người Công Giáo tức là chưa tới 0.5% tổng dân số. Tuy thế, Nhật vẫn có đến 16 giáo phận, trong đó có ba tổng giáo phận với 1589 linh mục và 848 giáo xứ trong cả nước.

Đức Thánh Cha Phanxicô có một tình cảm đặc biệt với Nhật Bản, Nhiều lần ngài giải thích rằng khi còn nhỏ ngài đã muốn trở thành một nhà truyền giáo ở Nhật Bản. Hôm thứ Tư 21 tháng 8 năm 2015, Đức Thánh Cha đã có buổi tiếp đặc biệt dành cho 200 bạn trẻ Nhật Bản tại Vườn Damasus. Đây là một sự kiện bất thường bởi các vị Giáo Hoàng hiếm khi chào đón du khách trong tháng Tám. Nhưng Đức Thánh Cha Phanxicô đã không ngần ngại gặp gỡ cá nhân với nhóm bạn trẻ này.



(Đặng Tự Do, VCN 21.08.2015)
conggiao.info

->Đọc thêm...

20.8.15

http://conggiao.info/news/810/30184/index.aspx

http://conggiao.info/news/810/30184/index.aspx

->Đọc thêm...

16.7.15

Mong chẳng còn gì - Nguyễn Hồng Ân

->Đọc thêm...

11.7.15

ĐGH Phanxicô không ấn tượng bởi cây thánh giá cộng sản: "Thế này là không đúng!


Đức Thánh Cha Phanxicô không một chút ấn tượng khi Tổng thống Bolivia Evo Morales trao tặng ngài một cây thánh giá gắn trên một cái búa và một cái liềm bằng gỗ được chạm khắc trong một buổi lễ tặng quà chính thức tại La Paz. Phản ứng của ngài, bằng lời quở trách: “Thế này là không đúng.”


Tổng thống Morales, dường như, ông nghĩ rằng vì Đức Thánh Cha Phanxicô đã ấp ủ một thông điệp về công bằng kinh tế và xã hội, ngài cũng sẽ sẵn sàng ấp ủ bản thân chủ nghĩa cộng sản. Nhưng Đức Thánh Cha đã lấy làm đau buồn vì lần đầu tiên ngài chứng kiến một món quà kiểu này, trông ngài bối rối và khó chịu khi tổng thống Morales giải thích trong lúc trao đổi.

Tổng thống Morales sau đó phải giải thích rằng bức tượng ấy là bản sao của một cây Thánh Giá tương tự được làm bởi Cha Luis Espinal, một linh mục Dòng Tên, ngài đã bị bắt cóc và bị giết hại bởi đội ám sát Bolivia vào năm 1980. Trước đó Đức Thánh Cha đã vinh danh Cha Espinal, ngài đã dừng lại để dâng lời lời cầu nguyện tại nơi mà Cha Luis Espinal bị ám sát, tưởng nhớ “một người anh em của chúng ta, là nạn nhân của những người không muốn ngài tranh đấu cho tự do ở Bolivia.”

Nhưng mặc dù lịch sử là thế, nhìn thấy cây thánh giá kiểu này thật là khó chịu khi mà Morales cố gắng “truyền đạt,” một nỗ lực để buộc Đức Thánh Cha chấp nhận một biểu tượng mà theo nghĩa đen là hợp nhất Công giáo với chủ nghĩa cộng sản. Đó là sự hỗn xược của Morales và đặc biệt khi tiếp cận với phe chính trị cánh tả. Nhưng nó không phù hợp khi tiếp xúc với Đức Thánh Cha Phanxicô, ngài đã tránh tư tưởng chính trị, mà được thay bằng một thông điệp khoáng đại hơn, thực tế hơn về công bằng xã hội và bình đẳng kinh tế.

Jos. Tú Nạc, NMS

->Đọc thêm...

2.7.15

Hãy sống thanh cao


Tất cả chúng ta là những con người tội lỗi. Môi trường tội lỗi cứ vây bám chúng ta, khiến chúng ta có những lối hành xử vốn dĩ là không tốt, nhưng cứ ngỡ là điều hiển nhiên.

Chúng ta thấy đầy dẫy chung quanh mình những điều xấu, chúng ta không thích như thế, nhưng chúng ta vẫn cứ buông mình theo những điều ấy, như thể đó là một nền văn hóa của nhân loại chúng ta.


Thế gian có những khôn ngoan của nó. Cái khôn ngoan của thế gian dạy những ai thuộc về nó những chiêu trò, những thái độ, những lối hành xử để giúp mình được sở hữu nhiều hơn, có được nhiều quyền lực hơn. Dần dần, người ta thích vun vén hơn là cho đi, thích được trở nên nổi trội, chứ không thích bị xem thường, hay bị coi không ra gì, thích khác người một chút để được chú ý, chứ không thích bị lãng quên.

Con người thích dạy hơn là thích học, thích ra lệnh hơn là phục quyền, thích nói hơn thích nghe, bởi khi dạy, khi ra lệnh, khi nói, người ta thấy mình uy phong và có thế giá hơn.

Con người thích an nhàn hơn là buông mình vào những thách đố, thích những gì đảm bảo hơn là những điều không chắc chắn, vì họ sợ khi phải đối diện với những bất toàn và bất lực của mình.

Con người luôn muốn mình hơn người khác, chứ chẳng chịu thua ai bao giờ, vì thua là thất bại, là bị hạ thấp, bị người ta khinh rẽ khiến mình bị mất thanh danh.

Con người thích được khen hơn là khen người khác với trọn chân tình, vì tiếng khen làm cho họ như được nhấc bổng lên trời cao, còn khen người khác thì chẳng khác nào thừa nhận sự cao cả của họ.

Con người thích xỉa xói người khác hơn là nhìn lại mình, thích nói xấu hơn là đề cao người khác, thích kết án hơn là thứ tha, và cứ mỗi khi làm điều đó, họ như có một khả năng vô biên để thực hiện, họ cũng chẳng ngại kéo thêm “đồng bọn” để cùng nói xấu người khác. Họ dễ làm sứt mẻ tương quan hơn là nỗ lực kiến tạo sự hiệp nhất.

Con người dễ thấy cái lợi trước mắt hơn là phúc đức lâu dài, nên làm gì họ cũng muốn có kết quả ngay. Họ không kiên nhẫn được, họ cho rằng nhịn là nhục, nên họ giải quyết những bốc đồng bằng bạo lực cho nhanh và cho hả dạ. Họ hành xử mà chẳng mấy khi nghĩ đến hậu quả gây ra.

Con người thích buông lỏng mình hơn là cố gắng kiềm chế bản thân, vì họ ảo tưởng cho rằng mình có tự do tuyệt đối. Họ luôn khắt khe với người khác, đòi hỏi người khác nhưng lại dễ dãi với chính mình. Họ đánh giá người ta thế này thế nọ, trong khi bản thân mình cũng vướng vào những điều ấy thì họ coi là chẳng có gì to tát.

Con người thích hướng ra bên ngoài, tìm kiếm giá trị ở nơi xa, chứ không chịu hướng vô, tìm chân lý nơi thẳm sâu tâm hồn. Bởi thế, họ thường tìm giải pháp cho những bất an nơi những quán nước, vũ trường, chứ không bình tâm lại để suy nghĩ và tìm cách giải quyết.

Con người thích hưởng thụ hơn là khổ nhọc lao tác vì lao tác thì lao lực hơn là hưởng thụ và hưởng thụ thì chẳng chịu áp lực gì cả, ngoài niềm vui sướng và cảm giác lạc hoan.

Con người muốn thể hiện mình chứ không thích ẩn mình vì ẩn mình thì có gì hay, trong khi được nhiều người biết đến và nể trọng làm họ thích thú vô cùng.

Bao giờ con người cũng tỏ ra là mình đúng chứ chẳng chịu nhận mình sai. Bởi thế, họ luôn có xu hướng thoái thác trách nhiệm hơn là can đảm nhận lãnh và hứng chịu những gì mình đã gây ra vì cơ bản, họ luôn cho là mình đúng, còn cái sai họ mắc phải thì hoặc do người khác không hiểu, hoặc do có nhân tố nào đấy bên ngoài tác động vào.

Khi gặp một khó khăn, con người thích kêu ca hơn là cố gắng đón nhận để từ từ tìm ra giải pháp, vì kêu ca thì dễ mà tìm giải pháp cho một khó khăn cũng chính là một khó khăn khác. Nhưng họ không biết rằng để có ánh sáng thì phải tìm cách thắp lên ngọn đèn, chứ không phải khóc lóc là xong.

Làm việc gì, họ cũng muốn sòng phẳng, chứ chẳng thích chịu thiệt thòi. Bao giờ, họ cũng đòi đền bù, chứ chẳng muốn cho không. Họ thấy tiếc cho những giọt mồ hôi nước mắt đã đổ ra. Cả khi làm việc từ thiện, họ cũng thầm ao ước được người ta nhìn nhận và ca khen họ.

Con người muốn người khác nhìn nhận mình chứ không thích bị thương hại vì đón nhận giúp đỡ của người khác làm cho họ có cảm giác mình ở vị thế dưới thấp. Bị thương hại cũng giống như “ăn đồ thừa” của người khác, và điều này đụng chạm đến lòng tự ái của họ. Bởi thế, có nhiều khi họ muốn tự sức làm một mình chứ không thích cậy nhờ đến ai. Họ muốn mình là ân nhân của người khác, chứ ít bao giờ mong muốn trở thành kẻ thụ ơn.

Con người luôn muốn mình được tôn trọng, chứ chẳng thích nghe lời chê bai hay coi thường, bởi khi mình được tôn trọng, sự hiện hữu của mình cũng trở nên có giá trị và những đóng góp của mình cũng được người khác nâng niu. Con người nỗ lực để làm cho danh mình được tỏa sáng, chứ không thích bị lu mờ trước người ta.

Khi có ai lầm lỗi, họ thường khiển trách hơn là cảm thông và ra tay nâng đỡ bởi họ luôn có xu hướng cho rằng mình hơn người ta, mình ở trên người ta. Hơn nữa, khiển trách làm cho họ “hưng phấn” hơn là giúp đỡ, vì khi giúp đỡ, họ phải chịu chút thiệt thòi nào đấy, mà đây cơ bản không phải là điều họ muốn.

Con người thích bè phái hơn là chính kiến cá vị, vì bè phái làm cho họ yên tâm hơn, có động lực hơn, có thế hơn, còn chính kiến lập trường có khi khiến họ phải chịu nhiều thiệt thòi, chịu cô thế cô thân một chút.

Trong mọi việc, họ luôn muốn mình độc quyền chiếm giữ, chứ không muốn người khác tham dự vào. Họ có thể là một con người rất tài năng, nhưng chẳng ai có thể làm việc chung được với họ vì họ chẳng chịu nghe ý kiến của ai. Lý do là vì, họ luôn cho rằng mình là người tài nhất, và ý kiến của mình là đúng, là tuyệt với nhất.

Hậu quả của cái khôn ngoan ấy là gì? Phải chăng là một sự bình an, một sự sung mãn, một sự triển nở nhân cách của mình? Khôn ngoan của nhân loại lấy chính cái tôi ích kỷ của mình làm trọng tâm, để thổi phồng mình lên, xây dựng chung quanh mình một mớ những ảo tưởng, rồi tự mình vui vẻ trong những tòa lâu đài bong bóng ấy như thể mình đang ở chốn Thiên Cung.

Mọi sự sẽ qua đi hết. Thời gian sẽ xóa nhòa tất cả. Được cái gì khi người khác tung hô? Có bền vững mãi không những quyền lực ta đang đó? Hôm nay, ta có thể đang ở trên đỉnh cao của danh vọng, nhưng ngày mai, biết đâu ta đã nằm sâu ở một nơi không ai biết.

Có một sự khôn ngoan khác, tuy ít được chú ý hơn, nhưng đích thực là con đường đưa về cõi hạnh phúc. Khôn ngoan này có khi bị người ta cho là ngu dại, là khùng điên. Nhưng để có thể sống được sự khôn ngoan ấy, người ta phải đưa đời sống của mình lên một mức độ thanh cao hơn. Khôn ngoan ấy là:

Không đặt mình vào vị trí trọng tâm của vụ trụ. Đừng cho rằng mình ở trên người khác. Đừng nỗ lực quy tóm về cho mình mọi danh dự và vinh quang. Nhưng hãy luôn có một thái độ biết ơn Tạo Hóa vì biết rằng tất cả những gì mình có đây đều là do Ngài ban tặng.

Đồng thời, hãy tập để biến mình nhỏ lại, đặt mình ở vị trí rốt cùng hết, lấy phục vụ làm niềm vui, lấy tình thương xoa dịu gian ác, lấy thứ tha đối đãi hận thù.

Đừng bao giờ tìm cách nắm giữ, nhưng hãy luôn mở ra, cho đi với tất cả lòng quảng đại và chân thành, bởi khi trao ban, chính là lúc ta được nhận lãnh lại lấy trăm ngàn lần. Cho đi mới giúp mang đến cho ta một nguồn vui thanh thoát, chứ không phải nắm giữ.

Không nên cố công và bất chấp mọi sự để đi tìm niềm vui nơi của cải bạc tiền, nơi danh vọng cao sang, nơi quyền lực trần thế, nhưng chỉ một lòng tìm về nguồn cội của cuộc đời là Chân-Thiện-Mỹ, biết sử dụng mọi thứ hữu hình này như phương tiện để tìm về Ngài, chứ không xem Ngài là phương tiện để tìm kiếm những điều hão huyền ấy.

Khôn ngoan nào bạn đang sống theo?


Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

(dongten.net 25.06.2015)

->Đọc thêm...

Lòng biết ơn – bí quyết được hạnh phúc


Ngay từ tấm bé, ta đã được dạy cho bài học về lòng biết ơn. Nhận thấy và bày tỏ lòng biết ơn dành cho người khác là một thái độ cần có và rất đáng trân trọng.

Một đứa trẻ không biết nói lời cảm ơn là một đứa trẻ chưa được giáo dục tốt. Lời cám ơn có một tầm quan trọng đặc biệt bởi vì nó biểu lộ cho người khác biết nhiều điều. Nó cho thấy ta là một con người trọng tình nghĩa, rằng ta nhận thấy mình đã thụ ơn người khác và lời cảm ơn là tất cả những tâm tình đơn sơ mà ta muốn diễn tả, rằng ta biết mình thuộc về một cộng đồng những con người có mối liên hệ với nhau. Khi nói lời cám ơn, ta cũng cảm thấy lòng mình mềm ra, thấy bầu khí chung quanh thật ấm áp, chan hòa. Người không có thái độ biết ơn là người tự cho mình là đủ. Người ấy tuyên bố với người khác là mình chẳng cần ai. Người ấy tự tách mình ra khỏi mọi người và mọi loài, rồi đưa mình lên cao. Thái độ này chính là ngọn nguồn của mọi bất an trong cuộc sống.


Thái độ biết ơn cho ta một niềm vui vì nó tạo cho ta cảm giác như thể mình đang nhận được một món quà. Ta phải biết ơn là vì những gì ta đang có, ta đều lãnh nhận được. Không có điều gì mà ta tự làm ra cho mình, chẳng cần đến ai, chẳng cần ai giúp, không có ai ban cho. Ngay cả sự sống mà ta đang thụ hưởng cũng là một món quà mà Tạo Hóa gửi tặng cho ta qua cha mẹ. Ta hoàn toàn không ý thức gì về mình cho đến khi ta thấy nó đã “có đây rồi”. Thân xác này, khối óc này, bàn tay này… tất cả đều là quà tặng. Thành tâm mà nói, sống giữa cuộc đời này, ta đích thực là một “con nợ”. Ta nợ rất nhiều người và cũng nợ rất nhiều thứ. Nếu ta có thể tự làm ra được điều gì đấy, thì cũng chỉ là sáng tạo lắp ráp những cái đã có sẵn, chứ có phải làm ra nó từ hư vô đâu. Một thái độ biết ơn sẽ giúp ta không rơi vào sự tự phụ, nhưng giúp ta hòa điệu với mọi loài và cho ta niềm hứng khởi cũng như niềm tin để có thể vượt qua tất cả những khó khăn trong cuộc sống.

Ta biết ơn Tạo Hóa vì Tạo Hóa là chủ tể của cuộc đời ta. Chính Tạo Hóa đã cho ta hiện hữu, đã tặng ban sự sống cho ta, và đến bây giờ, Tạo Hóa vẫn tiếp tục ngự trị trong ta và làm cho ta được sống. Tạo Hóa còn khôn khéo an bài cho cuộc sống của ta bằng bao điều tuyệt diệu khác. Khung trời xanh cho ta cảm giác thanh cao, vầng dương trao tặng ta ánh sáng, vầng nguyệt ru dịu cảm giác êm, cơn mưa gợi lên bao cảm xúc, sông suối, núi đồi như trang điểm hành trình của ta. Đặc biệt hơn, Tạo Hóa đã không đặt ta cô đơn một mình giữa dòng đời. Ngài cho ta chào đời trong và nơi một gia đình ấm áp. Tạo Hóa còn bồi đắp cho cuộc sống của ta bằng biết bao tương quan khác: bạn bè, đồng nghiệp, người yêu… Ta hệt như con cá, còn Tạo Hóa là đại dương mênh mông đang bao phủ mình. Con cá chẳng thể nào tự mình ra khỏi đại dương. Con cá sống là sống trong đại dương. Dù nó có ý thức được điều đó hay không, việc đại dương bao phủ và giúp cho con cá được sống là một sự thật không thể chối cãi. Từng dòng khí trong người ta chuyển vận, từng cơ phận trên người ta thực thi chức năng, ấy đều là nhờ tài trí khôn ngoan của Tạo Hóa. Bởi thế, chẳng khi nào ta có thể ngừng cảm ơn Tạo Hóa cho được. Một tâm tình tạ ơn Tạo Hóa sẽ mang đến cho ta một niềm an vui khôn tả, vì hơn ai hết, ta cảm thấy mình được Người yêu thương quá chừng.

Ta được sinh ra là một con người nằm trong dòng chảy của lịch sử, chịu sự chi phối của không gian và thời gian. Ta có một quê hương là đại gia đình của ta. Tính cách, giọng nói, ngôn ngữ, lối hành xử ta có… chính là gia sản quê hương để lại cho mình. Quê hương của ta có thể không trù phú nổi tiếng, nhưng đó là nơi ta chôn nhau cắt rốn, nơi thấm đẫm vào trong ta những ký ức hồn nhiên và trong sáng, nơi ta cảm thấy mình thuộc về. Ta biết ơn quê hương vì chính nơi đây mà ta được hiện diện trong trời đất. Ta là người con của xứ sở này, là thành tựu và là tinh hoa của vùng đất này.

Rồi nơi quê hương, ta có một gia đình vô cùng yêu dấu. Tình cảm gia đình là điều thiêng liêng nhất trên đời, vì từng thành viên thấy mình thuộc về nhau bằng một mối dây nối kết kỳ lạ, không sao chia cắt được. Dù có xa cách nhau, hay có nhiều điều khác biệt nhau, ta vẫn không thể nào thay đổi được một sự thật là mình có mối quan hệ ruột thịt với những con người nơi ấy. Ta có thay máu, lột da hay tẩy não cũng không thể làm cho mình trở nên một người khác hay tách mình ra khỏi mối liên hệ gia đình. Ngoài công ơn sinh thành, ta nợ cha mẹ những hy sinh để ta có được miếng cơm manh áo. Ta nợ họ những bài học làm người sơ khai. Ta nợ họ vì những vết chai sạn trên khuôn mặt, những tiếng ho khan mỗi trời tối, những giọt mồ hôi rớt trên ruộng đồng. Ta nợ họ những giọt nước mắt vì lo cho ta, nợ những đòn roi vì mong muốn ta nên người. Ta cũng nợ anh chị em vì những ấm nồng và bao kỷ niệm thời thơ ấy. Nợ anh sự che chở, nợ chị lời bảo ban, nợ em tình thương mến. Ta nợ ông bà, nợ họ hàng, vì họ cho ta một cảm giác mình được nâng đỡ. Ta nợ thầy cô từng con chữ. Ta nợ bạn bè những tiếng cười…

Đặt mình trong tất cả những mối tương quan, ta cảm thấy mình được lãnh nhận. Cái nợ mà ta có nơi đây không làm cho ta nặng nề khó thở bởi vì đó là cái nợ của ân tình. Nợ tiền nợ bạc thì kéo ta xuống một cấp độ thấp hơn, biến ta trở thành nô lệ, còn nợ ân tình thì giúp cả chủ nợ và con nợ thăng hoa. Ta nợ nhưng ta không nghèo. Trái lại, ta cảm thấy mình càng ngày càng giàu hơn, bởi dù có khi không có gì, ta vẫn thấy mình sao đầy đủ quá. Nhờ đó, ta sẽ lạc quan hơn, không trách đời sao bạc bẽo và phũ phàng, nhưng tạ ơn đời vì đã ban cho ta thật dồi dào và hào phóng. Người có thái độ biết ơn cũng giống như người nhìn vào chiếc cốc bị vơi đi chút nước thì bảo rằng: “Ồ may quá, vẫn còn nữa cốc”, khác với người vô ơn: “Trời ơi, chỉ còn nửa cốc à”. Chỉ là thái độ thôi, nhưng nó góp phần quyết định rất nhiều cho cuộc sống của ta, cho cung cách hành xử của ta với người khác. Có thể nói thế này, người có thái độ biết ơn là người luôn cảm thấy mình được ban cho thật nhiều, và họ luôn cảm thấy hạnh phúc; còn người vô ơn thì dù cho có cả thế giới, họ vẫn thấy mình sao bị đối xử bất công, rồi họ đâm ra phàn nàn và bất mãn.

Các bạn trẻ thân mến, bạn thuộc về dạng người nào?

(Pr. Lê Hoàng Nam, SJ, dongten.net 01.07.2015)
conggiao

->Đọc thêm...

NĂM TIÊU CHÍ CỦA MỘT GIA ĐÌNH CÔNG GIÁO


Cái nhìn Công giáo về đời sống gia đình được giải thích trong các tài liệu như Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội Trong Thế Giới Hôm Nay (Gaudium et Spes), Tông huấn về Gia Đình (Familiaris Consortio), và những tài liệu hậu hội thượng hội đồng khác. Nói cách khác, gia đình Công giáo có nên khác một cách nào đó với những gia đình khác không, và nếu có, nó sẽ như thế nào?

Trong câu trả lời của tôi cho cuộc khảo sát về Đại Hội ngoại thường về Gia Đình, tôi gợi lên 5 tiêu chí của một gia đình Công giáo. Tôi không cho rằng đây là một bảng gợi ý hoàn thiện. Có thể có vài thiếu sót hiển nhiên. Vấn đề là nhằm đạt tới một cuộc bàn luận đi tới một chỉ dẫn thiết thực cho đời sống gia đình Công giáo nên như thế nào (như được nói rõ bởi các tài liệu hậu thượng hội đồng liên quan về đời sống gia đình). Đây là những gợi ý khiêm tốn của tôi.

Năm tiêu chí của một gia đình Công giáo
1. Cùng nhau thờ phượng trong các gia đình Công giáo. Bí tích Thánh Thể là nguồn mạch của tình yêu và là dấu chỉ của sự mật thiết với điều mà chúng ta được mời gọi. Cho nên, như một gia đình, chúng ta tham dự thánh lễ Chúa Nhật hằng tuần (những ngày lễ và những lúc khác khi chúng ta có thể) và chúng ta tích cực tham gia đời sống của giáo xứ - gia đình thiêng liêng ngoài gia đình của mình. Chúng ta cũng nhìn nhận rằng khi làm người chúng ta phấn đấu trở nên cộng đồng yêu thương mà chúng ta được mời gọi ở trong đó. Vì vậy, như một gia đình, chúng ta thường xuyên đi xưng tội (đề nghị : hằng tháng) để tìm sự chữa lành và ân sủng của Chúa hầu chúng ta sống tốt hơn cái nhìn yêu thương của Chúa trong đời ta và gia đình ta.

2. Gia đình Công giáo cầu nguyện với nhau. Như “Hội Thánh tại gia” chúng ta nhận thấy chúng ta không thể yêu thương người khác như Chúa yêu chúng ta trừ khi chúng ta xin Chúa dạy ý nghĩa của cùng nhau chung sống. Cho nên, thêm vào đời sống cầu nguyện cá nhân, chúng ta họp nhau như vợ chồng và cũng như một gia đình để cầu nguyện hằng ngày. Lúc đó chúng ta ngợi khen và cảm tạ Chúa vì những ơn lành của Ngài. Chúng ta xin Ngài ban ân sủng để chúng ta yêu thương người khác và thế giới này tốt hơn. Chúng tìm kiếm thánh ý Ngài cho cuộc sống của chúng ta. Và chúng ta cầu nguyện cho cả nhu cầu của chúng ta cũng như của Gia Đình Thiên Chúa (Hội Thánh). Chúng ta nhận ra trong những lời của Tôi Tớ Chúa Patrick Peyton : “Gia đình cầu nguyện với nhau sẽ ở cùng nhau.”

3. Gia đình Công giáo được mời gọi bước vào sự thân mật. Tertulianô đã từng nói : “Thế gian nói rằng hãy nhìn vào những người kitô hữu đó và thấy họ yêu thương nhau như thế nào!” Cuộc đời người kitô hữu trước hết và trên hết là một lời mời gọi bước vào hiệp thông thân mật. Chúng ta nhận ra rằng gia đình là “trường học yêu thương”. Vì vậy, như một gia đình, chúng ta luôn luôn nỗ lực chính mình tìm kiếm để khám phá những cách mới hầu mở ra hơn và yêu thương người khác như vợ chồng, cha mẹ và con cái. Chúng ta nhìn nhận con cái phải là dấu chỉ hữu hình của việc đoàn kết yêu thương giữa vợ chồng. Chúng ta phải biến điều này thành hiện thực trong gia đình chúng ta. Hơn nữa, chúng ta nuôi dưỡng đời sống hôn nhân và việc làm cha làm mẹ mà mỗi thành viên trong gia đình - vợ chồng, cha mẹ và con cái – sẵn lòng mở ra đến người khác và tìm kiếm cho đi chính mình một cách nhưng không hầu tạo nên một “cộng đoàn yêu thương” sâu sắc hơn. Chúng ta luyện tập tất cả các nhân đức giúp chúng ta sống cuộc đời như một quà tặng.

4. Gia đình Công giáo đặt gia đình trên hết. Chúng ta nhìn nhận đời sống gia đình tự nó là phạm vi hoạt động quan trọng nhất bởi vì những mối quan hệ gia đình chúng ta là phương tiện đầu tiên Chúa dùng để hoàn thiện chúng ta. Để hoàn thiện sự thân mật mà chúng ta được mời gọi nuôi dưỡng như hội thánh tại gia, chúng ta nhận ra tầm quan trọng của những lối sống gia đình chuẩn mực và nên chú tâm hơn về những hoạt động ấy chẳng hạn như bữa cơm tối gia đình, cầu nguyện và thờ phượng trong gia đình, một trò chơi ban tối và/hoặc “ngày gia đình” và thời gian thích hợp để từng bước hiệp thông và xây dựng mối quan hệ. Chúng ta giữ những hoạt động này như những nghi thức thiêng liêng của hội thánh tại gia và quý trọng chúng hơn những hoạt động khác.

5. Gia đình Công giáo là chứng nhân và dấu chỉ. Chúa muốn biến đổi thế giới qua gia đình chúng ta. Chúng ta tham gia vào kế hoạch của Ngài nhằm biến đổi thế giới bằng hai cách. Trước tiên, trong mọi cách có thể nơi những mối liên hệ hằng ngày như vợ chồng, cha mẹ và con cái, bằng cách nỗ lực tỏ bày tình yêu và sự thân mật mà mọi tâm hồn con người mong muốn. Chúng ta phải tỏ bày cho thế giới thấy rằng tình yêu này là giấc mơ có thể đáng vươn tới. Thứ đến, chúng ta sẽ mang tình yêu ra ngoài gia đình bằng cách phục vụ thế giới bao la và tôn trọng sự toàn vẹn của một gia đình.

Như đã nói ở trên, đây là một bảng chưa đầy đủ. Tuy nhiên, tôi tin rằng nó hình dung cho phần nào của nỗ lực mà phải được thực hiện bởi Hội Thánh để phúc âm hóa gia đình. Tôi nghĩ người tín hữu xứng đáng với những gợi ý cụ thể và thực tế (được rút ra từ các tài liệu có liên quan) mà có thể dùng như một điểm khởi đầu hiệu quả nhằm đào sâu một cách sâu sắc hơn trong cái nhìn Công giáo về đời sống hôn nhân và gia đình.

Tác giả bài viết: Ts. Gregory Popcak
Lm. G.B. Nguyễn Kim Ngân chuyển ngữ

->Đọc thêm...

1.7.15

Một Chút Quà Cho Quê Hương - Khánh Ly - Việt Dzũng

->Đọc thêm...